Trong Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngành Giáo dục và Đào tạo Tu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết rằng nội dung của bản luận văn này chưa được nộp cho bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình đào tạo cấp bằng nào khác
Tôi xin cam kết rằng bản luận văn này là nỗ lực cá nhân tôi Các kết quả, phân tích, kết luận trong luận văn này (ngoài các phần được trích dẫn) đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều chính xác và được ghi
rõ nguồn trích dẫn
Ngày 25 tháng 6 năm 2015
Tác giả
Vũ Đình Thuận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới
PGS.TS Phạm Hồng Quang, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ
em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang cùng gia đình
và các bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khích lệ em trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng, song do điều kiện và thời gian hạn chế nên trong luận văn của em chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo để luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Tác giả
Vũ Đình Thuận
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
4 Giả thuyết khoa học 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG THPT 9
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.2 Các khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Dân chủ 10
1.2.2 Đánh giá 17
1.2.3 Quy chế 20
1.2.4 Quy chế dân chủ 20
1.2.5 Quy chế dân chủ ở cơ sở 20
1.2.6 Đánh giá Quy chế dân chủ 21
1.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở trường THPT 22
1.3.1 Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân 22
Trang 61.3.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế
dân chủ ở trường học 24
1.3.3 Những yêu cầu của việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở trường Trung học phổ thông 25
1.4 Nội dung đánh giá Quy chế dân chủ trong trường Trung học phổ thông 29
1.4.1 Đánh giá về ban hành , sửa đổi bổ sung những quy đi ̣nh , quy chế thực hiê ̣n dân chủ trong nhà trường 29
1.4.2 Đánh giá về thực hiê ̣n các chính sách của Nhà nước về chế độ, quyền của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh 29
1.4.3 Đánh giá về công khai tài chính , kinh phí hoa ̣t đô ̣ng nhà trường 30
1.4.4 Đánh giá về thực hiện tuân thủ nề nếp, tác phong, năng lực giảng dạy của giáo viên 31
1.4.5 Đánh giá về thực hiện dân chủ trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 31
1.4.6 Đánh giá về thực hiện thanh tra, kiểm tra, khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nhà trường 32
Tiểu kết 33
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH TUYÊN QUANG 34
2.1 Đối tượng, mục đích, phạm vi, nội dung, phương pháp khảo sát 34
2.1.1 Đối tượng khảo sát 34
2.1.2 Mục đích khảo sát 34
2.1.3 Phạm vi khảo sát 34
2.1.4 Nội dung khảo sát 34
2.1.5 Phương pháp khảo sát 35
2.2 Kết quả khảo sát 36
2.2.1 Sơ bộ một số kết quả giáo dục của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang 36
Trang 72.2.2 Kết quả khảo sát 39
2.3 Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong trường Trung học phổ thông Chuyên tỉnh Tuyên Quang 45
2.3.1 Thực trạng đánh giá về ban hành , sửa đổi bổ sung những quy định , quy chế thực hiê ̣n dân chủ trong nhà trường 45
2.3.2 Đánh giá về chế độ thi đua , khen thưởng , nâng lương , nâng nga ̣ch , chuyển ngạch đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường 48
2.3.3 Đánh giá về công khai tài chính , kinh phí hoa ̣t đô ̣ng của nhà trường 50
2.3.4 Đánh giá về thực hiện tuân thủ nề nếp, tác phong, năng lực giảng dạy của giáo viên 51
2.3.5 Đánh giá về thực hiện dân chủ trong rèn luyện, kết quả kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 53
2.3.6 Đánh giá về thực hiện thanh tra, kiểm tra, khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nhà trường 55
2.4 Đánh giá chung thực hiện Quy chế dân chủ trong trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang 56
2.4.1 Ưu điểm 56
2.4.2 Hạn chế 57
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 59
Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH TUYÊN QUANG 63
3.1 Nguyên tắc xác lập các biện pháp 63
3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 63
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ 63
3.1.3 Đảm bảo tính thống nhất, đồng thuận 63
3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 63
Trang 83.2 Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả thực hiện
Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh
Tuyên Quang 64
3.2.1 Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh về tự đánh giá, tự giám sát thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường 64
3.2.2 Bổ sung, hoàn thiện các hình thức, các biện pháp tổ chức tự đánh giá để thực hiện tốt Quy chế dân chủ 67
3.2.3 Củng cố và tăng cường các kỹ thuật kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ 71
3.2.4 Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng, công tác quản lý của Ban giám hiệu và hoạt động của các đoàn thể theo hướng tăng cường đánh giá việc Quy chế dân chủ 76
3.2.5 Xây dựng các điều kiện, có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích trong việc đánh giá thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường 82
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của giải pháp 84
3.4.1 Kết quả khảo nhiệm tính cần thiết 85
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi 86
Tiểu kết 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Kiến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng:
