ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA XÃ HỘI & NHÂN VĂN LÊ THỊ DUNG SỰ ĐỔI MỚI TRÊN BÌNH DIỆN PHONG CÁCH CỦA BỘ PHẬN THƠ TRÀO PHÚNG CHÍNH TRỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM NHỮNG THẬP NI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LÊ THỊ DUNG
SỰ ĐỔI MỚI TRÊN BÌNH DIỆN PHONG CÁCH CỦA
BỘ PHẬN THƠ TRÀO PHÚNG CHÍNH TRỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU
TIÊN CỦA THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội, 2011
Trang 2MụC LụC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi, đối tượng và mục đớch nghiờn cứu của đề tài 4
3.1 Phạm vi nghiờn cứu 4
3.2 Đối tượng nghiờn cứu 4
3.3 Phương phỏp nghiờn cứu 5
3.4 Đúng gúp của luận văn 6
3.5 Bố cục của luận văn 6
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 7
Chương 1: Tiến trỡnh vận động phỏt triển của thơ trào phỳng Việt Nam trước thế kỷ XX 7
1 Thơ trào phỳng – Sự khỏc nhau cơ bản giữa thơ trào phỳng với thơ trữ tỡnh 7
1.1 Thơ trào phỳng 7
1.2 Sự khỏc nhau cơ bản của thơ trào phỳng với thơ trữ tỡnh 12
1.2.1 Thơ trữ tỡnh: 12
1.2.2 Sự khỏc nhau cơ bản giữa thơ trào phỳng và thơ trữ tỡnh 13
2 Sự ra đời và phỏt triển của bộ phận thơ trào phỳng Việt Nam trước thế kỷ XX 14
2.1 Cỏc tiền đề phỏt triển 15
2.1.1 Tiền đề văn học 15
2.1.2 Tiền đề xó hội 18
3 Diện mạo thơ trào phỳng chớnh trị Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX 20
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT 24
1 Những đặc điểm nổi bật về kinh tế - chớnh trị - xó hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX cơ sở ra đời của mảng thơ trào phỳng giai đoạn này 24
2 Sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ XX : 29
2.1.Thơ trào phúng tr-ớc thế kỉ XX: 29
2.2.Thơ trào phúng từ những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX 31
3.Những đổi mới cụ thể trên bình diện phong cách của thơ trào phúng chính trị trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX: 34
3.1 Đề tài: Đả kích những tên bán n-ớc đến lên án quan tr-ờng, phê phán xã hội: 34
3.2.1 Đối t-ợng đả kích: 34
3.2.1.1 Tội theo Tây của các cụ lớn: 34
3.2.1.2 Các nhà khoa bảng: 39
3.2.1.3 Tội phản đảng và làm mật thám: 47
3.2.1.4 giới quan tr-ờng: 51
4 Thơ trào phúng – Công cụ đấu tranh chính trị sắc bén: 56
4.1 Bóc trần những âm m-u chính trị và sự xấu xa của xã hôị thuộc địa nửa phong kiến. 56
Trang 35 Nghệ thuật: 60
5.1.Trào phúng là đả kích bằng cái c-ời 60
5.2.Nghệ thuật chơi chữ : 61
5.3 Thủ pháp ngôn ngữ trào phúng: 63
5.3.1.Phóng đại( ngoa dụ) 63
5.3.2 Vật hoá: 64
6.Mối quan hệ giữa thơ ca trào phúng chính trị với thơ ca cách mạng: 65
6.1 Thơ ca cách mạng: 67
Ch-ơng 3 72
1 Thơ trào phúng chuẩn bị cho văn học hiện thực phê phán ra đời: 72
2 Thơ trào phúng hỗ trợ thơ ca yêu n-ớc và duy tân: 73
Phần Thứ ba: Kết luận 79
Th- mục tài liệu tham khảo 83
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ trào phỳng là một bộ phận quan trọng của thơ ca Việt Nam Bắt nguồn và kế thừa những đặc sắc từ văn học dõn gian, sỏng tạo và phỏt huy những truyền thống quý bỏu của dõn gian, bộ phận thơ ca này tạo nờn một dũng văn học riờng biệt, độc đỏo và cỏ tớnh trong nền văn học bỏc học
1.2 “Cho đến cuối thế kỷ XIX, văn chương Việt Nam, bao gồm cả văn chương bỏc học và bỡnh dõn, tồn tại trong khuụn khổ nhất định – theo những quan niệm văn học nhất định, truyền bỏ theo những cỏch nhất định, phản ỏnh cuộc sống “ngủ đờm” của nụng thụn và cung đỡnh
Sự xuất hiện của thơ ca tuyờn truyền yờu nước và duy tõn đó khuấy động khụng khớ im lỡm, phỏ vỡ khuụn khổ của văn, thơ, phỳ, lục cũ Vào những năm bản lề của hai thế kỷ XIX và XX, thơ trào phỳng phỏt triển mạnh, khụng những
số lượng mà chất lượng cũng nõng cao Cú thể núi, đến đõy (đầu thế kỷ XX), thơ trào phỳng đó phỏt triển thành một dũng riờng, cú những nhà thơ tiờu biểu và đặc biệt tài năng cú hứng thỳ viết trào phỳng
Thơ trào phỳng phỏt triển mạnh mẽ như vậy là dấu hiệu phỏ vỡ khuụn khổ của văn chương nhà nho Nú đó vượt qua giai đoạn chỉ là tiếng cười khụi hài và vặt vónh để đi vào những vấn đề cú nội dung chớnh trị, xó hội, cú ý nghĩa phờ phỏn, đấu tranh rộng hơn Tiếng cười trào phỳng đó trở thành sắc bộn, hiểm ỏc và đa dạng, cú hiệu quả phờ phỏn cao hơn
Thơ trào phỳng đầu thế kỷ XX thể hiện ở nhiều phương diện: Thay đổi đề tài, nội dung, nghệ thuật, thay đổi về quan niệm văn học, thay đổi về mối quan
hệ giữa tỏc giả và cụng chỳng dẫn đến thay đổi cả tớnh chất chung của nền văn học dõn tộc”.( GS Trần Đình H-ợu) Trong luận văn này, chúng tôi tán thành
nhận xét trên và triển khai luận văn theo hướng mụ tả, chứng minh sự đổi mới trên bình diện phong cách của thơ trào phúng chính trị trong văn học Việt Nam
ba m-ơi năm đầu thế kỉ XX mà cố giáo s- ch-a đề cập tới
Trước thế kỷ XX, trong cuộc sống im lỡm của chế độ chuyờn chế Phương Đụng, cỏi cười của người nụng dõn thường hạn chế trong những đề tài vụn vặt
Trang 5(truyện tiếu lõm thường chế giễu tớnh keo kiệt, bủn xỉn, tham lam của một tờn phỳ hào, sợ vợ, tham ăn, thốm rượu của anh tỏ điền cũng như quan huyện, thúi hống hỏch, cửa quyền của tờn tri huyện; sự ngu dốt, đểu giả của một số loại thầy: thầy búi, thầy đồ, thầy lang…) Cỏc nhà nho trung đại lại khụng coi trọng việc mụ tả sự vật khỏch quan, mà thường chỳ ý nhiều đến tõm sự của người viết, thơ chủ yếu là trữ tỡnh, tõm sự của mỡnh, viết cho mỡnh giói bày, bộc lộ tõm sự thầm kớn của mỡnh chứ khụng viết cho cụng chỳng Trước cỏi xấu, họ thường làm thơ cảm thỏn, cú chế giễu thỡ cũng chỉ núi búng, núi giú, can giỏn một cỏch giỏn tiếp, khuyờn răn nhẹ nhàng
Với quan niệm như vậy, khụng thể cú thơ trào phỳng đớch thực, bởi lẽ thơ trào phỳng là một thứ vũ khớ sắc bộn, lợi hại chĩa vào những đối tượng nằm ở
“mặt đối lập”, tức nhắm chủ yếu vào kẻ thự, nhằm phanh phui, búc trần sự thật
và tỡm sự tỏn thưởng của cụng chỳng
Sự thay đổi đầu thế kỷ khụng chỉ là sự thay đổi trong cụng chỳng Đội ngũ tỏc giả cũng đó khỏc trước, từ Nguyễn Khuyến, Tỳ Xương đến Nguyễn Thiện Kế, Kộp Trà, Phan Điện đều là những nhà nho, nhưng cũng đó cú sự khỏc nhau; trật tự mới cũng đó đủ thời gian để xỏc lập Quan trọng hơn phong trào Duy Tõn đó kờu gọi nhõn dõn học theo phương Tõy, định hướng cỏi nhỡn khắt khe, hẹp hũi, bảo thủ Sống trong phong trào Đụng Du và Đụng Kinh nghĩa thục sục sụi, những nhà thơ căm ghột thực dõn và tay sai, dự khụng hoạt động cứu nước, thỡ cũng cú cảm tỡnh, ủng hộ và hưởng ứng cũng như chịu ảnh hưởng của phong trào yờu nước
2 Lịch sử vấn đề
Đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dành tâm huyết cho mảng nghiên cứu về
thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ XX, có thể coi “ thơ văn trào phúng phát triển thành một dòng” Bắt đầu từ đầu những năm sỏu mươi của thế kỷ XX, nhiều bài
nghiờn cứu xuất hiện, đánh giá cao các sáng tác của các nhà thơ trào phúng giai
đoạn này, chẳng hạn nh-:
Trờn tạp chớ Nghiờn cứu văn học số 7/ 1960, Nguyễn Đình Chú viết bài: Nguyễn Thiện Kế một nhà thơ trào phỳng cú giỏ trị
Trang 6Trong bài báo này, Nguyễn Đình Chú chỉ ra “Nguyễn Thiện Kế là người hay nôm”, “ chính ông đã góp phần tác thành thi nghiệp của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu” Điều quan trọng nhất, là không thể phủ nhận giá trị to lớn trong thơ văn trào phúng của ông đối với nền thơ ca dân tộc và sự khác biệt rõ rệt giữa sỏng tỏc của ụng với các nhà văn “cựng trang lứa” như Nguyễn Khuyến (sớm hơn) hay Trần Tế Xương (muộn hơn).…
Đến số 10 của tờ tạp chớ cựng năm, Nguyễn Công Hoan viết bài: Một vài
ý kiến về thơ của Nguyễn Thiện Kế Trong bài viết này Nguyễn Công Hoan khẳng định hơn nữa thơ trào phúng của Nguyễn Thiện Kế, “ bài nào cũng giáng một chuỳ thật mạnh vào đầu bọn quan lại thối mọt”, và cũng là “ tay biết nhiều miếng võ, nên tuỳ từng người mà đánh từng kiểu khác nhau”
Tiếp theo, đến số 3 năm 1961, Hoàng Ngọc Phách viết bài: Góp thêm ý
kiến về thơ của Nguyễn Thiện Kế : Ngoài việc đồng tình với ông Chú, ông Hoan
nh- đã nói ở trên, ông Phách còn tiếp tục chỉ ra cả những -u, nh-ợc điểm của thơ
Nguyễn Thiện Kế đó là: Chỉ đánh vào bọn quan lại tay sai của thực dân mà không hề đánh một “ cú” nào vào sọ thực dân, bọn chủ cầm đầu và dung túng tội ác của bọn tay sai đắc lực Tất cả các bài thơ chúng ta đã đọc không có câu nào “ đánh đòn thẳng” vào đầu bọn thực dân
Muộn hơn, về sau trong Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 6: văn học thế
kỉ XIX, nhà nghiờn cứu hoàng Hữu Yên viết: Thơ Nguyễn thiện Kế là thơ hay, nhất là thơ trào phúng, đả kích táo bạo bọn quan lại cao cấp, tay sai đắc lực của thực dân Pháp
Về tỏc giả phan Điện, nhà s-u tầm, tuyển chọn và giới thiệu Thái Kim Đỉnh
viết: Phan Điện là một ông đồ Nghệ, khá điển hình: Là ng-ời có tài học nh-ng lận đận mãi chốn khoa tr-ờng Điều đó làm cho ông phẫn chí day dứt đến già: “Ở đời chỉ tức nỗi thua đời!”, là ng-ời có tâm huyết, mang trong máu truyền thống yêu nước, luôn luôn muốn giữ trọn phẩm cách, nên ở cái buổi “Tây - tàu nhố nhăng”, ông chịu không nổi : “Ngoài đau của nước Tây, Tàu chén’’, “ phú quý ngày nay một cục ngu” và vì thế mà ông điên Nhưng “ điên vì chữ nghĩa văn bài mãi say”
Trang 7Với Kép Trà - nhà thơ trào phúng xuất sắc – Trọng Văn ( nguyễn Duy
