1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thống và cách tân trong thơ nguyễn duy

137 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước hiện lên trong trang thơ Nguyễn Duy có thể nói là đậm nét và chân thực hơn so với các nhà thơ cùng thời, bởi không ai yêu quê hương đất nước như cách của Nguyễn Duy - yêu bằng c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Mai Ngọc Lê

Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Duy

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

Mai Ngọc Lê

Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Duy

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Mã Số: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ

HÀ NỘI - 2008

Trang 3

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống

Mĩ cứu nước, cùng thời với các tác giả : Thanh Thảo, Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mĩ Dạ… lớp tác giả đã làm nên diện mạo thơ ca một thời máu lửa Khi hòa bình lập lại, Nguyễn Duy cũng nhập cuộc bằng những trang thơ cháy bỏng khát khao và lòng nhiệt tình yêu quê hương đất nước Cách đi của ông không lặp lại mọi người, điều này làm nên cái mới cho thơ Nguyễn Duy Nhà thơ là một trong những người tiên phong trong khuynh hướng phi sử thi - một khuynh hướng đậm nét xuất hiện trong văn học Việt Nam vào những năm 80 của thế kỉ XX Ở những tác phẩm của ông, hiện thực được nhìn toàn diện dù

đó là cái nhìn lại quá khứ hay cái nhìn mới nguyên của hiện tại

Nguyễn Duy hay viết về những suy ngẫm mang tính triết lí, chủ yếu là suy ngẫm về giá trị cuộc đời, chính vì thế thơ Nguyễn Duy có chiều sâu

và đậm chất trí tuệ, mặc dù được diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ hết sức giản dị, thậm chí bình dân Đất nước hiện lên trong trang thơ Nguyễn Duy có thể nói

là đậm nét và chân thực hơn so với các nhà thơ cùng thời, bởi không ai yêu quê hương đất nước như cách của Nguyễn Duy - yêu bằng cách chỉ ra cái khốn khó, cái cơ cực, cái yếm thế nhỏ bé …tóm lại là phần khuất lấp không tươi đẹp mà bao người ngại nói đến

Nguyễn Duy là nhà thơ không ngừng vận động, luôn dấn thân vào những cuộc hành trình để tìm cái đẹp, bằng cách này hay cách khác Không chấp nhận một cách đi cũ mòn, hình ảnh khuôn sáo…thơ Nguyễn Duy mang đậm dấu ấn cách tân Tuy nhiên, nói đến Nguyễn Duy người ta cũng nói nhiều đến những vần thơ “làng cảnh quê hương” đậm đà, son sắt Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Duy là hai giá trị thẩm thấu, nhuần

Trang 4

nhuyễn trong mỗi tác phẩm, nó làm nên cảm quan nghệ thuật và giá trị riêng cho thơ Nguyễn Duy Đây là hai giá trị thống nhất và biện chứng, cách tân được nảy sinh trên mảnh đất chân quê truyền thống và tình yêu quê hương đất nước của nhà thơ

Chính vì những phẩm chất nghệ thuật và sự nỗ lực hết mình trên con đường tìm tòi sáng tạo của Nguyễn Duy đã nêu ở trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài này nhằm khẳng định vai trò và vị trí của một nhà thơ dũng cảm luôn nhìn thẳng, nhận chân mọi giá trị của cuộc sống, nhà thơ của “quê hương làng cảnh” ở thời hiện đại này

II MỤC ĐÍCH , PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Luận văn xem xét hai giá trị truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Duy trên các phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó tìm ra nét riêng biệt độc đáo của nhà thơ, khẳng định vị trí và đóng góp của nhà thơ trong nền thơ ca nước nhà

- Phạm vi nghiên cứu trong 6 tập thơ chính của nhà thơ Nguyễn

Duy: Mẹ và em (1987, Nhà xuất bản Thanh Hóa), Đường xa (1989, NXB Trẻ), Quà tặng (1990, NXB Văn học), Về (1990 – 1994, NXB Hội nhà văn), Sáu và Tám (1994, NXB văn học), Bụi (1997, Nhà xuất bản Hội nhà văn)

Trang 5

mô khác nhau Chúng tôi xin được điểm qua một số bài tiêu biểu để thấy được tính hệ thống trong vấn đề mình đang nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Hữu Quýnh với bài Hai xu hướng thơ hiện nay đã chỉ

ra sự khác biệt giữa cái mới của những thế hệ cầm bút trên thi đàn Việt Nam sau 1946 Tác giả nhấn mạnh về hai xu hướng thơ hiện nay là: “ Người ta bắt đầu nói đến thơ cách tân, thơ hiện đại, hậu hiện đại như là sự phá vỡ kết cấu của diễn đạt Nhà thơ Hoàng Hưng đã từng phát biểu: Thơ hậu hiện đại mang hai đặc tính nổi bật là tính thử nghiệm và tính tiên phong…Mặc dù rất đa dạng, thơ hậu hiện đại có điểm chung: quan niệm làm thơ là một tiến trình đang xảy ra chứ không phải sản phẩm đã thành…Nó thích những chữ rỗng hơn cái thụ nghĩa tiên nghiệm, đi theo lý thuyết kết cấu hơn là lý thuyết biểu hiện, quan tâm đến nói như thế nào hơn là nói cái gì” Và thái độ của tác giả trước những yêu cầu cách tân thơ hiện nay là: Để có một nền thơ thuần hậu, nhân văn, trong sáng và đa dạng cần đối xử công bằng với mọi nhà thơ Đừng

vì nhân danh đổi mới, hiện đại hay truyền thống mà bên trọng bên khinh Hãy

để cho khuynh hướng thơ được bình đẳng tồn tại với nhau, đừng dạy dỗ, đừng

áp đặt, đừng khắt khe và cũng đừng ôm ấp chiều chuộng thái quá ai cả Tự thơ nói lên tất cả Tự bạn đọc bầu chọn nhà thơ của họ Tự cuộc sống lâu dài định danh cho thơ Tóm lại cứ để cho nó phát triển tự nhiên vì nó là thơ” Tác giả chỉ dừng lại nhìn nhận một cách khái quát về xu hướng thơ hiện nay mà không đi vào nghiên cứu một tác phẩm, tác giả cụ thể nào

Tính dân tộc trong thơ Việt Nam: vĩnh cửu và luôn luôn biến đổi - bài

của Giáo sư Phạm Vĩnh Tác giả nghiên cứu tính dân tộc trong thơ Việt nam trong suốt chiều dài lịch sử phát triển thơ ca, để khẳng định: người sáng tạo càng sâu sắc và độc đáo bao nhiêu thì càng đạt tính dân tộc, tính nhân loại ở

độ cao bấy nhiêu Đồng thời tác giả khẳng định tính dân tộc phải có xu thế

Trang 6

mở, tức là nói đến tính dân tộc không có nghĩa là nói đến một giá trị bất biến, khuôn khổ và cứng nhắc mà phải luôn kế thừa và sáng tạo tiếp

Cách tân: đi tìm một cái mới hay cái Tôi? - TS Chu văn Sơn Bài viết

đã đưa ra định nghĩa về cách tân, nhận thức của tác giả văn học về cách tân, vai trò của cách tân trong sáng tạo nghệ thuật TS Chu văn Sơn kết luận: Cách tân là sáng tạo cái mới Nhưng không phải cái mới vay mượn từ ngoài mình Trái lại phải là cái mới trong mình Nhận chân được cái mới thuộc về bản thể, thì mới thấy được cái mới ấy cũng là cái Tôi của kẻ sáng tạo Nó sẽ xui khiến

kẻ sáng tạo tìm đến hình thức mới và truyền sự sống cho mỗi thành tố mới của hình thức ấy Đến lượt mình hình thức mới sẽ định dạng cho mọi sáng tạo mới

Thử tìm hiểu tính dân tộc trong thơ hôm nay - tác giả Trần Sáng đã

ngợi ca cái mượt mà đằm thắm, cái chia sẻ và thấu hiểu mà thơ dân tộc đã có được Những gì mang tính dân tộc trong thơ hôm nay “Đó là những lời từ trái tim, là chủ nghĩa nhân đạo cao cả của Người Việt Cũng là cái đích hướng đến của nhân loại Những vần thơ đó đã chinh phục trái tim nhân loại trong khi nhà thơ vẫn đứng vững hai chân trên mảnh đất dân tộc mình”

Cánh tân là lẽ sống của thơ - tác giả Hoàng Hồng đã khẳng định vai trò

quan trọng của việc cách tân thơ Đó là một yêu cầu không thể không xảy ra

và không thể không được đáp ứng của thời đại Cách tân theo Hoàng Hồng là tất yếu của ngày hôm nay - hiện đại, và là điều không cần phải bàn đến, hãy

để thời gian và độc giả trả lời cho câu hỏi về cách tân

Có rất nhiều bài viết về tác giả Nguyễn Duy, để khẳng định hồn thơ giàu tính dân tộc và phong cách khá linh hoạt độc đáo, thể hiện con mắt nhanh nhạy và thông minh của tác giả, song cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu tính truyền thống và cách tân trong thơ ông Nhà phê bình Hoài

Thanh năm 1972 trên Văn nghệ đã nhận định khi mới đọc những bài thơ đầu:

Trang 7

“Thơ Nguyễn Duy thường đưa ta về một thế giới quen thuộc …Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của nhứng con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi, không tên…Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều

ở người khác có thể chỉ là chuyện thóang qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường

như lắng lại” Từ Sơn với bài Thơ Nguyễn Duy đăng trên báo văn nghệ

số 27/1985 đã viết: “ …Thơ anh được viết theo đơn đặt hàng của cuộc sống

và của chính lòng anh” Điều đó có nghĩa là thơ Nguyễn Duy phản ánh rất chân thực hiện thực cuộc sống và tiếng nói tình cảm của con người