Bảng 2.1 Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm của HS trường THPT
Chuyên tỉnh Tuyên Quang từ năm 2009 - 2014 36 Bảng 2.2 Kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh từ năm 2009 - 2014 37 Bảng 2.3 Kết quả thi học sinh giỏi cấp quốc gia từ năm 2009 - 2014 38 Bảng 2.4 Nhận thức của đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường về vai
trò, ý nghĩa của Quy chế dân chủ 39 Bảng 2.5 Hình thức thực hiện Quy chế dân chủ trong trường THPT
Chuyên tỉnh Tuyên Quang 41 Bảng 2.6 Nội dung thực hiện Quy chế dân chủ trong trường THPT
Chuyên tỉnh Tuyên Quang 42 Bảng 2.7 Thực trạng đánh giá về ban hành, sửa đổi bổ sung những quy
đi ̣nh, quy chế thực hiê ̣n dân chủ trong nhà trường 45Bảng 2.8 Đánh giá về chế đô ̣ thi đua , khen thưởng, nâng lương, nâng
ngạch, chuyển nga ̣ ch đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên
trong nhà trường 48 Bảng 2.9 Đánh giá về công khai tài chính , kinh phí hoa ̣t đô ̣ng 50Bảng 2.10 Đánh giá về thực hiện tuân thủ nề nếp, tác phong, năng lực
giảng dạy của giáo viên 51 Bảng 2.11 Đánh giá về thực hiện dân chủ trong học tập, rèn luyện, kiểm
tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 53 Bảng 2.12 Đánh giá về thực hiện thanh tra, kiểm tra, khiếu nại, tố cáo,
phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nhà trường 55 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết 85 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi 86
Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các biện pháp 84
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tác phẩm "Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky", V.I.Lê
nin đã khẳng định một tư tưởng khái quát: "chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần" [44, tr.321]
Nền dân chủ mà nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ thể hiện đầy đủ nhất quyền của nhân dân lao động làm chủ đất nước, xã hội và được hưởng các lợi ích chính đáng do pháp luật của nhà nước bảo đảm Sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc quản lí các công việc của nhà nước và xã hội chính là đặc trưng cơ bản nhất của nền dân chủ của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức bản chất và vai trò của dân chủ Theo Người, dân chủ nghĩa là dân là chủ, dân làm chủ Không thể
có dân chủ nếu dân không được làm chủ Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương
do dân cử ra Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [28, tr 270] Vì thế, đối với Người,
"Thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn" [29, tr.249]
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của dân chủ và phát huy dân chủ trong công cuộc đổi mới đất nước Ngay từ Đại hội VI - Đại hội khởi đầu
sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã khẳng định "Bài học "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng" bao giờ cũng quan trọng Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng, ở đâu, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì
ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng" [17, tr 115] Cùng với bài học "lấy dân
làm gốc", Đảng ta cũng đề ra phương châm "Dân biết, bân bàn, dân làm, dân
Trang 12kiểm tra" nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân, tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước Từ đó đến nay, trong văn kiện của các kỳ Đại hội và trong nhiều Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã đều coi trọng vấn đề phát huy dân chủ, mở rộng dân chủ, thực hiện dân chủ hoá, làm cho các giá trị dân chủ ngày càng đi vào đời sống xã hội, tạo ra động lực, sức mạnh tổng hợp để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Sau gần 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn trong đổi mới kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng về phát huy dân chủ của nhân dân Quyền làm chủ của nhân dân đã từng bước được thể chế hoá trong chính sách, pháp luật của Nhà nước
Nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời, khắc phục những biểu hiện mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, ngày 18 tháng 2 năm 1998, Bộ Chính trị (Khoá VIII) đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở Chính phủ đã thể chế hoá Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị bằng Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan Sau 6 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ, Chính phủ
đã có 2 lần sơ kết đánh giá kết quả triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên phạm vi toàn quốc, uốn nắn những thiếu sót, khuyết điểm, từng bước hoàn thiện các văn bản để dân chủ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng
Cụ thể hoá Nghị định 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 01 tháng 3 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 04/2000/QĐ- BGD-ĐT về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường Ngành Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang căn cứ vào Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Bộ trưởng Bộ
Trang 13Giáo dục và Đào tạo, Nghị quyết số 40b-NQ/TU ngày 18/3/1998 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, đã tổ chức triển khai học tập, hướng dẫn thực hiện đối với các cơ sở giáo dục trên địa bàn toàn tỉnh Trong Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngành Giáo dục và Đào tạo
Tuyên Quang, đã nêu: "Trong những năm qua, việc chỉ đạo, thực hiện Quy chế dân chủ trong toàn ngành đã được triển khai và thực hiện đúng, có tác động trực tiếp đến việc duy trì và củng cố, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo toàn diện trong từng đơn vị, trường học Xây dựng khối đoàn kết nhất trí, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng phát triển vững chắc" [39, tr 9]