My) viết về ông với niềm cảm kích bởi cây bút cũng khỏ lừng lẫy một thời về lối thơ trào phúng, hay đả kích những kẻ quyền thế hách dịch, những tên giàu sang hợm hĩnh, làm càn, làm bậy, hại n-ớc hại dân Thơ Kộp Trà ngoài tính trào lộng sâu sắc còn rất hiện thực và thời sự
Đến Trần Đình H-ợu với bài viết Thơ trào phúng phát triển thành một
dòng, đã nhận định về sự đột phá ở ph-ơng diện phong cách cũng nh- nội dung
phản ánh của thơ trào phúng – thơ trào phúng chính trị Ông đã phân chia ranh giới và sự t-ơng tác của thơ trào phúng chính trị đối với thơ cách mạng, văn học hiện thực phê phán
Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ của mình, Trần Thị Hoa Lê đã nghiên
cứu về Thơ trào phúng Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX – nửa đầu thế kỉ XX ở
mặt diện mạo và đặc điểm Luận án cũng đã chỉ rõ có hai quan niệm phân kì lịch
sử thơ trào phúng Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX
Tuy nhiên cố giáo s- Trần Đình H-ợu và nhà nghiên cứu Trần Thị Hoa Lê đều ch-a thật sự chú ý đến sự vận động và đặc biệt là sự đột phá đổi mới
ở ph-ơng diện phong cách của thơ trào phúng chính trị trong Văn học Việt Nam những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX, đặc biệt khoảng từ 1900 đến 1930 Vì vậy luận văn của chúng tôi là nỗ lực nhằm chỉ rõ về sự đổi mới này
3 Phạm vi, đối tượng và mục đớch nghiờn cứu của đề tài
3.1 Phạm vi nghiờn cứu
Từ cỏi nhỡn tổng quỏt về quỏ trỡnh phỏt triển của thơ trào phỳng Việt Nam, đề tài tập trung nghiờn cứu mảng thơ trào phỳng chớnh trị Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, chủ yếu là 30 năm đầu thế kỷ: từ 1900 đến 1932 dừng trước ngưỡng 1932 Khi phong trào thơ mới cú mặt trờn thi đàn văn học dõn tộc
3.2 Đối tượng nghiờn cứu
- Thơ trào phỳng chớnh trị Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
- Cỏc tỏc giả: Nguyễn Thiện Kế ( 1858- 1917)
Kộp Trà ( 1873- 1928)
Trang 8Từ Diễn Đồng ( 1866- 1922) Phan Điện ( 1874- 1945)
- Các tác phẩm: - “Thơ văn Kép Trà”
- “Thơ văn Phan Điện”
- “Đại viên thập vịnh, tiểu viên tam thập vịnh”
* Phạm vi tư liệu khảo sát:
- Tuyển tập, chùm bài của các nhà thơ trào phúng chính trị Việt Nam giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX đã được giới nghiên cứu khẳng định: Nguyễn KhuyÕn,TrÇn TÕ X-¬ng, Kép Trà, Nguyễn Thiện Kế, Từ Diễn Đồng, Phan Điện,
- Tác phẩm thơ trào phúng chính trị của các tác giả giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX được đăng tải trên các báo, tạp chí ở cả 3 miền
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Do đề tài của luận văn là một vấn đề lịch sử văn học, nên phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích văn học sử gồm các phương pháp bộ phận:
- Phương pháp văn bản học: (chủ yếu là sưu tầm, phân loại)
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp theo yêu cầu của văn học sử
Trang 9- Phương phỏp thống kờ, phõn loại
- Phương phỏp liờn ngành ngụn ngữ văn học – văn húa
4 Đúng gúp của luận văn
- Sưu tầm một khối lượng thơ trào phỳng chớnh trị 30 năm đầu thế kỉ XX
- Tỡm ra đặc trưng nội dung, nghệ thuật của thơ trào phỳng 30 năm đầu thế kỉ XX
- Tạo nờn một cỏch so sỏnh cú tớnh hệ thống, tổng thể về cỏc tỏc giả trào phỳng
5 Bố cục của luận văn
- Ngoài cỏc phần mở đầu - kết luận – Tài liệu tham khảo Phần chớnh của luận văn gồm 3 chương:
Chương1: Tiến trỡnh vận động phỏt triển của thơ trào phỳng Việt Nam trước thế kỉ XX
Chương 2: Đặc điểm nội dung, nghệ thuật thơ trào phỳng chớnh trị 30 năm đầu tiờn của thế kỉ XX
Chương 3: Những thành tựu nổi bật, những đóng góp có ý nghĩa sâu sắc của bộ phận thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ XX đối với nền văn học dân tộc
Trang 10
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1: Tiến trình vận động phát triển của thơ trào phúng Việt Nam trước
kẻ thù, đánh vào tư tưởng, hành động mang bản chất thù địch với con người
Vạch mâu thuẫn của sự vật – mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cái thực chất bên trong để làm cho người đọc nhận thấy sự mỉa mai, trào lộng của sự vật
là cách làm chủ yếu trong thơ trào phúng, cho nên thơ trào phúng thường sử dụng lối nói phóng đại, so sánh, chơi chữ, dí dỏm hay lời nói mát mẻ sâu cay
(Từ điển thuật ngữ văn học tr 316)
Trào phúng là một từ gốc Hán bao gồm 2 từ tố: Trào: cười nhạo, giễu cợt; Phúng: mượn lời bóng bẩy để cảm hóa người, nói mát, nói thác một chuyện khác Trào phúng là nói ví để cười nhạo, dùng lời nói có tác dụng gây cười nhằm châm biếm, phê phán Trào phúng luôn bao hàm cả hai yếu tố đan xen trộn lẫn nhau, yếu tố tiếng cười, cái cười và yếu tố văn bản, đấu tranh chống lại tội lỗi xấu xa
Thơ trào phúng: còn gọi là thơ châm biếm, thơ đả kích, thơ nhại, thơ vui, thơ khôi hài, thơ hài hước, thơ phúng thích
Xét nghĩa gốc: Châm: cái kim khâu, kim tiêm
Biếm: chêm, đè xuống, giáng chức quan
Như thế châm biếm nguyên nghĩa ban đầu chỉ là lời nói, hành động răn điều lỗi, trị thói xấu, hoàn toàn không có yếu tố tiếng cười trong đó Ngày nay
Trang 11người Việt Nam coi châm biếm gần nghĩa như trào phúng (chữ la tinh: Satira, TiÕngViÖt có nghĩa là châm biếm, nhưng cũng có nghĩa trào phúng)
Văn học trào phúng nói chung, thơ trào phúng nói riêng, có thể coi là
“một loại hình đặc biệt của sáng tác văn học, gắn liền với phạm trù mĩ học “cái hài” với các cung bậc tiếng cười ” Cái hài – một phạm trù mĩ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười
ở những cung bậc sắc thái khác nhau Nhà văn, nhà tư tưởng Nga Secnưsépxki định nghĩa: “Cái hài là sự trống rỗng và sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một cái vỏ huênh hoang tự cho rằng có nội dung và ý nghĩa thực sự”
Cái hài gắn với cái buồn cười, nhưng không phải cái buồn cười nào cũng trở thành cái hài Mà cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mĩ cao cả Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực, và có sức công phá mạnh mẽ đối với những cái xấu xa lỗi thời Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại mang ý nghĩa khẳng định Nó phủ định cái lỗi thời xấu xa nhân danh cái cao đẹp
Cái hài là cơ sở quy định đặc trưng của xung đột nghệ thuật trong thể loại hài kịch Trong văn học nghệ thuật, tiếng cười thường có nhiều cung bËc và mang nh÷ng sắc thái khác nhau Người ta coi hài hước là cung bậc đầu tiên và châm biếm là cung bậc cuối cùng Trong hài hước có phép biện chứng của trí tưởng tượng phóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái cao quý, sau cái điªn rồ là cái anh minh, sau cái buồn cười là nỗi đau Trái lại, trong châm biếm, đối tượng của tiếng cười là thói hư tật xấu, nên nổi bật lên là giọng
đả kích, phủ định, tố cáo Tiếng cười còn mang nh÷ng sắc thái phong phú đa dạng: cười khinh bỉ, cười thiện cảm, cười nghiêm khắc, cười chua chát…
Đối với cái hài, dù ở cung bậc nào của tiếng cười cũng cần có ba yếu tố tạo thành sau đây: Một là: Bản chất mang tính hài của đối tượng mà ai cũng dễ dàng cảm nhận được Đây là yếu tố cơ bản Hai là: Sự cường điệu những đường nét, kích thước và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng Ba là: Sự sắc bén ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện nhằm làm tăng thêm hiệu quả của tiếng cười
Trang 12Bờn cạnh cỏi hài - Cỏi bi - một phạm trự mĩ học phản ỏnh hiện tượng cú tớnh quy luật của thực tế đời sống xó hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh khụng ngang sức giữa cỏi thiện và cỏi ỏc, cỏi mới và cỏi cũ, cỏi tiến bộ với cỏi phản động trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái tr-ớc Đó là
sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và sự bất tử về tinh thần bằng nỗi đau
và cái chết của nhân vật chính diện Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ phức hợp bao gồm cả nỗi xót xa, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi th-ờng
đi liền với nỗi đau và cái chết, song nỗi đau và cái chết ch-a phải là cái bi Chúng chỉ trở thành cái bi khi h-ớng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con ng-ời
Theo Secnưsộpxki, cỏi xấu là nguồn gốc của cỏi hài Thật vậy, cỏi hài trong nghệ thuật bao giờ cũng hiện ra như là “một sự phờ phỏn đặc biệt” mà chủ thể phờ phỏn luụn giương cao quan điểm thẩm mĩ cao quý, với cảm xỳc mónh liệt, tấn cụng mạnh mẽ vào cỏi đỏng bị phờ phỏn do những thuộc tớnh khỏch quan của chỳng
Cỏc lý thuyết về văn học trào phỳng nhỡn chung thống nhất trong cỏch phõn chia giọng điệu tiếng cười về cỏc cấp độ: hài hước, mỉa mai, chõm biếm và cỏi lớn là đả kớch
* Hài hước
Là một phạm trự thẫm mĩ, một dạng của cỏi hài, mang sắc thỏi cười nhạo nhẹ nhàng, nụ cười vui đựa, thiện ý trước những mõu thuẫn buồn cười vụ hại Gụgụn cho rằng: qua tiếng cười hài hước chỳng ta nhỡn thấy được những giọt nước mắt thầm lặng, nú thanh lọc tõm hồn, nhõn tớnh Vỡ vậy, tiếng cười hài hước là dấu hiệu của tài năng và tinh thần lạc quan của con người Gụgụn (1809
- 1852) và Sờđrin (1826 - 1889) hai nhà văn Nga đều chĩa mũi nhọn ngũi bỳt trào phỳng vào chế độ nụng nụ và chuyờn chế Nga, nhưng mỗi nhà văn lại được định danh khỏc nhau, một người được coi là “nhà hài hước vĩ đại nhất” (Gụgụn), người kia là “Nhà chõm biếm vĩ đại nhất” (Sờđrin), bởi vỡ hai ụng khỏc nhau trong cỏch thể hiện, mức độ tiếng cười của mỡnh Gụgụn thiờn về quan điểm lý tưởng đạo đức – cụng dõn; cũn Sờđrin bộc lộ trong tiếng cười của mỡnh về