Tạp chí văn học số3 năm 1986 với bài của Lê Quang Hưng : Thơ Nguyễn Duy và Ánh trăng có nhận định: “Những bài thơ trong ánh trăng thật

đậm đà chất ca dao, nhiều đoạn thơ nhuần nhụy ngọt ngào khiến cho người ta khó phân biệt được đâu là ca dao đâu là thơ…”

Năm 1987, Lại Nguyên Ân khi đọc tập Ánh trăng cũng nhận xét:

“…Ngay những bài lục bát ta cũng thấy như cái gì bên trong như cũng muốn cãi lại cái êm dịu, mượt mà vốn có của truyền thống” Cũng trong năm này,

Nguyễn Quang Sáng viết Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy cũng đã nhận

định : “Nguyễn Duy vốn có ưu thế và trội hẳn lên trong thể thơ lục bát, loại thơ ngỡ như là dễ làm, ai cũng làm được, nhưng để đạt tới hay thì khó thay, nếu không nói là khó nhất Thơ lục bát của Nguyễn Duy không rơi vào tính trạng quen tay, nó có sự biến đổi, chuyển động trong câu chữ” Thơ lục bát Nguyễn Duy “đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất hương vị cổ điển Phương Đông…”

Phạm Thu Yến cũng đóng góp ý kiến của mình với một sự khảo cứu khá độc đáo về đặc điểm thơ Nguyễn Duy mà chủ yếu là khảo sát trên thể thơ lục bát Hiện tượng tập ca dao và sử dụng ca dao một cách nhuần nhụy trên

Trang 8

phương diện thi pháp như môtip ca dao, ngôn ngữ ca dao vàgiọng điệu Tác giả khẳng định thơ Nguyễn Duy rõ ràng là phản ca dao qua việc khai thác các

ý đối lập với những tứ quen thuộc trong ca dao để tạo nên những tứ mới khiến cho cả ca dao và thơ càng bay bổng hơn Còn Vũ Văn Sĩ chỉ cần một câu đã khái quát được cả con người và thơ Nguyễn Duy “Người thương mến đến tận cùng chân thật” …

Các tác phẩm trên đã bàn về cách tân và truyền thống trong thơ, nhưng chưa có một tác giả nào đưa ra thành hệ thống và nghiên cứu trong một chỉnh thể tác giả Chúng tôi triển khai đề tài này xuất phát từ những gợi ý sau:

1 Truyền thống và cách tân là hai giá trị làm nên sự bền vững của thơ nói riêng và nghệ thuật nói chung Mà trong thời đại ngày nay, truyền thống đang bị mất dần đi, còn cách tân thì chưa hình thành thành một hệ thống được thừa nhận

2 Nguyễn Duy là nhà thơ luôn trân trọng truyền thống và là người tiên phong trong công cuộc cách tân thơ hiện đại Những tác phẩm của ông đã được khẳng định và ghi dấu ấn hiện thực xã hội đậm nét ở nhiều góc cạnh

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

Trang 9

khẳng định được vai trò của nhà thơ Nguyễn Duy trong công cuộc sáng tạo và xây dựng nền thơ ca dân tộc

VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Chương1 Một số vấn đề lý luận và hành trình sáng tạo của Nguyễn

Duy

1 Một số vấn đề lý luận chung

Khái niệm truyền thống trong thơ Khái niệm cách tân trong thơ Mối quan hệ giữa truyền thống và cách tân trong thơ

2.Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy

2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy 2.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Chương2 Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Duy nhìn từ góc độ nội dung trữ tình

Truyền thống và cách tân thể hiện ở cách chiếm lĩnh đề tài

2.1.1 Đề tài quê hương đất nước

2.1.2 Đề tài chiến tranh

Truyền thống và cách tân thể hiện ở cái Tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy

Về cái Tôi trữ tình trong thơ

Cái Tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy Cái Tôi in đậm dấu ấn chân quê truyền thống Cái Tôi dấn thân với cách suy nghĩ hiện đại Cái Tôi tự vấn và trào lộng

Trang 10

Chương 3 Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Duy nhìn

từ một số phương diện nghệ thuật

3.1 Hình ảnh

3.1.1 Hình ảnh mang tính biểu tượng

3.1.2 Hình ảnh so sánh

3.2 Ngôn ngữ

3.2.1 Ngôn ngữ bắt nguồn từ đời sống hiện thực

3.2.2 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình

3.3 Thể thơ

3.3.1 Thể thơ tự do, thơ 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng trong sáng tác của Nguyễn Duy

3.3.2 Thể thơ lục bát – nét dặc sắc nhất trong thơ Nguyễn Duy

3.3.2.1 Truyền thống và cách tân biểu hiện ở cảm xúc trong thơ lục bát Nguyễn Duy

3.3.2.2 Truyền thống và cách tân biểu hiện ở hình thức câu thơ trong thơ lục bát Nguyễn Duy

Trang 11

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO

CỦA NGUYỄN DUY 1.1 Một số vấn đề lý luận chung:

1.1.1 Khái niệm truyền thống trong thơ:

Truyền thống - theo định nghĩa trong TĐTV (Viện ngôn ngữ học ) là một danh từ chỉ thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ được truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác hoặc một tính từ “ chỉ tính chất truyền thống được truyền lại từ các đời trước” Như vậy truyền thống

là những giá trị, mà được cả cộng đồng thừa nhận với một niềm tin, niềm

tự hào và luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ Khái niệm “truyền thống trong thơ” chắt lọc từ khái niệm về truyền thống nói chung, là “những thành tựu chung đặc sắc, tương đối bền vững, ổn định trên cả hai phương diện nội dung, hình thức của văn học được lưu chuyển, kế thừa từ thế hệ này đến thế

hệ khác trong quá trình văn học” [] Truyền thống trong thơ là những giá trị

đã được khẳng định, và những giá trị đó là đại diện xứng đáng nhất của một cộng đồng dân tộc, là “gương mặt điển hình”, là tâm hồn nhất cho tâm hồn con người của công đồng dân tộc ấy, được thể hiện bằng thơ Vậy những giá trị nào làm nên truyền thống trong thơ? Thơ là hồn, thơ là đời thì những giá trị truyền thống không thể tách rời hồn và đời của con người thời đại

Trang 12

được Truyền thống gắn với dân tộc, tính truyền thống có điểm tương đồng với tính dân tộc, biểu hiện được màu sắc, âm thanh, lối sống, tính cách, tinh thần của dân tộc thì tức là đã biểu hiện được bề mặt truyền thống Thơ lưu giữ những nội dung ấy bằng những hình thức truyền thống – hình thức mà những tác giả từ buổi sơ khai của thơ đã sử dụng và được vun đắp trong một quá trình tồn tại và phát triển Truyền thống trong thơ biểu hiện trên cả nội dung và hình thức, nhưng không phải những gì dễ dãi giản đơn, mà là cái đã được khẳng định, là “thành tựu chung” “bền vững” Đó là tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm, là tiếng ca non sông, là tình cảm cha mẹ anh em, là tình yêu trai gái Việt… ở mặt nội dung, và là thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ…ở mặt hình thức

Tuy truyền thống là cái lâu đời được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, song nó vẫn có tính linh động riêng của nó, không hoàn toàn

bó buộc trong một khuôn khổ đã được thời gian thừa nhận Về không gian, truyền thống trong thơ có thể là một dân tộc, một vùng, cũng có thể một khu vực nhiều dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau (về điều kiện địa lý, ảnh hưởng cùng một nguồn văn hóa…) Về nguồn gốc, truyền thống trong thơ là những giá trị lâu đời, được hình thành từ những buổi đầu tiên, nhưng

“tồn tại và phát huy tác dụng thông qua con đường vay mượn, ảnh hưởng văn học, thông qua những phép tắc, luật lệ sáng tạo mà nhiều thế hệ phải tuân thủ để làm ra giá trị mới” Về mặt tiếp nhận, nhà thơ có thể tiếp nối truyền thống có ý thức, hoặc chịu ảnh hưởng của truyền thống thơ không tự giác Truyền thống trong thơ không phải là “luật” nên không có tính chất bắt buộc, có nhà thơ làm câu thơ đầu tiên đã tràn ngập cái khí vị của quê hương, nhiều tác giả bắt đầu bằng câu lục bát, tức là cái truyền thống trong thơ đã được thừa nhận như là điều tất yếu và bình thường như hơi thở; và cũng có nhà thơ phải hướng mình tới truyền thống trong thơ, coi đó như là

Trang 13

một mục đích cần đạt được Cũng có tác giả tiếp nhận cái truyền thống bằng cái nhìn khúc xạ- cái nhìn không trực tiếp, như cách “đọc thơ Tây là một cách mở rộng, tham bác để cho cái chất nhà quê vừa gắn với cổ điển, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện đại” Điều đó cho thấy truyền thống thơ không phải là hiện tượng chứa đựng trong khuôn đúc mà trái lại luôn có sự biến đổi, bởi nó là một vận động đồng tâm với lịch sử xã hội, hàng loạt giá trị, kinh nghiệm nghệ thuật được coi là bảo thủ, lạc hậu sẽ được thay thế bởi những giá trị mang tầm tư tưởng tiến bộ hơn, phù hợp với cuộc sống mới - chuyển tải và biểu hiện cuộc sống mới “Và để giải quyết những nhiệm vụ do thời đại đặt ra, nhiều sáng tác hoặc là phải hoàn thiện, đổi mới kinh nghiệm của thế hệ trước, hoặc là phải đấu tranh chống lại những gì đã

cũ kĩ, lạc hậu, phải tìm những lối đi mới Kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật, vì thế là những phương diện không bao giờ tách rời nhau của quá trình văn học Đến lượt mình, những cách tân nghệ thuật chân chính lại

sẽ trở thành những truyền thống mới, bồi đắp thêm cho kho tàng kinh nghiệm đã vượt qua sự thử thách thời gian của những thế hệ đi trước” [27] Một hình thức mới mang nội dung mới đã làm nên một cuộc cách mạng, nhưng cuộc cách mạng này không phá vỡ tất cả mà cách mạng để chứa đựng được những tâm hồn mới phóng khoáng và dân chủ hơn- tâm hồn đó

là sản phẩm tất yếu của sự vận động lịch sử xã hội Xét đến cùng, thơ mang tính truyền thống chính là những vần thơ bám chặt với con người từ đời sống xã hội đến đời sống tinh thần và được diễn đạt bằng một ngôn ngữ mẹ