Trang 13những suy tư chính trị, những trăn trở tìm lối thoát để triệt phá chính quyền chuyên chế địa chủ, cải tạo xã hội theo con đường dân chủ cách mạng Bên cạnh
đó “hài hước” cũng còn bao hàm giai điệu vui đùa, vô tư, mang tính giải trí, giải phóng con người khỏi khó khăn, trang nghiêm đời thường, cũng có khi con người muốn hoàn thiện mình, hoặc một cái mới nào đó vừa ra đời còn chưa mang tính hoàn chỉnh
Mỉa mai (irony) bắt nguồn từ tiếng Hy Loạp cổ Eironia – nghĩa gốc bắt
nguồn từ tên một thằng hề luôn giả vờ nói những lời ngốc nghếch trước những
kẻ thông thái, nhưng những lời ngốc nghếch đó là chân lý còn những lời của những kẻ thông thái kia lại hết sức ngốc nghếch Vì vậy “Eironia” còn mang nghĩa là giả vờ, là thái độ của một người làm ra vẻ ngốc nghếch Trong ng«n ng÷ học, “mỉa mai” là một dạng của cái hài, mà ở đó sự khôi hài ẩn nấp dưới vẻ nghiêm túc để ngầm dấu đi thái độ chê bai, giễu cợt đối với đối tượng
“Mỉa mai” là một phương thức thể hiện của cái hài trong văn học trào phúng Lối nói ngược của mỉa mai như nén sức mạnh phản đối lại để cho nó bùng lên mạnh mẽ trong ý thức người tiếp nhận, nhưng lại tạo được một bề ngoài “mát mẻ”, “dí dỏm”, “nhẹ nhàng”
Các nhà lãng mạn Đức đã nâng mỉa mai lên thành nguyên tắc sáng tác, khi họ có lý tưởng hóa các nhân vật hiện thực bất chấp trạng thái khách quan của nó để hạ thấp hiện thực đó Nhiều nhà văn hiện thực, trong đó có B.Brếch n©ng mỉa mai lên thành nguyên tắc “lạ hóa”, tạo hiệu quả mỉa mai với thực tại quen thuộc “Chủ nghĩa hiện sinh” tạo hiệu quả mỉa mai bằng cách nhìn toàn bộ tri thức chủ quan của con người dưới ý thức về sự tồn tại (TĐVH – Tr 196)
Khoa học về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật, mỉa mai còn là “phản ngữ”, “nói ngược”, là những hình thức ngôn ngữ gắn liền với tư tưởng mĩ học chân chính, coi trọng phương diện tiếng cười của đời sống Nổi bật của mỉa mai
là “giọng điệu tán dương vờ vĩnh”; “sự châm chọc cay độc”, “sự châm biếm chí tử” thành thứ vũ khí mạnh mẽ, sắc bén
Châm biếm: (Tiếng la tinh: Satura, tiếng Pháp: Satire: cười cợt) Xuất
phát điểm ban đầu dùng để đặt tên cho những tác phẩm văn học thời Cổ đại La
Trang 14Mã có đặc điểm chế nhạo, răn dạy, những truyện ngụ ngôn, tiếu lâm, hài kịch
Về sau, nói được định nghĩa là: “một dạng thức của cái hài”, “một phương thức miêu tả thực tại”, “một phương thức xây dựng mang tính ước lệ cao.” Nó khác
với hài hước, mỉa mai bởi ngay từ định nghĩa nó đã được khẳng định là: “Một dạng của văn học trào phúng” dùng lời lẽ sắc sảo, cay độc, thâm thúy để vạch
trần thực tại xấu xa của những đối tượng vµ những hoạt động này hay hoạt động khác trong xã hội Châm biếm gắn liền với tính chất xã hội như yêu nước, yêu lẽ phải, tình yêu con người Châm biếm khác với mỉa mai, hài hước ở mức đé của
sự phê ph¸n gay gắt hơn, ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nghệ thuật
“Về phương diện xã hội, phần lớn những tác phẩm châm biếm thường chĩa mũi nhọn vào kẻ thù của nhân dân, của tư tưởng tiến bộ trong lịch sử Các nhà văn, nhà thơ trào phúng thường có tài châm biếm và đã viết nhiều tác phẩm
có giá trị đã kích bọn thống trị tàn bạo, hà khắc, bọn xâm lược và bè lũ phản bội, bán nước cầu vinh…” (TĐVH – tr 54)
Về phương diện nghệ thuật: Châm biếm mang đặc điểm cơ bản là “màu sắc tiêu cực được tô đậm của khách thể thÈm mĩ” Thông qua các biện pháp: Cường điệu, phóng đại, ngoa dụ, nghịch dị…, hình tượng châm biếm có chủ đích, từ đó “kích thích và làm sống dậy cái trí nhớ về những giá trị cao (chân, thiện, mỹ)” Đặc tính nổi bật là châm biếm không khoan nhượng, đúng như
Gôgôn nói: “Cái cười hệ trọng và sâu sắc hơn người ta tưởng rÊt nhiều… cái cười đào sâu vào đối tượng, buộc nó phải bộc lộc rõ ra những gì mà nếu thiếu một sức mạnh xuyên thấm qua nó, thì nó sẽ trôi tuột đi và những điều nhỏ nhặt, trống rỗng sẽ không làm cho người ta kinh sợ” (G«g«n Toµn tËp, tập1, tr 195,
chuyển dẫn theo…)
* Thơ trào phúng: gồm các yếu tố: Thơ – trào – phúng
- Thơ: (Tiếng Pháp: Poesie) – hình thức sáng tác văn học phản ảnh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm
súc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu: Sóng Hồng viết: “thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tác phẩm mà tình cảm và lí trí kết hợp một
Trang 15cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hoạt động đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường” (TĐVH, tr.310)
Thơ thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu
là đặc trưng cơ bản của thơ, phân biệt với các thể loại tự sự như truyện, ký, tiểu thuyết, kịch…
Trào: Trào lộng, cười cợt, tiếng cười: “Một trong những cơ chế tâm lý chủ yếu tạo nên tiếng cười là mối kết hợp giữa sự mâu thuẫn cộng với sự hạ giá, giáng cấp” (TS Trần Thị Hoa Lê)
Phúng: Phúng thích, phúng dụ bằng ngụ ngôn, giáo huấn, mang tính chất đạo đức xã hội, hướng tới một đối tượng nhất định
Như vậy, “Thơ trào phúng là loại tác phẩm hợp nguyên các trạng thái hết sức trái ngược nhau, những rung động cảm xúc sáng tạo, sự phê phán và tiếng cười Các trạng thái tâm lý này hòa trộn, thẩm thấu lẫn nhau, triệt tiêu nhau tạo nên hiệu quả cataxit nghệ thuật Và như vậy, về mặt định vị thể loại, thơ trào phúng mang tích phức hợp, pha trộn nhiều loại hình, thể loại, vừa trữ tình, vừa
tự sự, vừa mang cả “chất kịch” Trong đó, tiếng cười là yếu tố cơ bản quyết định những loại hình (văn) thơ trào phúng khác nhau” (TS Trần Thị Hoa Lê)
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng: Thơ trào phúng là một dạng đặc biệt của thơ trữ tình, nghĩa là hội tụ những đặc trưng của thơ trữ tình: hình tượng, cảm xúc, giọng điệu, tâm trạng, nhân vật trữ tình, vần và nhạc điệu… song thực chất do mang yếu tố tiếng cười và nhằm mục phóng thích xã hội rõ rệt, thơ trào phúng có điểm gặp gỡ một số thể loại văn học (không vần) khác ở tính chất trí tuệ, triết lý
1.2 Sự khác nhau cơ bản của thơ trào phúng với thơ trữ tình
1.2.1 Thơ trữ tình: (Tiếng Pháp: Poésie lyrique): “Những cảm xúc và suy
tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước các hiện tượng được sống, được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của
Trang 16thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những
tư tưởng triết học” (TĐVH – tr.317)
Thơ trữ tình bộc lộ rõ thế giới nội tâm, với những cảm xúc, suy tư nỗi niềm sâu lắng từ chính tâm hồn nhà thơ Thơ trữ tình là thơ của tâm trạng, của cảm xúc, là tiếng nói của trái tim, ngoại cảnh là điểm tựa, là cái cớ để nhà thơ tự giãi bày, tự nói về mình
1.2.2 Sự khác nhau cơ bản giữa thơ trào phúng và thơ trữ tình
Như trên đã nói, thơ trào phúng có điểm gặp gỡ, giao thoa với một số thể loại văn học; Thơ trào phúng vừa là thơ trữ tình lại vừa vượt khái phạm vi thơ
trữ tình thông thường, theo tôi – cái khác biệt cơ bản trước hết là “quan niệm về đối tượng phản ánh của tác phẩm” Thơ trữ tình thuần túy coi thế giới nội tâm,
cảm xúc, tâm trạng, tiếng nói của trái tim là đối tượng phản ánh chủ yếu Còn tác giả trào phúng – thường chủ yếu nhằm vào đối tượng và chủ yếu là khái quát lên một vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh – đạo lý Cái khác biệt thứ hai: đó là quan niệm về đối tượng thưởng thức Thơ trữ tình đến với người đọc bởi những
“rung động”, “đồng cảm”, “đồng điệu” nhằm được giải bày, chia sẻ gửi gắm tâm
tư, tình cảm, cảm xúc thì đối tượng của thơ trào phúng phức tạp hơn, trước hết viết cho người “đồng minh” để cùng nhìn nhận, đánh giá, tán thưởng vào cái nhìn sắc sảo, thông minh, hóm hỉnh; mặt khác viết cho tiếng cười đối tượng chủ yếu là những kẻ “bất đồng”: từ quan niệm sống, quan niệm thẩm mĩ, chí hướng,
tư cách đạo đức, lối sống, thói quen sinh hoạt đời thường…
Thơ trào phúng trong một phạm vi hẹp, chứa đựng thái độ, quan điểm phản kháng trước những điều xấu xa – là một thứ vũ khí sắc bén, lợi hại Căn cứ trên thực tế thơ trào phúng đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong các sáng tác của Phan ĐiÖn, NguyÔn ThiÖn KÕ, KÐp Trµ, Tõ DiÔn Đång… Chúng tôi quan niệm: thơ trào phúng bao hàm nhiều cung bậc khác nhau của tiếng cười, từ tiếng cười phản kháng nhằm mục đích phóng thích chính trị xã hội cho đến tiếng cười chủ yếu mang ý nghĩa giải trÝ, giải thoát năng lượng hoặc chứng tỏ sự tự do về tinh thần,
từ tiÕng cười “đậm chất cười” đến tiếng cười pha nước mắt (nụ cười cảm thán); tiếng cười hiện rõ trên câu chữ, tiếng cười ẩn sâu đằng sau hình tượng phúng dụ,
Trang 17đến tiếng cười là thứ vũ khí lợi hại sắc bén chĩa thẳng vào kẻ thù, làm cho kẻ thù phải run sợ, kinh hãi Với định nghĩa, tính chất “trào phúng” rộng như trên,cã thÓ đưa ra các tiêu chí nhận diện cơ bản về thơ trào phúng, chúng tôi cho đó là xác đáng, trên 3 phương diện:
Thứ nhất, thơ trào phúng có ý nghĩa vui chơi, gi¶i trÝ, giải thoát con người
khỏi trạng thái trang nghiêm, quan phương thông thường
Thứ hai, tiếng cười được bộc lộ qua các kỹ thuật gây cười khác nhau, mà
trong đó nổi bật là kỹ thuật nhào nặn biến đổi một cách sáng tạo, bất ngờ mối quan hệ - tương quan tỉ lệ giữa các chất liệu lấy từ hiện thực đời sống, nói cách khác là kỹ thuật “đắp mặt nạ” cho đối tượng khiến người thưởng thức bật cười khoái trá bởi vẫn phát hiện được đối tượng “giấu” đằng sau cái “mặt nạ” méo
mó, kỳ quặc tưởng như không thể nhận ra
Thứ ba, đối với thơ trào phúng, các kỹ thuật gây cười luôn gắn liền với
các thủ pháp ngôn ngữ trào phúng như: chơi chữ, phóng đại (ngoa dụ), nói mỉa, vật hóa…
Như đã nói về mặt lý luận và mỹ học mà nói, mối quan hệ giữa “cái hài”
và “cái bi” trong tác phẩm văn học là mối quan hệ có tính chất nhân quả tạo nên giá trị nhân bản cho tác phẩm Mặt khác, xét về hoàn cảnh xã hội - văn hóa Việt Nam, khi Pháp bình định từ 1896, 1897, phong trào Cần Vương bị dập tắt, cả dân tộc bị đánh bại, uất ức nhưng không cam chịu bước một cách nhục nhã vào
xã hội hiện đại, người dân yêu nước tự hào quyết không chịu nhục làm nô lệ của
kẻ thù mới Vì vậy, tạo ra đỉnh cao trạng thái: cái cũ, cái mới lẫn lộn, không tiêu diệt lẫn nhau Trong đời thường người ta chưa thể giết nhau được thì bới móc, rña xả Tác động đó đã “phản ánh chính cái bi đã làm nền tảng cảm xúc cho cái hài, giọt nước mắt thấm sâu trong nỗi đau thất bại, mất chủ quyền dân tộc đã đúc rút lại thành tiếng cười trào phúng – vũ khí chiến đấu Cái bi – cái hài đan xen, trộn lẫn vào nhau, cái bi ẩn sâu làm thi vị, mạnh mẽ hơn cái hài trong sự thưởng thức của công chúng
2 Sự ra đời và phát triển của bộ phận thơ trào phúng Việt Nam trước thế kỷ XX
Trang 182.1 Các tiền đề phát triển
2.1.1 Tiền đề văn học
Tiếp thu ảnh hưởng của văn học dân gian (ca dao, truyện cười dân gian, truyện tiếu lâm, khôi hài…, cách diễn đạt mộc mạc, hồn nhiên, giàu trí tuệ, khái quát cao Phê phán những gì trái với quy luật cuộc sống, trái với đạo lý của nhân dân)
Thơ trào phúng Việt Nam ra đời (loại văn học thành văn – văn học viết)
từ khi chế độ phong kiến Việt Nam cơ bản đã chấm dứt vai trò lịch sử đối với lịch sử dân tộc, đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc, càng về sau càng bộc lộ
rõ bản chất xấu xa đê tiện đáng lên án của nó Từ thế kỷ XVI bắt đầu sự đi xuống, sự suy thoái của Nhà nước phong kiến chế độ phong kiến Việt Nam (từ thời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực trở đi…)
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) cây đại thụ của thơ ca dân tộc thế kỷ XVI cũng là người khởi xướng, mở đầu cho loại thơ ca trào phúng Việt Nam Những bài thơ Nôm ẩn chứa tiếng cười còn được lưu lại đầu tiên Những suy ngẫm chua chát của một nhà đạo đức kiêm triết gia về thói đời mặn nhạt Thơ ông bộc lộ rõ thái độ chính trị của nhà nho, một người trí thức có tài năng lớn, nhân cách lớn, đã từng làm quan 8 năm dưới triều nhà Mạc, nhưng đành cáo quan về bảo toàn danh tiết Thơ ông bộc lộ rõ thái độ bất hợp tác với chế độ phong kiến đương thời bằng những bài thơ vừa giàu chất triết lý, vừa giàu chất trào lộng sâu xa
“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thì hơn hết mọi lời Trước đến tay không, nào thốt hỏi Sau vµo gánh nặng , lại vui cười Anh anh chú chú, mừng hơ hải Rượu rượu chè chè, thết tả tơi Người của lấy cân ta thử nhắc Mới hay rằng của nặng hơn người”
(Thơ Nôm, bài 74)
Trang 19Tuy chưa có thể khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác thơ trào phúng theo định nghĩa nêu trên, song không thể phủ nhận yếu tố “trào” mỉa mai, kín
đáo ẩn hiện trong lối so sánh “cân” giữa “nhân nghĩa” và “vàng mười” giữa
“người” và “của” cũng như trong phương thức miêu tả hành động thái quá, vị
của cải đến mức lố bịch:
“Anh anh chú chú, mừng hơ hải
Rượu rượu chè chè, thết tả tơi”
Sang giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, trên thi đàn dân tộc xuất hiện một hiện tượng vô song của nền thi ca dân tộc, nữ sĩ Hồ Xuân Hương – Bà chúa thơ Nôm, bên cạnh đó hàng loạt các tác giả khác Ph¹m Th¸i, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát Nguyễn Quý Tân… đều khởi sắc víi tên tuổi trên thi đàn Riêng Hồ Xuân Hương được coi là tác giả đỉnh cao của thơ trào phúng trung đại cho đến giữa thế kỷ XIX với khoảng 50 bài thơ Nôm truyền tụng Thơ bà thường trào phúng các đối tượng nam quyền, cường quyền, thần quyền, hoặc hài hước trước đời sống sinh lý phản tự nhiên Đặc biệt, có thể coi đây là tác giả thơ trào phúng đầu tiên tập trung tiếng cười vào giới s- s·i, mở đầu cho những tràng cười giòn giã tiếp theo trong thơ Tú Xương, Kép Trà, Phan
§iện, Từ Diễn Đồng… khi thực tại ngày càng nảy sinh nhiều kẻ mượn danh Phật để kiếm lợi Đặc biệt hơn, ngoài giá trị nhân đạo sâu sắc, thơ bà lên tiếng bênh vực cho quyền sống, quyền hạnh phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, nhiều bài thơ của bà còn có ý nghĩa phê phán những thói đời giả dối, bịp bợm nhân cách đạo đức mọi hạng người trong xã hội, kể cả bọn vua chúa, sư s·i, trÝ thức rởm phong kiến
Giọng điệu, cách thể hiện của Xuân Hương rất gần với thơ ca dân gian ở
sự bình dị, mộc mạc nhưng sâu sắc qua những hình ảnh ẩn dụ, mang ý nghĩa biểu tượng
Bài thơ: “VÞnh cái quạt”, với việc nhấn mạnh hành vi “Chúa dấu vua yêu một cái này” phê phán thói đạo đức giả của vua, chúa phong kiến
“Đầu sư há phải gì… bà cốt” §¶ kích bọn sư sãi, giả danh vô đạo đức…
Trang 20Bờn cạnh Hồ Xuõn Hương, Nguyễn Cụng Trứ (1778 - 1858) và Cao Bỏ Quỏt (1809 - 1854) một người chuyờn thơ Nụm, một người chuyờn chữ Hỏn, vốn xưa nay khụng được coi là nhà thơ trào phỳng Song qua tỡm hiểu thơ văn
của hai ụng, đặc biệt qua tập “Thơ văn Nguyễn Cụng Trứ ” ( NXB văn học Hà Nội năm 1983), lại thấy cú tới 60 bài mang sắc thỏi trào phỳng trờn tổng số 108
bài, nội dung trào phỳng đa dạng, phong phỳ như: Tự trào: 12/60; chõm biếm
thúi đời: 16/60, giễu cợt quan niệm sống của nhà nho 20/60, cười cợt tạo húa
5/60, chơi chữ hài hước: 5/60….( TS Trần Thị Hoa Lê) Qua khảo sỏt trờn ta
thấy Nguyễn Cụng Trứ đặc biệt hứng thỳ trong việc trào phỳng “thúi đời đen bạc” cũng như thế lực đồng tiền và đặc biệt quan niệm sống bú buộc của nhà nho Bài hát nói “ Vịnh đồng tiền” có thể coi là tiêu biểu cho phong cách trào
phúng Nguyễn Công Trứ bởi giọng điệu hài h-ớc phóng túng, lại cũng rất mỉa mai rát mặt
Hôi tanh chẳng thú vị gì
Thế mà ai cũng kẻ vì ng-ời yêu Tạo vật bất thị vô để sự
Bòn chài ra một thứ quấy chơi
Đủ vuông, tròn, t-ợng đất, t-ợng trời Khẳm hoạ, phúc, yên nguy, tử hoạt
Trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát cũng có tới 32 bài trào phúng với tổng
số 156 bài, bao gồm nhiều nội dung trào phúng nh- : tự trào 17/32, châm biếm chính trị 8/32, nhìn đời ngạo nghễ 4/32 , con mắt hài hước 5/32 … Ngoài ra còn
Nghè Tân (Nguyễn Quý Tân 1811- 1856) với tác phẩm : “ Tuý tiên thi tập” ch-a
đ-ợc s-u tầm, hiện còn l-u lại một số bài thơ Nôm trào phúng đ-ợc giáo s- Vũ
Ngọc Khánh sưu tầm và in trong tập “ Thơ văn trào phúng Việt Nam”
Nhìn chung, văn học giai đoạn này càng ngày càng thiên về ý phúng thích xã hội, c-ời nhạo những sự trớ trêu của ng-ời đời, của cuộc m-u sinh hoặc của nền chính trị suy thoái Nghệ thuật trào phúng nghiêng về tiếng c-ời hài h-ớc mỉa mai, lối nói bóng gió, ch-a đến mức châm biếm trực tiếp gay gắt Giọng điệu mạnh mẽ và táo bạo có ở hai tác giả Hồ Xuân H-ơng và Nguyễn
Trang 21Công Trứ Cũng có thể do quan niệm văn ch-ơng nhà nho coi trọng tính trữ tình,
điển nhã của thơ ca Thơ trào phúng trung đại Việt Nam xuất hiện muộn màng, phát triển chậm chạp, không có ảnh h-ởng sâu rộng trong công chúng nh- thơ ca trào phúng dân gian Song không thể phủ nhận gía trị của những nét c-ời phảng phất đây đó đã ẩn hiện trong thơ chữ Hán và chữ Nôm các thế kỉ XIV, XVI … và tiếng c-ời rõ nét từ thế kỉ XVIII làm nên tiền đề thiết yếu cho dòng thơ trào phúng phát triển lớn mạnh, đạt thành tựu rực rỡ khi xuất hiện những yếu tố xã hội đặc biệt vào nửa sau thế kỉ XX
2.1.2 Tiền đề xó hội
Cuối thế kỷ XIX, tỡnh hỡnh xó hội cú ý nghĩa biến đổi căn bản, từ nhiều gúc độ: Kinh tế, chớnh trị, văn húa cũng như tớn ngưỡng Nú gắn liền với những bước thăng trầm của triều đại phong kiến Việt Nam cuối cựng; Thực dõn Phỏp xõm lược nước ta, triều đỡnh nhà Nguyễn từng bước đầu hàng, bỏn nước làm tay sai cho thực dõn Phỏp, những biến động õm ỉ trong lũng đất nước trờn con đường chuyển từ chế độ trung đại Phương Đụng sang hỡnh thỏi xó hội chịu sức
ộp chớnh trị và ảnh hưởng của văn húa Phương Tõy Xó hội Việt Nam từng bước
tư sản húa, quỏ trỡnh đụ thị húa phỏt triển, hỡnh thành cỏc đụ thị dẫn đến sự ra đời của nhiều tầng lớp xó hội trong đú cú trớ thức tư sản, tiểu tư sản
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, cỏc nhà nho thất thế, cũng như cỏc nhà nho gặp thời, cựng với toàn xó hội đó lần đầu tiờn tiếp xỳc với một luồng giú mới theo chõn người Phỏp đến luồng giú vừa văn minh, vừa cặn bó “Văn minh”
du nhập qua con đường “Tõn thơ”, cũn “Cặn bó” chớnh là hậu quả của chớnh sỏch khai thỏc thuộc địa ngày càng tàn khốc, dó man của chế độ thực dõn Cỏc tầng lớp mới với đời sống đụ thị húa cũng hoàn toàn mới lạ, đương nhiờn nảy sinh những tõm lý xó hội khỏc trước, lối sống, thúi quen, quan niệm cũng khỏc trước, khụng phự hợp với truyền thống Xó hội Việt Nam trải qua một cuộc đổi thay tận gốc rễ và khụng thuận chiều Cỏc nhà nho từng thể nghiệm trớ lực của
đất nước trước nạn đụng độ “tàu thiếc, tàu đồng, sỳng nổ” nay lại chứng kiến