đẻ thuần khiết, nhuần nhị

Những thế hệ nhà thơ xuất thân từ trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ như: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Lâm Thị Mĩ Dạ, Nguyễn Duy…cũng mang cho thơ rất nhiều cái mới, song trong

họ cái “chất nhà quê” luôn được trân trọng và tìm về Nhà thơ Nguyễn Duy

Trang 14

nói: “Tôi không phải là người hoài cổ mà là người phục cổ Chữ “phục” ở đây phải hiểu theo cả hai nghĩa khôi phục và khâm phục” Trên thực tế, ông

đã làm mọi cách để đưa cội nguồn dân tộc vào lòng người hiện đại bằng thơ, qua nhiều cách thể hiện, ngoài biểu hiện đắc dụng nhất của ông là những tập thơ còn là lịch thơ, thơ trên giấy dó…

Những cái đẹp gọi là truyền thống thường là những cái đã thấm vào ý nghĩ, những cái đã được gọt dũa và bao bọc, nó giống như viên ngọc trai - là những gì tinh túy chắt lọc và giữ gìn Chính vì thế mà những nhà thơ, nhất là những người trực tiếp xây dựng và bảo tồn truyền thống cho thơ luôn mong muốn các thế hệ tiếp sau dù đổi mới cũng đừng nên đánh mất cội nguồn Và phần lớn những người đọc thơ ngày nay, trước một bài thơ mượt mà truyền thống, bao giờ cũng cảm thấy gần gũi thân thuộc, như được vỗ về an ủi

1.1.2.Khái niệm cách tân:

Cách tân có nghĩa là đổi mới - tức là phải có một cái gốc bị coi

là cũ thì mới tạo ra được sự tương quan để thấy cái mới Nói về vấn đề cách tân trong thơ, chúng ta hãy quay lại những năm 30 của thế kỷ trước Thơ Mới chính là cuộc cách mạng trong thơ ca dân tộc - Thơ Mới được coi

là đỉnh cao trên lộ trình phát triển của thơ Hiện nay chúng ta đang nói nhiều tới cách tân thơ, muốn thơ còn là “lát cắt tâm hồn” của hôm nay - hiện tại - và mai sau, thì phải tìm một con đường mới, con đường để thơ bắt kịp được với biến thái tình cảm, những suy tư của người đương đại Nếu nhà thơ bằng lòng với những gì mình kế thừa được và những cái của riêng mình thì vô hình trung họ đã làm khô cằn cuộc sống vốn biến hoá muôn màu muôn vẻ Chính vì vậy, khẳng định đổi mới là tất yếu đối với người sáng tạo nói chung và nhà thơ nói riêng

Trang 15

Có nhiều ý kiến về cách tân, có thể trích ra một đoạn bài viết của tác giả Hiền Nguyễn: “Cách mạng thơ là cuộc thay đổi lớn, xảy ra ở những giai đoạn thời gian nhất định nên rất ít cách tân là những thay đổi liên tục hàng ngày, không chỉ với thơ ca mà những lĩnh vực khác, cách tân là tất yếu” Còn “ Đổi mới không phải là lộn trái cái túi quần” - Chế lan Viên- “đó phải là nhu cầu từ chính chủ thể thi sĩ và phụ thuộc vào cảm quan của chính người cầm bút” “Phải đổi mới từ nội dung chứ không phải từ dăm ba cái bên ngoài làm thời thượng”- Nguyễn Thị Minh Thái khẳng định Nhà thơ Trần Đăng Thao thì dứt khoát: “Phải đổi mới từ tư duy”…Đúng là không có khái niệm, qui chuẩn nào cho cái gọi là cách tân thơ, bởi vì thời gian vừa có sức khẳng định, vừa có sức phủ nhận tất cả những gì đã qua Các nhà văn hãy viết về cuộc sống một cách chân thực bằng tấm lòng và tài năng của mình thì chính những tác phẩm ấy là câu trả lời ý nghĩa nhất, xác thực nhất Phải chăng mọi

sự tranh cãi bao giờ cũng tìm về với bản thể, mà bản thể của cách tân thơ chính là “Tấm lòng và tài năng” như tác giả Hiền Nguyễn đã nói? Khẳng định điều này nhưng lại nói bằng cách khác, Tiến sĩ Chu Văn Sơn viết “Cách tân là sáng tạo cái mới, nhưng không phải cái mới vay mượn từ ngoài mình Trái lại phải là cái mới trong mình, từ mình Nhận chân được cái mới thuộc về bản thể thì mới thấy được cái mới ấy cũng chính là cái tôi của kẻ sáng tạo…” Như vậy cách tân là lẽ sống của thơ” Một bài thơ hay không thể là sự bắt chước khéo léo mà phải sáng tạo được trên nền cái cũ, mà phải có dấu ấn riêng, nhưng phải để mọi người thấy được mình trong đó

Đổi mới - ngoài những điều được khám phá là hoàn toàn mới mẻ

- cả về nội dung và hình thức- còn những điều đã được nói nhiều song đến với tác giả này nó lại được nhận diện ở một góc độ khác mới lạ và độc đáo, đem đến cho người đọc những cảm quan thẩm mỹ mới, tích cực Nếu truyền thống trong thơ là những giá trị đã được khẳng định và giữ gìn, là

Trang 16

cái “đã biết”, thì cách tân lại là cái nhà thơ khai sáng cho người đọc, trao cho người đọc cái quyền khẳng- phủ rất khách quan Cách tân trong thơ nói chung trên phương diện hình thức nghệ thuật chủ yếu ở thể thơ, ngôn từ, hình ảnh…và trên phương diện nội dung, đó là cách biểu đạt cái tôi trữ tình, cách chiếm lĩnh và thể hiện đề tài…các nhà thơ mới không dùng thể Đường luật để biểu hiện mình, cũng không cần mượn một điển tích điển cố nào để gợi sự sâu lắng mà “xưng tôi” thản nhiên tự tin trút hết những uẩn khúc và niềm khao khát của mình vào thơ - đó là họ đã đứng dậy cởi bỏ cái

cũ không hợp thời, cái cũ hạn chế sự phát triển của những tâm hồn đương thời- họ đã cách tân, cách mạng Cuộc cách tân của Thơ Mới là một thành tựu mà trong lịch sử phát triển của mình, thơ rất cần sự vận động đi lên như thế

Nói cách tân là đổi mới, tìm kiếm cái mới, tạo ra cái mới “Cách tân là thuộc tính của sáng tạo, chả có sáng tạo nào lại chẳng là một cách tân nào đấy Hiểu theo lối này, người sáng tạo cũ nhất cũng có thể yên chí rằng mình đang cách tân” [36] và “ cảm giác yên chí như vậy, nếu là thành thực thì chất chứa một nguy hiểm Bởi nó chính là tiếng nói ngọt ngào của trì trệ, nó là sự thủ cựu trá hình Khi chỉ thích tự ru vỗ mình bằng cách hiểu ấy thì cuộc sáng tạo xem như đã an bài Còn theo lối khó tính, thì cách tân là một xu hướng sáng tạo với khát khao tạo ra cái hoàn toàn mới Theo cách này, thì chỉ có những đột phá táo bạo, những bứt phá dũng mãnh, vượt khỏi rào cản của thói quen thẩm mỹ cũ, gieo những hạt giống mỹ cảm mới, khai sinh một hệ giá trị mới, thì mới được gọi là cách tân”[36] Như vậy, “cách tân là lẽ sống” của thơ nhưng tác giả phải hiểu được tường tận vì sao là lẽ sống thì mới đạt đến độ sáng tạo đích thực Không phải là một thứ cách tân chung chung, đánh đồng sáng tạo với cách tân, để rồi yên trí ta cũng như ai, cũng đã góp đủ cho phong trào Cách tân không đồng nghĩa với an bài, mà

Trang 17

nó là kết quả của sự hối thúc, của khát khao từ trong tâm can những người cầm bút hằng ngày, hằng giờ và trong mọi suy nghĩ về sáng tạo Vào thế kỷ

XV, Nguyễn Trãi trong tập “Quốc âm” đã có những cách tân về dòng thơ Đường luật đã tạo ra cảm quan thẩm mỹ mới: câu thơ thất ngôn nhưng khuyết một chữ:

“ Rồi hóng mát thuở ngày trường

hoè lục đùn đùn tán rợp trương”

( Bảo kính cảnh giới- 43 )

“ Bui một tấc lòng trung lẫn hiếu

mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”

( Thuật hứng 25 )