nền Hỏn học cổ truyền bị ộp chết với lối ch-ớng tai gai mắt phụ bày một cỏch lố lăng, kệch cỡm Đặc biệt, việc chớnh quyền mới chấm dứt việc thi chữ Hỏn ở
Trang 22Bắc Kỳ vào năm 1915 và ở Trung Kỳ 1919 đã đặt tầng lớp nhà nho trước tình trạng “cáo chung” Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo chưa vì thế mà chấm dứt ngay, bởi cả thế hệ nhà nho còn sống đến mấy thập niên sau đó của thế kỷ XX Bên cạnh đó, tư tưởng Tây học đã hình thành và chiếm ưu thế trong xã hội Mâu thuẫn bùng phát ở nhiều phương diện: ở tầng lớp cũ – mới, giữa các luồng tư
tưởng, nền văn hóa Những hiện tượng “dựa gió bẻ măng”, “đục nước, béo cò”,
nhố nhăng, điên đảo, mất đạo lý, tình người… Tất cả khiến nhà nho bất bình, tìm đến vũ khí duy nhất còn lại trong tay họ là tiếng cười Tiếng cười bật lên nhằm từ chối thực tế phũ phàng, chối bỏ thực trạng bế tắc, tự trấn an tinh thần, chống lại việc đồng hóa - mua chuộc của các thế lực đến từ hoặc theo chân Phương Tây, cứu vớt truyền thống
Cơ cấu giai tầng phân hóa, cũ mới đan xen, xáo trộn, dẫn đến sự biến đổi trong nhân sinh quan, quan niệm sáng tác và đội ngũ tác giả cũng như độc giả thay đổi cả về số lượng và chất lượng
Trên đây là những tiền đề xã hội - văn hóa ở bề sâu tư tưởng làm nở rộ tiếng cười cña thơ trào phúng chính trị đầu thế kỷ XX Cũng còn phải kể đến một số điều kiện xã hội cụ thể ở phương diện hình thức Ảnh hưởng to lớn, đáng
kể đó là thành tựu báo chí những năm đầu của thế kỷ XX Một loạt các tòa soạn
báo, tạp chí xuất hiện nối tiếp từ Nam ra Bắc Trung Kỳ có “Tiếng dân”, Bắc kỳ phong phú hơn cả với các báo Đại Nam (Đăng cổ tùng báo); Ngày nay, Phong Hóa, Tiểu thuyết thứ bảy, Đông Pháp thời báo, các tạp chí Đông Dương, Nam Phong, An Nam, Tri Tân, Thanh Nghị… Mục đích chính trị cũng như giá trị ảnh
hưởng của các báo và tạp chí có thể khác nhau, song tất cả có điểm chung là thực hiện vai trò “kết nối” giữa thơ ca trào phúng với độc giả, vai trò “tuyên
truyền cổ động” này ở các thế kỷ trước ch-a có “Nam Phong T¹p ChÝ” là cơ
quan xuất bản đầu tiên phát hành rộng rãi trong công chúng những tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương, mà trước đó mới chỉ lưu hành quanh hai vùng Yên §æ, Vị Xuyên Rồi liên tiếp suốt 30 số tạp chí trong vòng 14 năm
(1918 - 1932) trên mục Văn uyển, Nam Phong đã giới thiệu cho chúng ta khoảng
120 tác giả với hơn 400 bài thơ trào phúng
Trang 23Nói tóm lại, ở phương diện xã hội – văn hóa, đây là thời kỳ tập trung nhiều mâu thuẫn, các mâu thuẫn đều lên tới đỉnh điểm mà chưa có hướng giải quyết tạo nên những nghịch lý trên nhiều phương diện của đời sèng chính trị, văn hóa, xã hội Tiếng cười châm biếm cất lên từ giới trí thức cho đến giới bình dân trở thành một thứ vũ khí đắc lực, phương thuốc hữu hiệu chống lại cái ác, cái xấu
3 Diện mạo thơ trào phúng chính trị Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
Việc thực dân Pháp xâm lược, chiếm nước ta, áp đặt chế độ thống trị thực dân, uy hiếp vận mệnh đất nước và đời sống nhân dân, tác động sâu sắc đến mọi tầng lớp xã hội và do đó gây một chuyển biến quan trọng trong văn học nước ta
từ 1858 Đất nước từ độc lập trë thành nô lệ, từ thời bình sang thời chiến Điều
đó thấy rõ trong cả văn học thành văn, văn học dân gian
Bàn về lịch sử văn học, theo PGS.TS Trần Ngọc Vương là: “Vạch ra sự vận động, sự chuyển biến, sự phát triển của một đối tượng là văn học; bàn về văn học thì phải căn cứ vào tác phẩm, vào đời sống văn học, liên quan đến nó là tác giả, là thể loại, là nội dung, hình thức, là thị hiếu công chúng, là môi trường…”
Bên cạnh văn học yêu nước quan hệ trực tiếp với cuộc đấu tranh dân tộc, với đời sống chính trị, xã hội nên ta dễ thấy 3 chặng đường của lịch sử đấu tranh cho độc lập dân tộc
- Văn học yêu nước của v¨n thân Cần Vương
- Văn học yêu nước cña các chí sĩ Duy Tân
- Văn học yêu nước chịu ảnh hưởng tư tưởng Cộng sản và Đảng cộng sản thì văn học trào phúng ra đời cùng các tên tuổi chói loà trang văn học như: Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế (1858- 191), Kép Trà (1873- 1928), Phan Điện (1874-1945), Tõ DiÔn Đồng (1866- 1922) cũng là hiện tượng mới Thơ trào phúng hình thành chậm hơn, vào cuối thế kỷ XIX, chỉ phát triển thành một dòng vào đầu thế kỷ XX, ở miền Nam có thể kể thêm Cử Trị,Nhiêu Tâm, Học Lạc, … mà đặc điểm sáng tác có khác với những Tú Mỡ, Đồ Phồn …sau này
Trang 24Xuất hiện trờn thi đàn văn học dõn tộc, với khụng ớt cỏc tờn tuổi lớn, thơ trào phỳng chớnh trị cú một vị thế đặc biệt trong lũng cụng chỳng; bởi nú thay
lời cho những người cú “tõm - đạo” (GS Trần Đỡnh H-ợu) để đả phỏ những gỡ
bị coi là “dơ dỏng dại hỡnh”, đó giỏng những đũn chớ mạng, mạnh mẽ đến đối tượng đả kớch
Tỳ Xương chế giễu:
“Khăn là bỏc nọ to tày rế Vỏy lĩnh cụ kia quột sạch hè
Cụng đức tu hành sự cú lọng
Xu hào rủng rỉnh mỏn ngồi xe”
Cỏi lố lăng, hợm của, trỏi tụn ti trật tự ấy trụng chướng tai gai mắt, gõy ra bất bỡnh phản ứng khụng phải cho riờng ai mà cho cả xó hội vốn tụn trọng tục lệ, tụn trọng lễ giỏo, phận vị trờn dưới Nhưng về sau khi quyền của “kẻ cú của” được thừa nhận, sự hưởng thụ thỳ vui vật chất được coi là quyền lợi tự nhiờn - lễ giỏo tục lệ lựi bước - thỡ cỏi ngon, cỏi đẹp, cỏi tiện lợi, cỏi hào nhoỏng trở thành
cú sức hấp dẫn Người ta khụng chờ việc: “… làm ụng Phỏn” để có đ-ợc “tối rượu sõm banh, sỏng sữa bũ” nữa mà giờ đõy thành phố là nơi:
“Nhà ngúi bỏt ỳp đường bàn cờ Đốn điện sao sa, nước mỏy dội”
Tất cả cỏi xó hội nhố nhăng, nhặng xị ấy, được đưa vào cỏc trang viết của Nguyễn Thiện Kế, Kộp Trà, Phan Điện, Từ Diễn Đồng… trở thành thứ vũ khớ để tiếp tục chinh phục ng-ời đọc và góp sức giải phúng dõn tộc
Phần lớn cỏc tỏc giả trào phỳng thuộc giai đoạn đú là những nhà nho, nhà khoa bảng:
Nguyễn Khuyến: Đậu Hoàng Giỏp, tam nguyờn năm 1871, làm quan trải cỏc chức Đốc học, ăn sỏt, Bố chỏnh, Toàn tu sử quỏn, cỏo quan về làng ở ẩn
Tỳ Xương: Đi thi 8 lần, đỗ tỳ tài một lần dạy học ở nhà
Kộp Trà: (Hoàng Thụy Phương), đỗ tỳ tài hai lần, dạy học và bốc thuốc Phan Điện: Hỏng liền mấy khoa thi, dạy học chủ yếu ở Hà Đụng (quờ gốc Đức Thọ - Hà Tĩnh)
Trang 25Nguyễn Thiện Kế: Đậu cử nhân năm 1888, từng làm quan tri huyện, tri phủ, huấn đạo, bị cách chức mấy lần vì khinh thường quan trên
Sáng tác của các ông chủ yếu bằng truyền khẩu, sau đó được người thân hoặc đời sau sưu tầm, giới thiệu bằng chữ quốc ngữ
Dù sáng tác bằng Nôm hoặc qua truyền khẩu, sự xuất hiện của thơ trào phúng chính trị đầu thế kỷ XX một khi đã “văn bản hóa”, thì chủ yếu đều ở dưới dạng chữ quốc ngữ (được in ấn trên các tạp chí, sách, báo), sáng tác bằng chữ Hán cũng dần được giới thiệu và dịch ra chữ quốc ngữ
Một bộ phận các tác giả được xếp vào phong cách “Nho lì” (TS Trần Thị Hoa Lê), đó là nhóm tác giả học mà không hoặc ít thành đạt trên con đường công danh, hoạn lộ, phong cách thiên về sử dụng tiếng cười dân gian, giọng điệu chủ yếu là mỉa mai, châm biếm, ngôn từ sắc nhọn gay gắt, chØ trích trực tiếp vào đối tượng Các tác giả phần lớn sinh khoảng nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
* Tiểu kết chương 1
Xét đặc điểm thể loại cũng như quá trình vận động, thơ trào phúng là một khuynh hướng văn học phức tạp, nhưng lại là một dạng đặc biệt của thơ trữ tình – bên cạnh đó lại khác thơ trữ tình ở sự đan xen, pha trộn, tổng hợp nhiều yếu tố: Cảm xúc, tâm trạng (thơ) tư duy phân tích duy lý, kỹ thuật gây cười bằng hình tượng, nhân vật (trào) và thái độ khuyên răn, phê phán (phúng) Trong đó, yếu tố tiếng cười đóng vai trò cơ bản để phân biệt thơ trào phúng với thơ trữ tình thuần túy
Thời kỳ văn học trung đại Việt Nam chưa có khái niệm thơ trào phúng, nhưng thơ chữ H¸n thấp tho¸ng nét cười giải trí, trào từ cuối thế kỷ XIII đầu thế
kỷ XIV tiếng cười phê phán nhântình thế thái đã có trong thơ Nôm thế kỷ XVI
và bùng lên, khởi sắc từ thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX
Kế thừa truyền thống thơ ca trung đại mang yếu tố “trào” tiếp thu tinh hoa phong phú của văn học dân gian, vận động trên cơ sở xã hội kinh tế đặc thù của thời đại, thơ trào phúng đã phát triển “thành một dòng” với đội ngũ tác giả đông đảo, phong cách đa dạng, số lượng tác phẩm đạt kỷ lục so với truyền thống
Trang 26Trong đó nổi trội một số cây bút trào phúng – trào phúng chính trị xuất sắc của thời đại, ngoài Tú Xương, Nguyễn Khuyến ra phải nói đến Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà, Tõ DiÔn Đång, Phan Điện
Trang 27Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT THƠ TRÀO PHÚNG CHÍNH TRỊ 30 NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẾ KỶ XX
1 Những đặc điểm nổi bật về kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX cơ sở ra đời của mảng thơ trào phúng giai đoạn này
Thực dân Pháp đã làm xong công cuộc “bình định”, đánh dẹp các phong trào yêu nước chống Pháp (cuối thế kỷ XIX) và bắt đầu công cuộc làm tay sai cho thực dân Pháp Vua quan, mà phần lớn là những bậc sĩ phu nhanh chóng biết tìm cách ngoan ngoãn đua nhau tá lòng tận tụy trung thành để cầu xin ân huệ Họ bị tước hết mọi quyền hành thực tế Chỉ cần học mấy tiếng Tây “vâng
dạ”, “xin lỗi”, “cám ơn” là đủ làm được việc Nhưng “hai ChÝnh phñ, được tổ chức theo lối hiện đại, chặt chẽ hơn, có quyền lực hơn, chi phối sâu và toàn diện mọi hoạt động phá dần cái thế tự trị của làng xã ngày trước”
Để tuyên truyền hòa bình chiến thắng, cho văn minh nước Pháp, ngay từ năm 1886 Paul Bee đã bày tÊn tuồng Hội đồng tư vấn, lắp cho nước bị xâm lược một mặt nạ dân chủ, lập Viện Hàn lâm Bắc Kỳ, quét cho nó một nước sơn hòa bình bảo vệ và phát triển văn hóa Đến đầu thế kỷ XX, cuộc bình định đã thành công, chúng tổ chức hội chợ thuộc địa, xây dựng một số công trình lớn trang sức cho cảnh thái bình: Nhà hát lớn, Trường Đại học, cầu Long Biên, cầu Tràng Tiền… Ngoài ý nghĩa thực tế là ý nghĩa lừa gạt, uy hiếp về chính trị Cái vẻ đồ
sộ, bề thế sừng sững của cái công trình đó vừa tuyên truyền cho sự tài tình của
kỹ thuật Pháp vừa phô trương sự cượng thịnh của nước Pháp, đe dọa tinh thần người dân bản xứ đã mất nước mà không chịu khuất phục Nhưng cái mà thực dân Pháp để tâm nhất, nóng ruột nhất là khai thác xứ Đông Dương giàu có để bóc lộ, vơ vét về kinh tế
Kết quả của chính sách đó là nền kinh tế tự nhiên cổ xưa bị phân giải, sự lưu thông hàng hóa phát triển, tỉ trọng kinh tế tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, nước
ta bị dày xéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản nhưng không được công nghiệp hóa
mà lại biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp Lợi nhuận vào túi tư bản còn nhân dân ta bị bần cùng hóa, phá sản và trở thành nguồn nhân công đông đảo, rẻ mạt cho các h·ng
Trang 28buôn bán, các chủ thầu, chủ đồn điền của thực dân Pháp và quan lại tay sai Chế
độ thực dân nửa phong kiến hình thành, tiếp tục kìm hãm sự phát triển của nước
ta Việc mở mang giao thông buôn bán, phát triển kinh tế hàng hóa tạo ra một thị trường thống nhất từ Bắc chí Nam
Sự phát triển buôn bán và giao thông như thế làm mọc lên nhiều thành thị
tư bản chủ nghĩa Các hải cảng như Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng được xây dựng, các khu công nghiệp mới như Nam Định, Vinh mọc ra Sự xuất hiện thị trường đông đúc đóng vai trò trung tâm kinh tế, sự tiếp xúc với phương Tây là những nhân tố rất mới Tuy bị chính sách phản động của thực dân kìm hãm, nhưng nguyên tố đó khách quan ngoài ý muốn của thực dân vẫn gây tác dụng tích cực đến sự phát triển của nước ta
Xã hội ta, trước khi thực dân Pháp sang là một xã hội phong kiến phương Đông Trong xã hội đó con người sống gắn bó với làng xóm Họ hàng nội ngoại không những gắn bó với nhau bằng tình máu mủ mà bằng cả một tổ chức có thứ bậc chặt chẽ, bằng cả đạo lý có tính chất tôn giáo Tình máu mủ được cñng cố b»ng những cơ sở vật chất, những nghi lễ, tập tục tạo thành những quan hệ ràng buộc, những trách nhiệm tinh thần, ®oµn kết, bà con họ hàng thành một đơn vị
che chở, đùm bọc lấy nhau theo tinh thần “chết cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”, “một giọt máu đào hơn ao nước lã” Họ hàng hầu như thành đơn vị của lµng xã Làng
xã có tính chất tự trị là đơn vị về kinh tế hành chính của chính quyền Trung ương, chính quyền Trung ương tập trung chuyên chế, dựa vào bộ máy quan liêu và quân
sự để duy trì sự thống trị, bắt thần dân theo đơn vị làng xã nộp thuế và đi phu
Chính quyền thuéc về một dòng họ triều đình, quan lại là thân thuộc, tôi
tớ của dòng họ cầm quyền Vua quan và họ hàng của họ trở thành một tầng lớp quý tộc có đặc quyền, chia nhau hưởng số tô thuế và các quyền lợi chính trị tinh thần khác được phân phối theo thứ bậc thân, sơ, trên, dưới Cả hệ thống đó - về mặt Nhà nước là chính quyền, về mặt xã hội là đẳng cấp, về mặt huyết thống là
họ hàng - thống trị “tứ dân” Bốn tầng lớp nh©n d©n: sĩ, nông, công, thương mà
quan trọng nhất về số lượng cũng như về vai trò kinh tế là nông dân, cách này hay cách khác đều bị khinh rẻ, đều bị áp bức, đều bị bóc lột Đó là những tầng
Trang 29lớp bị trị Sĩ - nhà nho có thể coi như là một đẳng cấp đặc biệt Họ tự nhận và
được xã hội thừa nhận là kẻ: “cầm chính đạo”, “truyền bá”, “giáo hóa” của triều
đình cho nhân dân, trong một nước tôn giáo không có giáo hội, không có nhà thờ, không có tầng lớp giáo sĩ có đặc quyền - Phật giáo và §ạo giáo chỉ có các chùa quán mang tính chất địa phương có ảnh hưởng từng vùng và không gắn một cách hợp pháp với chính quyền - nhà nho trong đời sống tinh thần của nhân dân, có trách nhiệm “chăn dắt” như người giáo sĩ Nhà nho đỗ đạt rồi làm quan
và nếu như bất đắc chí không làm quan thì cũng được hưởng những đặc quyền kinh tế và tinh thần, trở thành thân hào Sĩ - là tầng lớp không có những đặc quyền nhưng không thuộc nhân dân lao động Nó là một đẳng cấp xã hội đặc biệt trong tứ dân
Thực dân Pháp sang nước ta, thì đầu tiên là phải có những người bản xứ làm môi giới kiếm giúp chúng thức ăn, vật dụng, giúp chúng giao thiệp, buôn bán, giúp việc cho các hãng buôn, làm công chức cho bộ máy cai trị Những con buôn chạy việc, cung cÊp thức ăn, vật dụng cho các trại lính, chạy việc mua hàng bán hàng, thông ngôn, kÝ lục giúp việc giao thiệp, giấy tờ là những nhân vật đầu tiên, rồi đến các me tây, các ông thầu khoán, những người học trò các trường thông ngôn, hậu bổ, những kẻ:
“Tham đồng bạc trắng con cò
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang sa”
tập hợp đông đúc quanh quân xâm lược nước ngoài, là lớp thị dân đầu tiên của thµnh phè nhượng địa
Kinh tế hàng hóa kích thích sự phát triển của công thương nghiệp, làm cho thành thị phát triển, làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới, nghề nghiệp mới, thành thị thu hút ngày càng nhiều những người dân chạy loạn, những người nông dân phá sản và cả những người bỏ nông thôn ra thành thị mong kiếm ăn dễ dàng hơn
Chính sách kinh tế của thực dân tuy có kích thích nhưng chủ yếu là kìm hãm công nghiệp phát triển Sự xơ xác của làng xóm, sự phá sản của nông nghiệp, sự xuất hiện các thành thị đổi chiều hướng lưu tán của người nông
Trang 30dân… Một tầng lớp tiểu tư sản dân nghèo đông đảo, phình to ra mãi, một cách sống bấp bênh ở thành thị, cùng nguồn và không dứt được dây mơ rễ má với dân nghèo ở nông thôn, sống bữa đực bữa cái, không ngớt mùa đi tha phương kiếm việc làm ăn
Đó là những nét biến động cơ bản của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Sự đổi thay trong thực tế xã hội phản ánh vào văn học, kéo theo sự đổi thay trong văn học Trước thế kỷ XX trong lịch sử văn học nước ta có hai dòng
rõ rệt: Bác học và bình dân Mọi dòng đều có người sáng tác, cùng chung đề tài, đời sống, phương thức truyền bá riêng, đều được sáng tác theo những quan niệm văn học, những lý tưởng thẫm mĩ riêng, và theo những thể loại nhất định
Sự đổi thay bắt đầu với việc đổi thay vị trí của cung đình và nông thôn so với thành thị tư bản chủ nghĩa, của nhà nho và người nông dân – những nhân vật nông thôn – so với người thị dân
“Chiếc lương tây” hậu hĩnh đang lôi cuốn đám thanh thiếu niên đến các trường Pháp – Việt Các trường học chữ Nho xưa kia tấp nập đến cả nơi thôn cùng, xóm vắng thì nay là cảnh tàn tạ của buổi vãn chiều:
“Đạo học ngày nay đã chán rồi Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim gật Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi”
(Tú Xương) Trong cảnh loạn li không ai còn nghĩ đến chuyện lËp thi xã Bè bạn thân thích cũng ngại gặp nhau Quan hệ thầy trò, bạn bè không còn chặt chẽ như trước Nhà nho, người đại biểu tinh thần của xã hội trước đây, trải qua một sự đảo lộn về số phận Ở nông thôn dưới cặp mắt thiếu thiện cảm của thực dân, nhà nho – thân sĩ hay nho sĩ – đã nép mình, nhường chỗ cho những người chức sắc mới Tiếng nói của họ không còn được coi trọng và họ cũng biết thân phận, không dám nói nhiều Văn học bác học, chung số phận với người sản sinh ra nó, mất cả sinh khí và đất sống, không có điều kiện phát triển ngày càng tàn lụi (TuyÓn tËp TrÇn §×nh H-îu)
Trang 31Ở các thành thÞ ngày càng đông đảo những con người mới, sống hoàn toàn khác trước, có nhu cầu văn học hoàn toàn khác trước Ở đây, người công chức sau giờ làm việc ở công sở, về nhà rỗi rải, cần đọc báo, đọc tiểu thuyết, đi xem hát… Những nhà kinh doanh cần biết tin tức, cần tiêu khiển Những cô gái ngồi trông cửa hàng, những cậu bồi, anh xe ngồi chờ chủ, những cô sen ngồi chờ lấy nước bên giếng máy, cần xem truyện Người ta đòi hỏi biết nhiều truyện có tình tiết cụ thể, hấp dẫn, ly kỳ, gây xúc động Người ta cần phải giải trí, cần cười, cần mơ màng Ở đây không có những buổi hát hò dưới trăng và thứ văn nghệ thôn dã ấy cũng không thỏa mãn được thị hiếu, thị dân của họ nữa Lớp công chúng mới ra đời đó đòi hỏi một nền văn học thị dân
Không phải văn học thị dân đã có thể lấn át ngay văn học nông thôn Nhà nho vẫn tự hµo về thơ phú, chữ nghĩa, đạo thánh hiền, vẫn làm thơ, làm phú đọc cho nhau nghe Nhiều vị khoa bảng có tiếng tăm, quan lại cao cấp được thực dân khuyến khích tổ chức những buổi xướng ho¹, thi thơ lớn Nhiều người công bố
cả sáng tác lên báo chí Nam triều vẫn tồn tại, vẫn có những ông quan ngồi viết chiếu, biểu Người ta vẫn nhai lại thứ văn chương giáo huÊn vÒ vua t«i th¸nh hiÒn, đạo lý cương thường… nhưng không còn ai thích thứ văn chương dối trá, trơ trẽn viết chỉ để tiêu sầu và kiếm cơm ấy Những nhà nho yêu nước, trong sạch dùng văn thơ để nói khí tiết bất khuất, để vạch mặt bọn phản bội, ca tụng những người anh hïng hy sinh, cũng có thể để cười cợt những cái trái tai, gai mắt, xấu xa, bỉ ổi của cái xã hội nhố nhăng