Độc giả khi đọc những câu thơ “thiếu chữ” này như bị hẫng, nhưng chính cái hẫng đấy lại khiến ta phải xem lại để thấy được nỗi niềm cuồn cuộn như nước “triều đông” của Nguyễn Trãi Không có một cách tân nào có sẵn hay tự đến, tác giả phải có ý thức sáng tạo, như hai tác giả trung đại đã dẫn ở trên- những sáng tạo của họ được khai sinh trên mảnh đất tấm lòng- tấm lòng tràn đầy nỗi khát khao, yêu thương và dâng hiến, sáng tạo sẽ là con đường để dẫn dắt những nỗi niềm ấy đến được với ngàn vạn tấm lòng ở muôn đời sau

Đối với các tác giả ở thế kỷ XXI, cách tân đã trở thành một hối thúc Nhìn bao quát chúng ta thấy rằng: các nhà thơ trẻ mang sự háo hức bứt phá, mạnh mẽ đến vội vã hấp tấp, còn các nhà thơ lớn tuổi ( lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ…) thì điềm tĩnh hơn Phải chăng, chính sự điềm tĩnh nó khiến họ trả lời câu hỏi: cách tân là gì? lẽ sống của thơ là gì? được sâu sắc và hoàn hảo hơn? Những câu thơ để lại là những câu thơ của người Việt - hồn Việt mà không hề cũ mòn, khuôn sáo Bởi có lẽ họ - hơn ai hết - hiểu rõ “một nền văn hoá hiện đại tốt phải giữ

Trang 18

được cái hồn của văn hoá truyền thống Những người trẻ có thể đổi giọng đổi điệu nhưng không được đánh mất cái hồn Đáng sợ nhất là bắt độc giả đọc những cái vô hồn- Bởi con chữ, ngôn ngữ và tiếng nói đều có linh hồn riêng của nó” ( Nguyễn Duy) Nói tới Nguyễn Duy người ta sẽ nghĩ tới một người luôn tìm và đổi mới thơ Việt Ông không phải là người đầu tiên khám phá chất thơ lãng mạn trong lục bát nhưng ông lại là người khai phá thông minh ( Thanh Tuyền ) Bởi vì khi không còn cảm thấy có gì mới hơn ông dừng lại không viết thơ nữa để tích lũy, tìm tòi và chiêm nghiệm Những dòng thơ của nhà thơ tài năng này là đại diện tiêu biểu cho những sáng tạo cách tân trong thơ

Và còn có nhiều tác giả khác vẫn âm thầm đào đãi, chắt lọc tạo nên cái mới - những bụi vàng quí giá từ những bụi bặm đời thường Đó chính là chất vàng mười mà người nghệ sĩ dụng công tìm kiếm và có dụng công thì mới tìm ra chất vàng mười để để lại cho đời

1.1.3 Mối quan hệ giữa truyền thống và cách tân:

Truyền thống là cái đã được khẳng định, cách tân là cái đang phải đấu tranh để tự khẳng định Truyền thống là cái tĩnh trong tương quan với cái động là cách tân Tuy nhiên cần phải hiểu rõ một điều rằng: truyền thống không phải là cái cũ- cái cũ mà cách tân phải đánh đổ để khẳng định mình Giữa truyền thống và cách tân có mối quan hệ qua lại biện chứng Vì đây hoàn toàn không phải là hai vấn đề riêng lẻ mà trong quá trình phát triển của thơ nói riêng nó là qui luật tồn tại và phát triển có tính lý luận chặt chẽ

Không có điều gì là mới vĩnh viễn, mọi cuộc cách tân nhằm thay đổi cái cũ cũng đến lúc cũ đi cùng với thời gian và tần số va đập với cuộc sống xã hội Lúc đó, cái phù hợp và tinh túy sẽ được giữ lại, còn những gì không phù hợp sẽ bị thay thế bằng cái mới, do một cuộc cách tân mới đem

Trang 19

lại Cái được giữ lại sẽ bồi đắp thành truyền thống Truyền thống của thơ không phải là một hiện tượng ngưng đọng, khép kín, nó không ngừng vận động, tự đổi mới Có truyền thống mới có cách tân và ngược lại Tuy là hai khái niệm mang tính chất khác nhau, nhưng lại ràng buộc với nhau, không

có cách tân nào không nảy sinh trên mảnh đất truyền thống và cũng không

có truyền thống nào không được bồi đắp bởi những cách tân Một bài thơ hay là một bài thơ kết hợp cả truyền thống và cách tân một cách nhuần nhị Người ta không thể tán thưởng một thi phẩm được diễn đạt bằng ngôn từ xa

lạ, mặc dù ý tưởng mới và độc đáo

Trên thực tế các nhà thơ bậc thầy luôn đề cao sự kết hợp giữa truyền thống và cách tân trong thơ Chỉ khi nào nhận thức rõ được mối quan hệ biện chứng giữa mới và cũ giữa cái nền tảng và sự sáng tạo thì mới trở thành một nhà thơ đích thực Thơ muôn đời mang tính kế thừa, đoạn tuyệt với truyền thống là cách tự chết ngắn nhất Truyền thống và cách tân

là một quá trình vận động đi lên không ngừng Thời đại là tấm gương lớn phản chiếu mọi giá trị truyền thống và cách tân Thời đại đòi hỏi con người phải cách tân, tức là phải thay đổi một số giá trị không còn phù hợp bằng một hệ thống giá trị mới đắc dụng hơn trong việc phản ánh con người và lịch sử khi cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ chấm dứt là khi đã thiết lập được hệ thống những chuẩn mực mới Nhưng những chuẩn mực này cũng chỉ là thước đo cho một giai đoạn lịch sử nhất định chứ hoàn toàn không phải là giá trị mà muôn đời phải lệ thuộc Tất yếu sẽ bị thay đổi như

nó đã làm thay đổi cái trước nó Nhìn nhận một tác phẩm văn học nói chung, thơ nói riêng bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ với thời đại và văn hóa Bởi hai trục tung- hoành này chính là thước đo chuẩn xác nhất cho việc khẳng định sức sống của một tác phẩm Để đạt đến những giá trị là truyền thống phải qua sự thanh lọc khắt khe của lịch sử và của nghệ thuật,

Trang 20

trước hết nó phải là những cách tân đích thực, và những cách tân đó trước

sự chuyển mình của lịch sử vẫn đứng vững và được thừa nhận thì mới được lưu danh trong kho tàng truyền thống “Kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật, vì thế là những phương diện không bao giờ tách rời nhau của quá trình văn học”

1.2 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy

1.2.1 Hành trình sáng tạo

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, thị

xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mĩ trong những năm chiến tranh Việt Nam Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của

bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam biên giới phía Bắc (năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là trưởng đại diện tại phía Nam Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường phổ thông Trung học Lam Sơn, Thanh Hóa Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với

chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam, trong tập “Cát trắng” Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký Năm 1977 ông tuyên bố

“gác bút” để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ nên các chất liệu tranh, tre, nứa, lá, thậm chí bao tải Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên giấy gió Ông đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền

in trên giấy gió (gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc) khổ 81cm x 111cm có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông

Trang 21

Nguyễn Duy được tặng giải thưởng Nhà Nước về Văn học nghệ thuật năm 2007

thích: Tre Việt Nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Đò Lèn, Sông Thao,… Ông được đánh giá cao trong thơ lục bát, một thể thơ có cảm giác

dễ viết nhưng viết được hay thì lại rất khó Thơ lục bát của Nguyễn Duy được viết theo phong cách hiện đại, câu thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển chặt chẽ Nguyễn Duy được giới phê bình đánh giá là người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này Bài thơ “Tre Việt Nam” của ông đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông

Nguyễn Duy còn có bộ ba bài thơ theo thể tự do nổi tiếng được công chúng biết tới viết về những trăn trở, suy nghĩ của ông về tương lai đất nước, tương lai của con người và môi sinh Bài thơ đầu mang tên

“Đánh thức tiềm lực” viết từ năm 1980 đến năm 1982 với những suy tư về

Trang 22

tiềm lực và tương lai của đất nước Bài thơ thứ hai được viết lúc ông đến

thăm Liên Xô và đến năm 1988 mới hoàn thành mang tên “Nhìn từ xa…Tổ quốc” Bài thơ viết về những trì trệ, bất cập mà ông mắt thấy tai nghe trong thời kỳ bao cấp, với những câu thơ rất mạnh mẽ, “như những nhát dao cứa vào lòng người đọc” (Lê Xuân Quang) Bài thơ thứ ba viết sau đó chục năm, mang tên “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” vẫn còn thi pháp với hai bài

thơ trước nhưng chủ đề lại rộng hơn: Những suy nghĩ về thiên nhiên, không gian và tương lai con người

Nguyễn Duy là lớp nhà thơ xuất thân từ cuộc kháng chiến chống

Mĩ, khi mà chiến tranh là đời sống và chiến đấu là lẽ sống của mỗi con

người Nguyễn Duy là con người mẹ “áo nhuộm bùn váy nhuộm nâu bốn mùa”, người mẹ của “đồng đất quê mình”, nên chất chân chỉ mộc mạc đã

ăn vào máu thịt nhà thơ Khi cuộc chiến bảo vệ quê hương mới khép lại, ta vẫn nghe những lời thơ nặng đằm tình cảm đồng đội, quê hương, lời thơ phát ra từ trái tim của người trẻ tuổi mở lòng mình để hiến dâng và yêu thương “Gừng càng già càng cay” - thơ Nguyễn Duy cũng vậy Thời gian