Văn học thành thị thay cho văn học nông thôn, người trí thức tân học thay cho nhà nho làm chủ văn đàn Nhưng sự thay đổi đó xảy ra không giống như sự thay đổi trong quân sự, chính trị: Đấu tranh, tiêu diệt, thay thế mà trải qua một cuộc cạnh tranh âm thầm, lặng lẽ, chuyển hóa dần Văn học cũ cách tân, thích ứng với công chúng mới nhưng bất lực, dừng lại, héo mòn dần Văn học mới ra đời, dựa vào sự phát triển nhanh chóng của thành thị, vào sự tích lũy tri thức văn học cũ vào một góc trong từng người, trên tờ báo, trong cả xã hội, cho đến lúc nó mờ nhạt dần.(TuyÓn tËp TrÇn §×nh H-îu)
Trang 32Ở giữa dũng văn học bỏc học – văn học dõn gian: Văn học trào phỳng – thơ trào phỳng chớnh trị đầu thế kỷ XX xuất hiện một cỏch kịp thời trờn thi đàn, đụng đỳc về số lượng tỏc giả, khổng lồ về khối lượng tỏc phẩm Một cỏi nhỡn hiện thực đối với xó hội, một tư tưởng nhõn đạo đối với cảnh bất cụng, đối với những người khổ cực, lờn ỏn bọn bỏn nước, bọn cướp nước, bọn vua quan bự nhỡn can tõm làm tay sai cho giặc Nú khụng đi vào xu hướng chống lại sự gũ bú của lễ giỏo mà đi vào hướng chống lại sự xõm lược, búc lột Thơ trào phỳng chớnh trị chế giễu, nguyền rủa bọn thống trị mới và bọn theo đóm ăn tàn từ hương lý, quan lại cỏc cấp huyện, tỉnh đến bọn đại thần, phỏt triển làm dấu nối giữa hai dũng văn học yờu nước và dõn gian, thay cho vai trũ cỏc truyện Nụm tài
tử của văn học bỏc học và văn học bỡnh dõn trước đõy “Nú nối liền tiếng rờn xiết uất ức, lời tố cỏo căm phẫn của nhõn dõn lao động với lời thương cảm đạo
lý, với lời kờu gọi cứu nước của nhà nho Nú nối cỏi kể lể của vố tự sự với cỏch giỏo huấn đạo nghĩa của văn chương bỏc học Nú cũng đi dần đến thống nhất với văn học yờu nước và tiờn đề cho văn học hiện thực phờ phỏn ra đời”
(PGS.TS Trần Ngọc Vương)
Lớp ng-ời trí thức tiểu t- sản là lực l-ợng nòng cốt trên văn đàn công khai, nhà nho dần lép vế tr-ớc thời cuộc, tầng lớp trí thức tiểu t- sản nhờ tiếp thu
ảnh h-ởng văn hoá Ph-ơng Tây ( đặc biệt là văn hoá Pháp) đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX, phá vỡ dần tính chất quy phạm của văn ch-ơng cũ tr-ớc đó Phong trào văn học phát triển trên cơ sở phong trào chính trị: yêu n-ớc và duy tân ở
đây có những nhà nho tiếng tăm, có uy tín yêu n-ớc mà lại có điều kiện tiếp xúc với t- t-ởng mới, có thực tế t- sản hoá ở thành thị mà lại có điều kiện sống trong một phong trào kháng chiến … Đầu thế kỉ XX có ba địa bàn có điều kiện như vậy : Bắc Bộ, Nghệ Tĩnh và Nam Ngãi Những nhà nho tiêu biểu của giai đoạn văn học này đều có những tác phẩm tiêu biểu cho thời đại
2 Sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ XX :
2.1.Trở lại với phong cỏch thơ trào phỳng trước thế kỷ XX:
Trang 33Tiếp nối văn học truyền thống - văn học dân gian, thơ trào phúng tr-ớc thế kỉ
XX về cơ bản mang phong cách “Nho cũ” Đó là thiên về phong cách c-ời của nhà nho: phê phán, phủ nhận thực tại xã hội phong kiến đã lỗi thời, với hình thức
và ngôn ngữ nhẹ nhàng, kín đáo đi liền với ý nghĩa phúng thích thâm sâu Nội dung c-ời cũng đa dạng, giọng điệu c-ời phong phú với cả 3 cấp độ: hài h-ớc, mỉa mai, châm biếm Với các giọng thơ chủ yếu là vịnh vật và ngụ ý
Thơ vịnh vật và ngụ ý, ngoài thơ truyền thống, hầu hết các tác giả đều dựa vào các hình t-ợng nghịch dị nh-: tiến sĩ giấy, ông phỗng đá, anh giả điếc, mẹ Mốc… mà ng-ời nổi lên ở giai đoạn tr-ớc thế kỉ XX này là Nguyễn Khuyến Các hình t-ợng trong thơ Nguyễn Khuyến như “ tiến sĩ giấy”, “ vua chèo” “ quan chèo” “ thạch lão nhân” … tạo nên một trường nhìn trào phúng trước giới áo mũ n-ớc nhà bằng con mắt trào lộng Nguyễn Khuyến đã đánh giá xác đáng “vai trò” tượng gỗ của ông quan triều đình đối với vận hội đất nước :
Trong bài “ Ưu phụ từ” ( lời vợ anh phường chèo) tác giả mượn cuộc đối thoại
giữa hai vợ chồng ng-ời làm nghề hát chèo để châm biếm:
Đông lân gia hữu -u nhân trú
Dạ bán -u nhân ngữ -u phụ
“ Ngã diệc thời thường tố hảo quan
Như hà nhân giai bất ngã cụ?”
Tác giả tự dịch:
Xóm bên đông có ph-ờng chèo trọ
Đ-ơng nửa đêm gọi vợ chuyện trò
Rằng: “ Ta thường làm quan to
Sao ng-ời coi chẳng ra trò trống chi”
Nhân vật người kép hát giống như “ chàng ngốc” trong truyện cổ tích,
đang nửa đêm phàn nàn cùng vợ về nỗi làm quan mà không ai sợ của mình
Bài “ Tiến sĩ giấy” - cũng tiếp tục bổ sung cho cảm hứng về bản chất bù nhìn của vua chúa quan lại phong kiến thời buổi “ đầu Tây” , bài “ Tiến sĩ giấy” cùng với “Lời vợ anh ph-ờng chèo” dựng nên hình ảnh phúng dụ về thực chất
ông quan triều đình, lối t-ợng tr-ng hài h-ớc làm nổi bật mâu thuẫn giữa vỏ ngoài hào nhoáng và ruột rỗng tuếch của bậc khoa bảng cũng nh- nhãn mác ông
Trang 34quan mà không ai sợ Đây là hai bài thơ tiêu biểu cho tiếng c-ời trào phúng hóm nhẹ mà sâu cay đ-ợc nhiều thế hệ độc giả đón nhận, tâm đắc
Thơ trào phúng tr-ớc thế kỉ XX, cũng xuất hiện nổi trội hơn ở thơ tự trào ở mức độ : tự trào đơn thuần và tự trào kết hợp Tự trào đơn thuần là tự c-ời mình : cuời sức khỏe, hình dáng bên ngoài và c-ời thân thế, công danh Tự trào kết hợp
là c-ời thân thế, công danh để khẳng định cái “ tiết sạch” “ giá trong” Các bài thơ chữ Hán nói chung đều mang dấu ấn tự thuật, từ việc tuổi tác cụ thể ở các câu cho đến việc miêu tả thậm x-ng hài h-ớc các chi tiết cơ thể nh-: râu, răng, mắt, tóc khiến ng-ời đọc vừa buồn c-ời tr-ớc vẻ kì quặc dị th-ờng, nh-ng cũng th-ơng cảm sự lão hóa Thơ tự trào luôn đan xen, xáo trộn 2 giọng điệu: phủ
định và khẳng định, chỉ khác nhau ở mức độ giọng điệu: Phủ định th-ờng thậm x-ng quá mức, khẳng định thì kín đáo hơn
Nói tóm lại : Thơ trào phúng tr-ớc thế kỉ XX ch-a phong phú về nội dung, hình thức cũng nh- phong cách Bởi thơ trào phúng giai đoạn này chủ yếu xoay quanh tầng lớp quan lại cũng nh- thị dân, c-ời cợt, công kích đả phá cái xấu, cái ch-a tốt Chứ ch-a bộc lộ đ-ợc tính dân tộc, giai cấp tr-ớc một xã hội rối ren, thay cũ đổi mới, trắng đen lẫn lộn Mặc dù dòng “ vịnh vật và ngụ ý” và “tự trào”
đã xuất hiện đậm nét, đặc sắc nh-ng số l-ợng tác phẩm mới tập trung ở một số nhà thơ, trong đó Nguyễn Khuyến là tiêu biểu cho giai đoạn giao thời chạm đến thế kỉ XX Tuy vậy, giọng điệu cũng chỉ mới can gián, bóng gió, nhẹ nhàng và
ẩn ý
2.2.Thơ trào phúng từ những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX
Nhìn từ góc độ tổng quát thì đến cuối thế kỉ XIX, văn ch-ơng Việt Nam vẫn tồn tại trong một khuôn khổ nhất định : phản ánh cuộc sống im lìm của nông thôn và cung đình Cho đến khi thơ ca tuyên truyền yêu n-ớc và duy tân đã khuấy động không khí im lìm đó, phá vỡ khuôn khổ của văn thơ, phú, lục cũ Giữa giai đoạn bản lề này, thơ trào phúng phát triển mạnh, không những số l-ợng mà chất l-ợng cũng đ-ợc nâng cao Có thể nói, đến đây thơ trào phúng phát triển thành một dòng riêng
Thơ trào phúng ra đời, phá vỡ văn ch-ơng nhà nho đ-ợc thể hiện không phải chỉ ở sự thay đổi đề tài, nội dung, nghệ thuật mà chủ yếu ở sự thay đổi quan
Trang 35niệm văn học, sự thay đổi quan hệ tác giả với công chúng- sự thay đổi đó làm thay đổi cả tính chất chung của văn học dân tộc
“ Biểu thị thái độ phản đối cái trái tai gai mắt, cái xấu, cái phi nghĩa, phi
lí là một nhu cầu của cuộc sống và c-ời đùa cũng là một nhu cầu của cuộc sống”(GS: Trần Đình H-ợu)
Nếu nh- trong cuộc sống im lìm, chật hẹp của chế độ chuyên chế Ph-ơng
Đông, cái c-ời của ng-ời nông dân th-ờng hạn chế trong những đề tài vụn vặt thì
đến thơ trào phúng “tầm mắt của nhà nho rộng hơn” Họ biết chuyện làng, chuyện xã, chuyện dân, chuyện n-ớc, chuyện vua quan rõ ràng hơn Xã hội thay
đổi cũ mới là dịp tốt cho thơ trào phúng phát triển Những ng-ời thị dân của các thành phố b-ớc vào đời sống xã hội: họ có cái nhìn mới, nh-ng là một đối t-ợng lạ hoắc đối với nhà nho và nông dân: đề tài khôi hài, châm biếm, đả kích xuất hiện khắp nơi Cái cũ lỗi thời trở thành lố bịch và cái mới ch-a quen mắt trở thành ngờ nghệch Ng-ời cũ c-ời chế giễu cái mới và ng-ời mới cũng c-ời chế giễu cái cũ Có cách c-ời để lên án, có cách c-ời để giễu cợt, để đùa Có cái tự trào của cái già nua đơn chiếc và cũng có cái tự trào hể hả của cái hãnh tiến hợm hĩnh
Thơ trào phúng đầu thế kỉ XX: Phản ánh những nhân vật mới, lối ăn mặc mới, sinh hoạt mới, những thể chế mới do bọn thực dân đem lại Việt Nam, phá
vỡ nhịp sinh hoạt bình th-ờng của xã hội thực dân đem lại cuộc sống xã hội Vì vậy nội dung chính trị – xã hội, ý nghĩa phê phán rộng hơn Cũng theo con mắt dân tộc, ng-ời ta đả kích lối sống ch-ớng tai gai mắt, khác với phong tục cổ truyền, học theo quân c-ớp n-ớc, học theo ph-ơng Tây, theo lối sống t- sản ở phố ph-ờng xa lạ Cái đạo nghĩa đối với nhà nho và cái khác cha ông đối với nông dân đều tập trung ở những kẻ đại biểu cho chế độ phong kiến, đã bị tróc hết n-ớc sơn uy nghiêm giả tạo, tập trung vào những kẻ đại biểu cho chế độ thực dân
dị hình, dị dạng Chính vì vậy thơ trào phúng đầu thế kỉ XX mang đặc tr-ng riêng của mình- trào phúng chính trị
Thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ ra đời, thay đổi hẳn quan niệm văn học; văn ch-ơng không còn là văn ch-ơng nhà nho viết chỉ để cho mình mà viết cho nhiều ng-ời, viết có chủ đích rõ ràng, trở thành một thứ công cụ để tự vệ, để