đã làm cho những câu thơ thêm sâu sắc, ý nghĩa Đọc thơ Nguyễn Duy trước và sau đổi mới ta dễ nhận thấy một sự chuyển mình trong lối suy nghĩ khiến thơ ông giàu chiêm nghiệm và đậm màu sắc triết lý Nếu trước đổi mới, dư âm của cuộc chiến tranh với chiến thắng lẫy lừng của toàn dân tộc ảnh hưởng tới nhiều bài thơ Nguyễn Duy, thì sau đổi mới, dòng thơ Nguyễn Duy thể hiện một cái nhìn khá toàn diện về cuộc chiến tranh với cả khóc cả cười, cả động, cả tĩnh, đồng thời tác giả đi sâu khám phá về cuộc sống con người- cả một thế giới đời thường xô bồ, ồn ã đi vào thơ ông trong những phút tĩnh lặng nhất của lòng mình Trong cuộc sống vội vã, con người có ít thói quen nhìn lại ngày hôm qua, thơ Nguyễn Duy cho ta những phút giật mình, để nhận ra đã bỏ qua chính mình, chạy theo những

Trang 23

gì khó lý giải được bằng sự gần gũi, bình dị Thơ Nguyễn Duy như lời đánh thức, đánh thức cõi tâm tình đang dần ngủ quên giữa bao bộn bề đời thường

Trước đổi mới, thơ Nguyễn Duy giống như một anh dân quê hiền lành vừa bước chân vào cuộc sống thành thị, mang nỗi nhớ nhung trăn trở

Tuổi thơ nào cũng sẽ hiện ra thôi

dù chúng ta cứ việc già nua tất

xin thương mến đến tận cùng chân thật

những miền quê gương mặt bạn bè…

(Tuổi thơ)

Và chính cái chân thật và tấm lòng sẻ chia ấy đã tạo cho lời thơ Nguyễn Duy có chút dịu dàng, đằm thắm, có cái thiết tha lẳng lặng đọng lại trong lòng độc giả, đọc những câu thơ ấy chợt xao động yêu thương:

Yêu mến ạ xin đừng buồn em nhé

dòng nước trôi đi, giọt nước lại rơi về…

(Sông Thao)

Nguyễn Duy và Nguyễn Bính hai nhà thơ khác thời nhưng đồng điệu ở cảm hứng hoài cổ Nguyễn Bính nhận ra rằng “ Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê” nhưng cũng chỉ

Trang 24

“nhắc nhở” như sợ người giận mà buông bỏ hết cái chân quê còn sót lại

“hôm qua em đi tỉnh về, hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” Còn Nguyễn Duy lại tự nhủ với chính mình, có lúc giật mình :

Đường xa nghĩ nỗi sau này… cũng kinh

Điệu hồn Nguyễn Duy trước đổi mới cũng chưa rời xa vị “tiền bối” Nguyễn Bính lắm bởi còn vương vít với hồn quê, hồn đất Nguyễn Duy nhớ tất cả những gì làm nên cái chân chất, mộc mạc nơi mình, thơ ông lúc này mang đậm phong vị ca dao Đọc những câu thơ ấy ta như được trở về

với miền tâm hồn quen thuộc của dân tộc “Mẹ ta không có yếm đào…”

Thơ Nguyễn Duy mang nỗi nhớ của một người con xa quê, đồng thời lại chất chứa dự cảm về tương lai, Nỗi nhớ quê như nhớ về một giá trị đẹp đẽ của văn hóa dân tộc sẽ dần nhạt nhòa với thời gian và nhịp sống Có thể nói, thơ Nguyễn Duy trước Đổi mới đã có chút nuối tiếc, muốn níu kéo những giá trị đẹp đẽ đó, đã lo lắng và đã buồn Buồn vì chính mình và buồn hơn ở quanh mình Đổi mới là cái bản lề, con người được tự do và tự chủ nhiều hơn nên cuộc sống vận động mạnh mẽ, có lúc lấn át những riêng tư và suy tư Thơ Nguyễn Duy chứa cái nhìn dữ dội hơn: Nếu trước đó chỉ là dự cảm thì bây giờ hiện thực phơi bày trước mắt, nếu trước đó là lời vỗ về an ủi mình và mọi người thì bây giờ là lời thẳng thắn, sắc cạnh có khi thành vết của tia máu Nhân vật “em” hiền hậu là vậy bỗng được nghe những tâm tình đẫm

Trang 25

màu chua chát, đắng cay: “Có đam mê nào giá rẻ không em ?…- có yêu

đương nào giá rẻ không em?”(Chợ) nhưng trong sâu thẳm của nỗi niềm ấy là

khao khát được sống thật mình, nên thơ Nguyễn Duy kết tinh thêm một tầng

ý nghĩa mới mang tính triết lý Tâm sự hồn hậu trước đó giành chỗ cho một nỗi lòng quằn quại, có lúc cô độc, không phải cái cô độc của con người trong thời đại (giống như nỗi niềm của con người trong Thơ Mới) mà cô độc của một thời đại trong một thời đại - thời đại tác giả được nuôi dưỡng và thời đại tác giả dựng xây Chính vì sự cô độc đó mà nhà thơ có phút lắng lại nhìn cuộc sống và nhận ra biết bao điều tưởng như trái ngược, vô lý mà lại hiển nhiên tồn tại:

Toác khói cháy nổ tởn

Trận mạc nào đi qua

dù đó mới chỉ là khao khát - bằng những trang sách - chữa khỏi những căn bệnh của xã hội đương thời

Thơ Nguyễn Duy cả trước và sau đổi mới đều mang đến cho người đọc những xúc cảm sâu lắng, bởi một điều giản dị là tác giả viết bằng một tấm lòng chân thật, bộc bạch hết mình cái tôi chân quê, cái tôi phục cổ ( Phục - khôi phục và khâm phục) Trong thơ Nguyễn Duy, vừa đậm dấu ấn truyền thống lại vừa thể hiện những cách tân đáng ghi nhớ Tác giả đã kết hợp hai giá trị này trong thơ mình như là một sự ngẫu nhiên khiến cho mỗi dòng thơ là một hơi thở khá tự nhiên và chân tình đến gan

Trang 26

ruột Đó là yếu tố quan trong bậc nhất để những thanh sắt nung đỏ đến được với những vết thương cần chữa trị Và điều tác giả mong đợi là những vết thương sẽ lên da non tiếp sức cho cuộc đời

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Duy:

Trong thơ Nguyễn Duy gần như không rõ một tuyên ngôn nghệ thuật nào Ta cảm như nhà thơ làm thơ để giãi bày những gì đang diễn

ra trong hồn cốt mình, có cái hăm hở, có cái lắng sâu, có cả cái “tào lao” như chuyện phiếm…thơ chính là mình, là mình không chút gọt rũa Chính

vì vậy nếu đi tìm một tuyên ngôn nghệ thuật trong thơ ông quả thật không

dễ dàng Nhưng hãy lắng nghe lời “thú nhận” chân thực của ông về “cái nghề thiên phú” này, ta sẽ hiểu được sâu sắc hơn thiên chức của một nghệ

sĩ - một nhà thơ

Nguyễn Duy nói : “Có đụng chạm xã hội mới ra cái thần hồn văn chương…Còn nhà văn …thật? ở anh nhà văn thật ấy có một nhà hiền triết, một nhà văn hóa, một nghệ sĩ Thực ra cái lõi của văn chương là triết

Từ cả những chuyện tầm phào nhất cũng có thể phả triết học vào, có thế mới dội lại được cuộc đời Chỉ khác nhà triết học trình bày triết học của mình bằng lý lẽ, khoa học, còn nhà văn bằng cảm xúc Thời buổi hiện đại rồi đâu có phải ai cũng thành nhà thơ được Làm thơ phải đọc, phải đi đó đi đây, không có kiến thức tổng hợp xã hội sao làm thơ ra cái thời hôm nay?

Để thành một nhà văn lớn ở nước mình khó lắm, phải là một nhà văn hóa lớn, không thâu tóm được tinh hoa văn hóa dân tộcvào một cá thể không thể trở thành một nhà văn hóa lớn! ” Chỉ bằng từng ấy ngôn từ ta đã hiểu khá trọn vẹn về quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Duy đặt ra cái trách nhiệm tất yếu của người làm thơ là phải đi, phải tìm hiểu – phải dấn thân mới tìm được bản chất cuộc sống, nhất là cuộc sống đầy biến động của hiện tại Nhưng không phải là bản chất nông cạn ai tìm cũng thấy, mà phải

Trang 27

là bản chất chứa trong đó triết lý của cuộc sống, triết lý của cảm xúc Thơ Nguyễn Duy giàu triết lý, những triết lý không thuần túy lý lẽ mà được làm nên từ cách lý giải hiện tượng cuộc sống rất tinh tế và thông minh, chen lẫn cảm xúc chân thành, như “Cơm bụi ca”, “Tháp Chàm” “Tiếng hát hòa bình” “Gặp một người lính trẻ”…Có khi triết lý từ những đối tượng tưởng như không thể triết lý: Ti vi, Sida, ly hôn, chứng khóan, cơm bụi… Thơ Nguyễn Duy bắt kịp với thời đại, nói được nỗi niềm của con người thời đại bởi trong quan niệm của nhà thơ luôn đề cao ý thức về thời đại mình đang sống Không thể chạy theo lối thoát ly riêng mình, thơ phải gắn với cuộc sống, dù cuộc sống ấy thế nào nhà thơ cũng phải đứng vững trên mảnh đất hiện tại Nguyễn Duy đã ý thức rất rõ thời cuộc, chính vì vậy nhận ra rất rõ nhiệm vụ của một người nghệ sĩ trong thời cuộc hiện tại Nhà thơ trân trọng

và yêu mến truyền thống, song đi vào những giá trị hiện đại lại cũng là một thế mạnh của nhà thơ, nó làm cho thơ ông vừa có cái mềm mại, ngọt ngào của truyền thống, lại vừa có cái linh hoạt, mới mẻ của hiện đại Chính vì có cái linh hoạt của hiện đại mà trong quan niệm của nhà thơ, nhà văn “có năm bảy loại” và có một loại nhà văn …thật Nhà văn Thật phải song hành cùng với nhà văn “năm bảy” kia trong một cộng đồng, và có thể ngay trong một con người Điều quan trọng là giữa hai loại nhà văn này có tồn tại đấu tranh? và nhà văn Thật có khẳng định được giá trị của mình hay không? Nhà văn Thật - đó là nhà văn trước hết phải có sự chủ động trong việc nhập cuộc, vào đời Nhưng nhà văn – giống như một giá trị tinh thần cao khiết, không thể làm việc dưới sự hối thúc của đồng tiền Có cực đoan quá chăng khi xem yếu tố tài chính là một động lực không xứng đáng để sáng tạo trong thời hiện đại này? Từ xưa, các cụ đã coi cái tài văn chương là cái tài thiên bẩm, và để xứng với cái thiên bẩm ấy phải là đạo làm người cao khiết, một cốt cách thanh cao, nho nhã…Nguyễn Duy là người “Phục cổ”