Trang 36lên án… Quan niệm văn học thay đổi kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ về đề tài và nội dung cũng nh- hình thức nghệ thuật Tất cả đều mới, đều đặc sắc và đ-ợc
đón nhận bởi đội ngũ công chúng đông đảo, mạnh mẽ và toàn diện.( GS Trần
Đình H-ợu)
Tác giả thơ trào phúng đầu thế kỉ XX là lớp ng-ời đã quen thuộc đời sống thành phố, lối sống thị dân Họ sống ở môi tr-ờng thành thị đông đúc và xô bồ, ng-ời ta biết nhiều chuyện, nhìn thực tế cách khác, nói năng, c-ời cợt thoải mái hơn, họ nhìn cuộc sống hoàn toàn khác với các cụ Nguyễn Khuyến, Tú X-ơng tr-ớc đó Hoàn cảnh mới ảnh h-ởng đến tác giả và công chúng, quy định nội dung phê phán và cách phê phán, làm cho tiếng c-ời không còn hiền lành, kín
đáo nh- tiếng c-ời của nhà nho và nông dân tr-ớc đây
Diện mạo mới, phong cách mới dẫn đến thay đổi đối t-ợng và quan điểm phê phán Đầu thế kỉ với hàng loạt cây bút trào phúng chính trị xuất sắc xuất hiện trên thi đàn văn học dân tộc, trong đó nổi lên bốn cây bút xuất sắc với các thi phẩm của mình tập trung vào các chủ đề, chủ điểm giống nhau
Nguyễn Thiện Kế ( 1858 – 1917): Tục gọi là ông huyện Móm, đỗ cử nhân năm 1888, ng-ời làng Nẻ (Nễ Độ), huyện Tiên Lữ, Tỉnh H-ng Yên Làm tri phủ các huyện Thuận Thành và Từ Sơn, Bắc Ninh, rồi bị cách chức Sau đ-ợc cử làm huấn đạo Hoàn Long (Hà Nội) và tri huyện Tùng Thiện, Sơn Tây rồi lại bị cách chức lần nữa Ông có rất nhiều thơ trào phúng, toàn chĩa mũi nhọn vào bọn quan lại đủ mọi cấp bậc (Đại viên thập vịnh, tiểu viên tam thập vịnh) (Theo gs: Vũ Ngọc Khánh)
Từ Diễn Đồng( 1866 – 1922): Hiệu Long Tài, ng-ời làng Hạ Hồi, huyện Th-ờng Tín, Hà Đông, Hà Nội, ông đỗ tú tài năm 1906 Ông không hợp tác với ng-ời Pháp, chỉ làm nghề dạy học và bốc thuốc Đau xót về cảnh n-ớc nhà, nh-ng cũng không có điều kiện tham gia cách mạng, ông chỉ làm thơ văn tỏ mối bất bình, có tiếng là nhà thơ châm biếm tài năng Một số bài của ông bị lầm với thơ của tú X-ơng, song thực ra có nhiều ý vị chua chát hơn là thơ trào phúng
Kép Trà (1873 – 1927) Chính tên Hoàng Thụy Ph-ơng, ng-ời làng Lê Xá, nay thuộc xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, đỗ hai khóa tú tài, làm
Trang 37nghề dạy học ở thôn quê Nhiều thơ văn trào phúng xuất sắc và phổ biến, đã làm thơ ông trở thành nhà thơ châm biếm rất đ-ợc nhân dân -a thích
Phan Điện ( 1874 – 1945) : Quê ở xã Phong Châu, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh Ông không đỗ đạt gì nh-ng đi dạy chữ Nho qua nhiều tỉnh nh- Nha Trang,
Hà Đông… và rất nổi tiếng về thơ ca trào phúng, được nhân dân truyền tụng nhiều Ngay trong cuộc sống, ông cũng có nhiều cử chỉ, hành động phóng khoáng, ng-ợc đời
Tất cả họ ở môi tr-ờng thành thị hoặc ớt nhất cũng cú những giai đoạn khụng ngắn trong đời tiếp xỳc đến mức am tường mụi trường mới đú Biết nhiều chuyện của cuộc sống, họ nhìn cuộc sống theo cách khác, nói năng, c-ời cợt thoải mái Bên cạnh đó, sống giữa các phong trào yêu n-ớc sục sôi, họ căm ghét thực dân tay sai nên họ chịu ảnh h-ởng sâu sắc của các phong trào yêu n-ớc cũng nh- tấm lòng yêu n-ớc của họ trào dâng, vì thế họ biến ngòi bút của mình thành thứ vũ khí sắc bén
3.Những đổi mới cụ thể trên bình diện phong cách của thơ trào phúng chính trị trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX:
3.1 Đề tài:Từ việc đả kớch những tên bán n-ớc đến lên án quan tr-ờng, phê phán xã hội:
Quá trình thiết lập chế thực dân là quá trình chém giết, đốt phá, làng xóm
điêu tàn, tiêu điều, xơ xác, bên cạnh đó là sự giàu sang, phất lên của bọn tay sai, bọn đầu cơ trục lợi Khi cục diện đã ổn định, bọn chúng chia nhau chiếm các vị thế xã hội nh- cỏc chức trưởng quan Văn minh,Vừ hiển, Thỏi bảo, Thượng thư trụ cột của Nam triều, đến tổng đốc, tuần vũ, tri huyện ở các địa ph-ơng Cả những tên đầy tớ, tr-ớc chỉ là lính hầu, tên ôm tráp, châm đóm nay cũng đ-ợc
đ-a lên hàng “ cha mẹ dân” Chính quyền thực dân cấp cho chúng l-ơng cao, bổng hậu Bọn chúng cũng tìm mọi cách vơ vét cho thêm nặng túi và đàng hoàng h-ởng vinh hoa, phú quý Bọn lớn xây phủ đệ, sinh từ, sinh phần, bọn bé từ là “ trai anh Xượt”, “ gái mẹ Ngoằng”, “ quan lớn Lại” nay cũng “ Cân đai xúng xính”, “ xe ngựa tung tăng” Cảnh điên đảo đó thành đề tài cho thơ trào phúng
3.2.1 Đối t-ợng đả kích:
3.2.1.1 Tội theo Tây của các “cụ lớn”:
Trang 38Đứng đầu các tội ác là bọn Việt gian làm tay sai Những kẻ “ rước voi về giày mả tổ”, lạy giặc, dâng đất, kí hiệp ước bán nước, những kẻ đem quân đánh dẹp phong trào Cần Vương, nay đều thành “ cụ lớn”, “ cha mẹ dân” Bọn chúng nghênh ngang, phô tr-ơng, hạ thọ, xây sinh phần … thậm chí lố bịch, hống hách, kiêu sa:
Hỏi đám nhà ai ấp Thái Hà?
Ng-ời xem nô nức khắp gần xa:
Toàn quyền , Thống sứ nâng tay cụ Nam Định, Hà Đông nể mặt cha
Xe điện đóng nêm ng-ời tứ xứ
Ô tô để chật bãi tha ma Tàu bay vặn cánh bay qua lại Con gái làng Bông đã s-ớng a!
( Phan Điện - Đám bà Bông)
Đây là cảnh đám ma ng-ời vợ ba của hoàng Cao Khải – Thật t-ng bừng, náo nhiệt, rộn rã và “ nô nức khắp gần xa” Hay, ngày 18/3 (ch-a rõ năm) lễ sinh nhật Hoàng Cao Khải đ-ợc tổ chức long trọng tại ấp Thái Hà (Hà Nội ) Tr-ớc mặt quan khách, anh em họ Hoàng cãi cọ, rồi ẩu đả nhau, biến lễ thọ thành một trò c-ời cho thiên hạ
Sinh nhật năm nay lão Tấn Lai Th-ợng Nam suýt chết thiệt là vui Anh em cùng ruột chia đôi cánh Phủ huyện đầy sân nín một hơi Dân n-ớc đều khen con cụ Quận Ng-ời Tây vẫn quý bố thằng Giai
ở trong cốt nhục mà nh- thế Chẳng hỏng nay thì cũng hỏng mai
( Phan Điện – Sinh nhật Quận Hoàng)
Tr-ớc những năm đầu của thế kỉ XX, khi nói đến Hoàng Cao Khải, cùng cái xã hội nhố nhăng, nhặng xị đó, một xã hội xô bồ, nhốn nháo, mà Tú X-ơng ,
Trang 39Nguyễn Khuyến từng nói đến có cả : thông phán, kí lục, me Tây thậm chí có cả tri phủ Xuân Trường, nhưng cũng không “ điểm mặt chỉ tên” đích danh như thế,
mà chỉ nhẹ nhàng can gián, bóng gió, mát mẻ:
Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ, khác chi thằng hề
Đến thời điểm này, cỏc nhà thơ trào phỳng khụng cũn gượng nhẹ, trỏnh nộ, khụng “kỵ hỳy” như trước Phan Điện đập thẳng vào mặt Hoàng Mạnh Trí- Con trai Hoàng Cao Khải:
Điện ở Hà Đông mới tới nhà Nghe tin cụ lớn thật là ngoa Lửa gan toan đốt nhà Văn Thánh Thuổng miệng ngăm đào mả đại khoa
Ba tháng truyền giam em bố vợ Trăm roi đe đỏnh cụ thông gia nghe đồn cụ lớn rằng hay cáu Cáu đ-ợc Tây kia mới gọi là
Trong cái xã hội nhố nhăng của những ng-ời theo Tây có đủ hạng ng-ời nh- đã nói ở trên, song tất cả đều nhằm vào chữ “ lớn” để đay nghiến:
Ngoài đã lớn hình thêm lớn xác Trong thời không ruột lại không gan
( Con nộm nan, Thơ đả kích Nguyễn Thân) Lớn xác gà cồ b-ơi bếp nát
To răng chó dái gậm hư nồi
( Lê Đình Cầu - Thơ đả kích Đoàn Đình Nhàn) Bọn “ cụ lớn” ấy chỉ có lớn xác như con bù nhìn, càng lớn càng phá hoại khỏe: Tất nhiên đó chỉ là chửi rủa cho bõ ghét, chứ không gây c-ời Ng-ời ta tìm mọi cách để nói chỗ đáng nói, chỗ hiểm ai cũng biết, mà chúng cố giấu kín: làm tay sai cho Thực dân Pháp Nhằm tới nguyễn Thân - một nhà thơ trào phúng viết trong một cấu đối “điếu” khi hắn mất nh- sau :
Trang 40“ Ông đi đâu? bỏ vợ, bỏ con, bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ xe, bỏ ngựa, bỏ h-u bổng lộc
điều, bỏ hát bội, thầy tăng, bỏ hết trần duyên rồi một kiếp”
Khi tên tổng đốc đại thần Hoàng Cao Khải chết, nhân dân rất vui mừng vì
đó thực sự là một tên chó săn cho bọn thực dân Pháp, trấn an dân theo giặc Triều đình nhà Nguyễn và thực dân (Tây) thỡ “tiếc th-ơng” ra mặt Câu đối viếng Hoàng Cao Khải d-ới đây nghe nói là của ng-ời đồng h-ơng xứ Nghệ với Khải:
Ông ra Bắc là may, quyền kinh l-ợc, t-ớc quận công bốn biển không nhà mà nhất nhỉ?
Cụ về Tây cũng tiếc, trong triều đình, ngoài thôn dã, một lòng vì n-ớc
có hai đâu
Đến đây chúng ta thấy câu chữ thật sâu cay “ Cụ về tây cũng tiếc” có thể hiểu theo hai cách : “Cụ về” ( dùng dấu phẩy ngăn cách) “ Tây cũng tiếc” : Là một
câu nhiếc móc sâu cay, thâm độc, chửi vào mặt: Thực dân Pháp (bọn Tây) cũng
tiếc th-ơng một con chó trung thành với chủ: “ Cụ về Tây cũng tiếc” ( viết liền)
là ý chỉ Tây ph-ơng cực lạc, nơi mà đạo Phật cho là hồn ng-ời có phúc lớn mới
đ-ợc lên cõi đó
“ Một lòng vì nước có hai đâu” cũng được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất:
Con ng-ời yêu n-ớc, chỉ một lòng vì đất n-ớc không ăn ở hai lòng, lúc thân Tây, lúc thân “ta” Thứ hai: Ông một lòng vì Tây chứ có hai n-ớc hai chính quyền
đâu Cập câu đối thật cao tay đằng sau lời tiếc th-ơng, ca tụng thích hợp với câu
đối phúng viêng nếu ai lật mặt trái lại bằng cách nói lái hai tiếng “ Thầy tăng” ở
câu thứ nhất và thay đổi dấu ngắt cõu ở vế đối thứ hai , ng-ời đọc mỉm c-ời một
cách thú vị Bí mật hé ra: Chúng là người của “ thằng Tây”; chúng chết chứ
không phải sang Tây Ph-ơng cực lạc đất Phật – thì chỉ có Tây mới tiếc mà thôi
Trong bài “ Chế Th-ợng Nam”, Phan Điện viết nhắn Hoàng Mạnh Trí –
Tổng đốc Nam Định, con trai Hoàng Cao Khải nh- sau:
“ Thân thế ai bằng cụ lớn ta Một nhà nghiêng n-ớc hãy còn cha
Những cụ lớn có chức t-ớc Nam triều hẳn hoi mà lại là tay sai của Thực dân Pháp, không chỉ có cái mâu thuẫn bên trong mà họ còn mang một cái bên