Trang 28

thì chẳng lý gì lại có thể phủ nhận một quan niệm đẹp và giàu tính nhân văn của cha ông mình Một nhà văn phải là một nhà văn hóa lớn! Nguyễn Duy đặt ra nhiệm vụ cho người nghệ sĩ – một nhiệm vụ cả cuộc đời chứ không phải ngày một ngày hai Và chính ông trên con đường sáng tạo của mình cũng không ngừng trau dồi vốn văn hóa, không chỉ riêng văn hóa dân tộc mình mà văn hóa nhân loại để làm giàu thêm cho tâm hồn và đẹp thêm mỗi trang thơ Nhưng nhà văn hóa đi kèm ấy không thể là cái gì hiện hữu phô trương mà là trong chiều sâu hiểu đời, hiểu người của nhà thơ Nguyễn Duy luôn tạo nên cái mới trong thơ bởi ông nhận thức một cách sâu sắc về

sự sáng tạo và trách nhiệm của nhà thơ trong thời đại, của một duyên kiếp nặng nợ với văn chương, với cuộc đời Trong thơ Nguyễn Duy, giá trị nào cũng được thể hiện trong sự kết hợp nhuần nhị giữa cái hiện đại và cái truyền thống, nó đã trả lời thực tế hơn cả cho quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Đó là thơ - sự kết hợp giữa những nỗ lực giữ gìn và tìm kiếm Đọc thơ Nguyễn Duy người ta luôn có cảm giác như được gặp gỡ hai con người, mới mẻ và truyền thống, nhưng ở tâm hồn nào cũng cuốn hút và gợi suy ngẫm Đó là cái riêng mà không phải nhà thơ nào cũng tạo dựng được trong thơ mình Nguyễn Duy với quan niệm nghệ thuật như được rút ruột ra này

và bằng những trang thơ đã chứng minh cho lối suy nghĩ nghiêm túc và đầy trách nhiệm về người nghệ sĩ, và ông đã khẳng định được vị thế của mình trong tâm thế của những người từng đọc thơ ông

Trang 29

đương nhiên phải phản ánh một hiện tượng nào đó, dù nhỏ bé hay rộng lớn ngoài đời Ở mỗi tác giả khác nhau có một cách phát hiện, tiếp cận và xử lý

đề tài riêng biệt

Đề tài quê hương đất nước và đề tài chiến tranh là hai mảng đề tài lớn,

có tính bao trùm các đề tài nhỏ, được các tác giả trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ quan tâm, tìm tòi, khai thác Nhà thơ Nguyễn Duy cũng không khác lớp người thời mình, hai đề tài quen thuộc đã bước vào thơ nhưng với những thanh sắc riêng, tạo nên một Nguyễn Duy chân quê mà lại độc đáo, mới lạ Đó chính là sự kết hợp nhuần nhị giữa những giá trị truyền thống và cách tân trong cách biểu hiện đề tài của ông

2.1.1 Đề tài quê hương đất nước

Không đi tìm định nghĩa về đất nước, không lý giải đất nước bằng một truyền thuyết nên thơ nào, Nguyễn Duy yêu đất nước quê hương mình từ sự gắn bó bền bỉ, gốc gác máu thịt Ông nhận thấy được bản chất của quê hương đất nước nằm ở con người, con người làm nên mọi giá trị vật thể và phi vật thể, ở điều này ta thấy Nguyễn Duy giống với Nguyễn Khoa Điềm:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Trang 30

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

(Đất nước)

Nhà thơ không viết trực tiếp về tình yêu đất nước, không ca ngợi đất nước, mà thông qua cách viết về con người, mà cụ thể là những người thân yêu: bà, cha mẹ, vợ, em, đồng đội …, những con người gắn bó với cuộc đời tác giả như chính quê hương đất nước - để thấy được một góc thiêng liêng mà không xa lạ của thơ ông Đất nước quê hương là con người, là một nhân vật trữ tình hối thúc cảm hứng, lúc nào cũng hiện hữu, ngự trị trong tấm lòng và tâm hồn của tác giả Đất nước, quê hương được coi là nguồn cội:

Từ dòng sông ấy

tôi đi

Giọt nước từ nguồn ra biển cả

Mát suốt đời tôi gió nồm sông Mạ

Mẹ và em sinh thành ở đó

Quê nhà và tình yêu của tôi

( Dòng sông mẹ)

Nguyễn Duy nhớ về quê hương, viết về quê hương là viết về vùng quê,

nơi ông sinh ra, cũng là nơi “mẹ và em sinh thành ở đó” Có lúc được gọi

thành tên: sông Mạ, cầu Bố, Thanh Hóa, Đò lèn …, có lúc chỉ là một “nơi ấy” ngắt lặng nỗi nhớ và tình yêu thương:

Nơi ấy

nhá nhem giữa quên và nhớ

đỉnh nuí hiện lên bóng bà và mẹ

Mây chiều hôm gánh gạo đưa ta

Tất tưởi đường xa cầu vồng ráng đỏ”

Trang 31

( Xó bếp)

Ta cảm như ẩn sâu trong yêu thương là nỗi niềm xót xa, như nuối tiếc, như thấy mình có lỗi với những vất vả, nhọc nhằn Và tất cả đã bất biến như

“đỉnh núi”, “mây chiều hôm”, “ như cầu vồng ráng đỏ” Nó đối lập với

“khoảng trống vẫn còn bỏ ngỏ” của tương lai Tương lai là cái mà cuộc đời hướng tới, xây dựng và hy vọng, song nói như Nguyễn Duy: quá khứ là khởi đầu của mọi đổi thay Hình ảnh bà và mẹ vẫn là hình ảnh của “con cò lặn lội

bờ sông”, không “khóc nỉ non”mà vụt lên đẹp đẽ, vĩ đại, hóa thân vào đường nét của thiên nhiên đất nước một cách tự nhiên như ngàn năm đã là như thế

Bà và mẹ hướng tới con cháu mình đang lên đường ra mặt trận bảo vệ Tổ Quốc, có phải vì thế mà Nguyễn Duy viết về đất nước quê hương là viết về tình cảm của những người mẹ ở khắp mọi miền đất nước Dù ở đâu, mẹ vẫn mang dáng hình của người sinh ra “ ta”, nuôi dưỡng và chờ “ta”, tác giả viết

về mẹ với những tình cảm ấm nồng giản dị như rơm rạ, mái gianh

Tổ quốc hiện lên không chỉ là giá trị phi vật thể thông thường, cái giá trị tinh thần mà Nguyễn Duy khắc được trên thơ mình đó là tình mẹ Cái nhìn mới lạ thoát khỏi ca dao hòa vào với cái nhìn thời đại Người mẹ của Nguyễn Duy có cái gì nhẫn nại chịu thương chịu khó, vừa bươn chải lo toan, vừa mang một nỗi niềm rất riêng của người phụ nữ cổ Không nói tới những chiến công, chỉ nói về những việc sớm hôm của mẹ, những sự cao cả có khi chỉ ở những việc bình thường, mẹ vẫn hiện lên ngang tầm đất nước Đọc “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” ta nhận thấy: ca dao là một, Nguyễn Duy là hai nói đến cái dáng mẹ trong khoảnh khắc rất hiếm hoi:

Nhìn về quê mẹ xa xăm

Lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

Trang 32

Tác giả mượn câu ca dao để tưởng nhớ đến mẹ, nhưng sự nhắc lại này như kéo ta ùa vào lòng mẹ, bởi thân quen quá, dân dã quá Cái hơi ấm ổ rơm kia là tấm lòng mẹ, hơi ấm của bốn nghìn năm lúa nước

Mẹ là đất nước, là lời ru, lời kết tinh từ tâm hồn, từ tình yêu của con người đất Việt Lời ru tha thiết về những cái thật giản đơn, nhỏ bé, nhưng “

Ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” Bởi lời mẹ ru là điệu hồn dân tộc, ngàn vạn kiếp người đã bồi đắp nên và giữ lời ru trong tim, trong trí não Cái lớn lao của lời ru xuất phát từ chính người cất giữ nó, trân trọng và hiểu giá trị của nó - giá trị của lẽ đời - mà một cuộc đời nhỏ bé làm sao hiểu hết lẽ đời ngàn năm? Có lúc tác giả chợt băn khoăn- sự băn khoăn

của con người biết gìn giữ cội nguồn: “ Bà ru mẹ, mẹ ru con, biết mai sau các con còn nhớ chăng?” Đọc bài “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa”, bất kỳ ai cũng

xúc động nhớ về mẹ Câu thơ không chỉ ý nghĩa ở những hình ảnh nó gợi ra,

mà cao hơn là giá trị suy tưởng đặt vào lòng người đọc

Người mẹ trong thơ Nguyễn Duy như được vẽ nên bởi những màu được chiết ra từ đất, từ cây cỏ, từ nước, phong cách bức vẽ đặc chất phương Đông: chỉ phác bắt hồn, không ưa nhiều sắc màu và chi tiết rườm rà Mẹ bước vào thơ bằng tất cả những nét chân thật đời thường, con người của “ đồng đất quê mình” Tác giả thường gợi cử chỉ của mẹ, chứ không biểu lộ lời nói đã khiến ta cảm nhận được sự im lặng của tảo tần, sự im lặng chứa cái ngẫm suy dành cho con, lớn hơn nữa là dành cho dân tộc

Nếu Mẹ là đất nước quê hương ở phần yêu thương, chứa cái nhìn âu yếm và tác giả như có lỗi với những nhọc nhằn thì đến cha - ta bắt gặp niềm

tự hào của người con, một niềm tự hào cũng hết sức giản dị Cha đồng hiện với lịch sử, với những hình ảnh mạnh mẽ hơn, thoáng đãng hơn:

Nhà tôi đó…không cổng và không cửa

Ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào

Trang 33

Cha tôi trổ rất nhiều cửa sổ

Gió nồm nam thoải mái ra vào

(Cầu Bố)

Lòng tự hào thốt lên thành lời “ cha tôi đó…”, rồi để thấy được rằng: cha là hiện thân của lớp người ở một dân tộc anh hùng: “ cha tôi đó… dân làng tôi vậy đó - xả hết mình khi nước gặp tai ương” Ta thường bắt gặp thơ viết về mẹ nhiều, mà ít khi thấy thơ về cha, đến bài thơ “Cầu Bố” của Nguyễn Duy- bài thơ có tiêu đề là tên cây cầu nhỏ bắc qua sông nhà Lê, nơi quê hương tác giả, nhưng lại viết về cha - phải chăng, cha cũng chính là phiên bản của “ Cầu Bố” Thanh Hóa - của quê hương Nguyễn Duy viết về cha cũng không nhiều, chỉ thoáng qua thôi, song thơ viết về mẹ đằm đến bao nhiêu thì thơ về cha cũng nặng trĩu mến thương nhường ấy:

không răng…cha vẫn cười khì

đời là rứa kể làm chi cho rầu

….ruột ta thắt, mặt ta nhăn

Cha ta thì cứ không răng cười cười

Ta đi mơ mộng trên đời

để cha cuốc đất một đời chưa xong”

(Về làng)

Tinh thần lạc quan hay sự nhẫn nại chứa lòng tin tưởng của người cha thoát ra từ chính lối sống ông cha Nụ cười trong khốn khó nâng đỡ tâm hồn con, xoa dịu nỗi xót xa của con, cái “cười khì” như vô tư chứa đầy tâm cảm,

đó là cái nụ cười nén đau thương lại để yêu thương Một người cha rất cụ thể - cha của tác giả - nhưng mang dáng hình của bao người cha trên khắp nẻo quê Đất nước - một người cha bước ra từ truyền thống văn hoá dân tộc, và đó cũng là một nét khá đắt giá cho hình ảnh tổ quốc, quê hương trong trang thơ

Nguyễn Duy

Trang 34

Bài thơ Với cha là lời đối thoại giữa cha và con, một đoạn đối thoại

không lạ trong cuộc sống giữa người cha và người con trưởng thành, nhưng bước vào thơ Nguyễn Duy ta thấy như đoạn đối thoại này không phải là cái gì hằng ngày bình thường nữa, mà trong lời của cha chứa sự thăng trầm của bảy mươi năm đời người- bảy mươi năm của quê hương đất nước Cha không thể

“ tiếc mà chi vườn cũ với cây già”, bởi đó là linh hồn, là máu thịt Sự gắn bó giữa con người với quê hương được hình thành bởi thời gian với những biến động lịch sử Để còn lại “ vườn cũ với cây già”, con người phải trải qua bao cuộc đổi thay, phải chiến đấu, phải hy sinh ngay cả mạng sống của mình để giữ lại Những phút cuối cùng của cuộc đời không phải là phút hưởng thụ một cuộc sống khác mình, mà là phút tận hưởng cái thanh bình, nồng ấm, cái giá trị mà mình đã dày công dựng xây và giữ gìn Lời đối thoại bình thường nhưng đã truyền lại tình yêu quê hương đất nước - thứ tình cảm nồng nàn của truyền thống dân tộc - cho muôn đời sau Và chẳng cần đến “ bảy mươi rồi mới hiểu được lòng cha”, khi viết nên bài thơ này là lúc Nguyễn Duy muốn chia sẻ tâm cảm về quê hương thông qua lời cha với tất thảy mọi người con của Tổ Quốc

Có thể nói, Nguyễn Duy dành những trang thơ khá súc tích và chứa đựng nhiều nỗi niềm về quê hương, đất nước, nhất là khi viết về cha mẹ Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi tình cảm và sự lớn lao của đất nước quê hương và cha mẹ đã hòa làm một, đồng hiện trong cảm xúc Phần thơ này tuy không xuất hiện trong nhiều bài thơ, nhưng chính vì thế nó đã làm nên một góc riêng sâu đằm trong thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy không định nghĩa, không lý giải về đất nước, nhưng đọc thơ Nguyễn Duy ta thấy rất rõ mạch nguồn cảm xúc khá dạt dào, chảy tự nhiên như không nằm trong ý đồ tác giả Một đất nước chân thực như còn nguyên mùi rơm rạ, bùn đất Sở dĩ ca dao còn mãi bởi ca dao muôn đời là hồn

Trang 35

cốt quê hương, thơ Nguyễn Duy có chút gì như thế, nỗi niềm về mẹ - cha của

ca dao, tình yêu của ca dao, và nỗi nhớ thương cũng của ca dao Và ta nhận ra một điều rằng: cái bản chất sâu xa của đất nước quê hương trong thơ Nguyễn Duy chính là con người - chủ thể của văn hóa chủ thể làm nên mọi giá trị đất nước

Đất nước quê hương qua những địa danh được nhìn một cách toàn diện hơn, không chỉ là quê hương- nơi sinh ra và nuôi dưỡng mình lớn lên mà một quê hương - đất nước, không chỉ có tình cảm của con người cá nhân mà còn bao hàm cả con người cộng đồng Tuy nhiên cảm xúc đã làm nên sự kết hợp hài hòa khăng khít giữa riêng và chung - giữa cá nhân và cộng đồng Miền đất nào cũng có những trăn trở, bởi nhà thơ đã ghé nỗi trăn trở của mình vào đó:

Đèo Cả…

… đỉnh núi thêm bia đá trông theo

Thêm mùi hoa dại đi ngang gió

Người đi hun hút bóng qua đèo…

Cái “ hun hút bóng qua đèo” ở cuối bài thơ “ Đèo Cả” như để lại một khoảng trống trong lòng nhà thơ, khiến ta cảm thấy có sự xót xa thương cảm với những số phận nơi đèo Cả Rồi vết dầu bảy sắc “hoang mang” không chỉ

là nỗi niềm riêng luyến tiếc cho sự thanh sạch của cảnh sắc mà là nỗi niềm chung của xã hội về môi trường

Nhìn qua nhiều địa danh, đất nước được nhìn ở nhiều góc độ hơn Nguyễn Duy không né tránh những phần hiện thực đang làm mờ đi những tên đất tên sông, mặc dù những điều này làm ông dằn vặt và có khi đau khổ Yêu quê hương đất nước nhưng ca ngợi và bộc lộ tình cảm lại ít khi bộc trực mà kín đáo, phần nhiều nhờ cái e ấp của một mối tình ( “Sông Thao” “Lạng Sơn”

“Đà Lạt một lần trăng”… ) Gần như miền đất nào cũng gắn với “ em”- “ em”

và đất ấy đã đặt duyên nợ vào tôi để ra đi còn đầy lưu luyến Dường như sự

Trang 36

sóng đôi này biểu hiện cái nhìn nên thơ của tác giả về mỗi vùng đất, đất là em- giống như người con gái đẹp làm mê đắm kẻ si tình, muốn chinh phục nhưng không nỡ rời xa, muốn được nâng niu, trân trọng

Cuộc hành trình tới những miền đất khác nhau của tổ quốc đã mở ra cái phông rộng lớn về cuộc đời Nguyễn Duy thả sức trải nghiệm và gom góp, cóp nhặt vốn sống Tất cả được nuôi dưỡng trong tâm hồn nhân ái, những trang thơ viết ra giống như những trang tùy bút ở chỗ thật riêng Cảnh thì thật như một điều hiển nhiên bởi tên đất luôn được biểu lộ trực tiếp, nói đến đất là

ta lại nghĩ tới người, tới cảnh; còn cái riêng là ở tình người - nhà thơ coi cảnh như người để khám phá sức sống và tâm hồn của đất, mang đến cho độc giả thứ cảm xúc rất nhân văn Nguyễn Duy với cách gọi tên riêng những vùng đất quê hương trong thơ đã làm gần khoảng cách với ca dao xưa Ca dao gọi tên

để ca ngợi nên vùng đất có đặc trưng gì là đưa vào, nó giống như cách“ lập thương hiệu” ngày nay, điều đó cho thấy tâm hồn mộc mạc, hồn hậu của ngày xưa:

- Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh…

- Bình Định có núi Vọng Phu

Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

Thơ Nguyễn Duy có cái hồn hậu của ca dao nhưng không phải chỉ giới thiệu về vùng đất mà rộng hơn là hiểu biết, sâu hơn là yêu thương vùng đất ấy nữa Nguyễn Duy đi nhiều, đến đâu cũng thấy yêu mến, bởi mang trong mình cái nhìn của con người khao khát được khám phá, và hơn tất cả đó là tình yêu quê hương đất nước làm nền tảng cho mỗi bước đi

Đề tài quê hương đất nước còn được Nguyễn Duy khai thác ở hai đối cực: đẹp - đau thương Đó vừa là cái nhìn thẳng thật của nhà thơ, nhưng cũng

là cái nhìn mang đậm triết lí phương Đông - cái nhìn hài hòa âm dương Vạn

Trang 37

vật đều sinh ra từ âm dương và vận động theo nguyên lý âm dương Quê hương đẹp ở con người, ở đường nét màu sắc, ở vốn văn hóa, ở lịch sử, nên bên trong cái đẹp ấy là những khốn khó, khổ đau Dường như trong đau thương quê hương càng bộc lộ được cái bản chất quý giá, giống như hạt ngọc trai Nguyễn Duy đã nhìn thấy cả cát và ngọc, và nhìn thấy quá trình rút ngọc đau đớn Vẻ đẹp và đau thương được thổi vào thơ Nguyễn Duy chân thực bởi bắt nguồn từ tâm hồn rất Việt Nam nhân ái, giản dị Gần như đẹp và đau thương là hai đặc tính tất yếu của quê hương đất nước Và điều mới mẻ của Nguyễn Duy chính là ở phương diện đau thương Tác giả không ngại ngần

mở lòng mình ra để cảm nhận mọi đau đớn của cuộc đời - của đất nước Từ nỗi đau mất mát của chiến tranh, nỗi đau nghèo khổ do thiên tai, đến nỗi đau của một truyền thống đang mất dần đi những nét đẹp ngàn năm…tất cả bắt đầu được tìm ra từ những điều rất nhỏ Một ánh mắt ăn mày, một chén rượu xuân, một ánh trăng suông Và tất cả được nhìn thông qua một hình ảnh, một

sự việc, chứ không biểu lộ trực tiếp nên“ bớt phần ca thán”, phải chăng, đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam - không ưa nói thẳng vào nỗi đau để còn phần lạc quan mà đứng dậy? Nhưng ở đây hãy khoan nói đến nỗi đau thương từ chiến tranh - nỗi đau lớn lao và vẫn còn âm ỉ này, hãy

để dành phần sau, những nỗi đau thương còn lại cũng đã làm nên một Nguyễn

Duy mới mẻ, riêng biệt Dân ơi - Nguyễn Duy viết khi tết ở vùng quê bị lụt

năm 1973 - bắt đầu bằng chút ấm lòng của tình người

Lụt trắng đồng mà không trắng lòng

Bạn đón tôi hoa đào và xôi gấc

Be tết không đầy nhưng không nhạt

Uống rồi nghe có bão bên trong

Nhưng khi đọc bài thơ ta cảm giác như bên ngoài trời đang mưa bão Nguyễn Duy không phải đứng ở phương diện một con người bình thường

Trang 38

nữa, tác giả muốn dang tay ra ôm trọn quê nghèo, những câu hỏi như xoáy sâu vào tâm can, hỏi cuống quýt vội vã như cơn gió bão táp vào lòng người Hiện thực của quê hương được diễn tả bằng những câu thơ nhẹ nhàng, đơn giản, nỗi đau về sự đói nghèo như là cái gì quen thuộc lắm: “lại lụt”, “lại tỏng tong”, “lại lóp ngóp”, gộp laị làm thành cái “hoang lòng” - mênh mông không

có một điểm tựa, không có chút ấm nóng Bao nhiêu câu hỏi đấy chỉ để chia

sẻ, để đau cùng bởi lực bất tòng tâm, làm sao có thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo?

Từ những năm 1980, Nguyễn Duy đã nhìn thấy một đối nghịch mà phần lớn chúng ta đều bị ru ngủ: Đất nước giàu có mà con người lại nghèo đói? Điều tác giả muốn gửi gắm là: Sự giàu có kia nếu không được “đánh thức” sẽ ngủ yên trong đất, sự quý giá sẽ trở thành vô giá trị, cao hơn nữa là đánh thức nhận thức của những con người đang yên trí mình sẽ giàu mà

không chịu vận động Hiện thực cuộc sống hiện lên trong “Đánh thức tiềm lực” là hiện thực về tư duy con người thời đại Thấy được vẻ đẹp truyền

thống, nâng niu và gìn giữ, nhưng nhà thơ cũng thấy được cái hạn chế được tích tụ bao đời, điều mà làm cho người khác hoặc là ngại nói, hoặc là không dám nói đến, ông mang khát vọng chữa trị những thứ bệnh truyền kiếp ấy bằng cách nói thẳng, nói thật, không dấu diếm:

Những cái đẹp thế kia em có chạnh lòng không?

Cái đẹp gợi về cái ngày xưa ngày xửa

nhịp theo tiết tấu chậm buồn

cái đẹp ấy lẽ ra không nên tồn tại nữa

Tác giả dùng cái phông cổ xưa để làm bật nhu cầu hiện đại, dùng sự đối lập giữa tiềm lực cần đánh thức và nguy cơ phải ru ngủ để lột tả chân thực từng đường nét cuộc sống Đau thương của đất nước mà Nguyễn Duy nhìn

Trang 39

thấy là điều mới mẻ, mặc dù nó đã tồn tại hàng ngàn năm Có phải do nó đã quá quen thuộc mà ta không còn nhận ra nữa?

Đề tài quê hương đất nước trong thơ Nguyễn Duy được biểu hiện khá nhiều mặt, nó chứng tỏ một cái nhìn không đơn giản, hời hợt: nhìn từ bản chất, nhìn từ nhiều vị thế, nhìn bằng nhiều tâm thế…và còn một cái nhìn nữa: nhìn Tổ Quốc từ xa - đến đây Nguyễn Duy bộc lộ được nét cách tân đáng quý của mình: không bước theo một khuôn đường có sẵn Thường thì khi người ta bước ra một cuộc sống mới lạ sẽ mặc sức tìm tòi tận hưởng, có người vui thú, cũng có người nhìn lại để so sánh, nhưng Nguyễn Duy nhìn lại để chiêm nghiệm, để thấy rõ hơn cái quê hương mỗi ngày mình vẫn sinh sống và suy

nghĩ “ Người ta có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi trái tim con người” [43], Nguyễn Duy là chứng nhân sinh động và chân thực cho câu danh ngôn này Phải chăng Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là cái nhìn gần khiến con người thấy mất mát, nhưng khi đi

xa thì thật lạ : “có gì lạ quá đi thôi - khi gần lại mất…xa xôi lại còn” Tổ quốc được nhìn từ xa là khi tác giả sang nước ngoài nhìn về quê hương và nhìn bằng nôĩ nhớ thương, cái nhìn lúc này có vẻ công bằng và khách quan hơn, bởi đất nước được đặt trong hệ thống các nền văn hóa dân tộc khác nhưng cũng trĩu nặng tâm cảm Nhìn từ xa, Tổ Quốc hiện lên với vẻ đẹp ý vị của lối sống:

Trang 40

“Mắt lá răm” không phải ở người con gái Việt Nam, mà lại ở nụ cười của người con gái Nga, vừa thể hiện cái nhìn trìu mến với “em” - không xa lạ

mà gần gũi đáng yêu - lại vừa dâng trào một nỗi nhớ về quê nhà, về người con gái mắt lá răm tình tứ

Tổ Quốc được nhìn từ xa đã tạo nên những mới mẻ trong cách cảm nhận về đất nước- quê hương Thơ viết về Tổ Quốc của Nguyễn Duy vừa có chất trữ tình trìu mến, vừa có chất tự sự chân thực Vì thế, nếu nói rằng: muốn hiểu rõ Việt Nam hãy đọc thơ Nguyễn Duy thì cũng không phải nói quá Đất nước với con người, truyền thống, hiện đại…đều hiện hình sinh động trong trang thơ Với đề tài này, Nguyễn Duy đã làm nên một đất nước quen thuộc, nhưng rất riêng Nguyễn Duy - chỉ Nguyễn Duy ta mới thấy một đất nước- quê hương toàn vẹn đến thế

2.1.2 Đề tài chiến tranh

Cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc là đề tài phong phú cho văn học, nhất là đối với lớp tác giả trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhà thơ Nguyễn Duy đã dâng hiến tuổi trẻ mình cho độc lập dân tộc trên khắp các chiến trường, phải chăng vì thế mà tác giả luôn có cái nhìn toàn vẹn về cuộc chiến? Hiện thực chiến tranh trong thơ Nguyễn Duy, nếu đem so sánh về mặt sự kiện thì chắc không thể nhiều bằng những tác phẩm văn học của Bảo Ninh, Chu Lai…nhưng hiệu quả cảm xúc thì không kém phần dữ dội Nguyễn Duy là một trong những người mở đầu khuynh hướng phi sử thi - khuynh hướng đậm nét xuất hiện trong văn học Việt Nam vào những năm 80 của thế kỷ XX Sau năm 1975, chấm dứt chiến tranh con người trở về cuộc sống đời thường, cuộc chiến tranh được nhìn dưới một lăng kính bình tĩnh và khoảng cách khách quan hơn Chính vì thế xuất hiện cái nhìn phi sử thi - nhưng không có nghĩa là phủ nhận những gì đã có được từ trước - mà nhìn cuộc chiến ở nhiều mặt đối lập: bi- hùng, chiến thắng- chiến bại, anh dũng -

Ngày đăng: 09/02/2016, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w