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, các nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Bộ GDĐT và chỉ đạo của Sở GDĐT Tuyên Quang, trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang đã triển khai thực hiện tương đối kịp thời, nghiêm túc việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường Sau 15 năm thực hiện, nhà trường đã sơ kết và
nhận định: "Kết quả của việc phát huy dân chủ được thể hiện: nội bộ đoàn kết; các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội được ngăn chặn, đẩy lùi; các nhiệm vụ của nhà trường được hoàn thành tốt" [41, tr 6]
Có thể nói Quyết định số 04/2000/QĐ- BGD-ĐT của Bộ trưởng Bộ GDĐT về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường được ban hành kịp thời, đáp ứng sự mong đợi của đông đảo giáo viên trong cả nước nói chung và cán bộ, giáo viên trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang nói riêng nên được đội ngũ giáo viên hưởng ứng rộng rãi, đã đi vào cuộc sống tương đối nhanh, đến nay đã được thực hiện thường xuyên trong các hoạt động của nhà trường Đã có sự chuyển biến đáng kể nhận thức cán bộ quản lý, giáo viên về dân chủ, làm cho mọi người quan tâm và tham gia thực hiện tốt việc phát huy quyền làm chủ trong nhà trường; các chủ trương của Ðảng, chính
Trang 14sách pháp luật của Nhà nước được giáo viên hiểu biết rõ, hăng hái tham gia góp
ý kiến và thi đua thực hiện nên đạt kết quả tốt hơn; phần lớn các vướng mắc trong nhà trường được giải quyết ổn thỏa từ chính nhà trường, đã góp phần xây dựng khối đoàn kết nội bộ, tạo không khí chan hòa, cởi mở trong tập thể, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội của địa phương Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cũng đã góp phần tác động tích cực tới việc củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý của nhà trường, xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và thúc đẩy việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng; củng cố, xây dựng nhà trường trong sạch, vững mạnh; thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, cải tiến sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của nhà trường, làm chuyển biến tác phong công tác của cán bộ, giáo viên; đổi mới phương thức, nội dung hoạt động của nhà trường theo hướng "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và
có trách nhiệm với dân", là biện pháp quan trọng để khắc phục quan liêu, tham những, lãng phí
Tuy nhiên, so với yêu cầu của Chỉ thị 30 và Quyết định số 04, những kết quả trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường chưa đồng đều và vững chắc, một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên chưa nắm vững tinh thần Chỉ thị của Ðảng, Nghị định của Nhà nước và Quyết định của Bộ GDĐT về vấn đề này Thời gian đầu, việc triển khai việc thực hiện Quy chế dân chủ còn chậm và lúng túng, xây dựng quy chế còn dập khuôn, máy móc, chưa phù hợp với thực tế, khó thực hiện, có tình trạng khoán trắng việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cho ban chỉ đạo, không kiểm tra thường xuyên để có chủ trương và giải pháp đồng bộ, thiết thực nên việc thực hiện còn mang nặng tính hình thức Tình trạng vi phạm quyền làm chủ của cán bộ giáo viên vẫn còn, có khi nghiêm trọng; những biểu hiện quan liêu, tiêu cực không được phát hiện và đấu tranh ngăn chặn, khắc phục kịp thời, làm giảm lòng tin, gây bất bình trong tập thể giáo viên, dẫn đến khiếu kiện vượt cấp Quan niệm
và sự chỉ đạo xây dựng Quy chế chưa thống nhất, kết quả chưa đồng đều, mang
Trang 15nhiều ý muốn chủ quan của người lãnh đạo, mang tính đối phó với sự kiểm tra của cấp trên Việc thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường còn hình thức, thiếu nền nếp, không đồng bộ, hiệu quả chưa cao Do đó, chưa khai thác và phát huy được sức sáng tạo to lớn của cán bộ, giáo viên và học sinh để tạo ra động lực thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Tình trạng mất dân chủ, vi phạm các quy định về quản lí chuyên môn, tài chính, quản lí cán bộ còn xảy ra, có lúc khá phức tạp
Từ những điều làm được và chưa làm được trong việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang thời gian qua đặt
ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải tiếp tục giải quyết, đó là:
- Tại sao việc đánh giá kết quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường còn có tồn tại, hạn chế? Trong những biểu hiện tiêu cực của nhà trường mà các đoàn thanh tra, kiểm tra của cấp trên đã nêu, có phải có nguyên nhân từ việc xây dựng, thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường còn có vướng mắc, dẫn đến vi phạm quyền làm chủ của cán bộ, giáo viên và học sinh hay không?
- Ở trường THPT Chuyên, làm thế nào để đánh giá nội dung dân chủ trực tiếp của cán bộ, giáo viên hài hòa với chế độ thủ trưởng? Vai trò của cấp quản
lí, ở đây là Sở Giáo dục và Đào tạo như thế nào trong việc đánh giá kết quả thực hiện để cho việc Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường được thực hiện đồng bộ, có hệ thống và chuẩn mực?
- Cần đánh giá như thế nào về vai trò của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường khi tham gia thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở nhà trường? Cần có cơ chế như thế nào để bảo đảm phát huy dân chủ trong hoạt động của nhà trường đi đôi với tăng cường, giữ vững kỷ cương, kỷ luật ?
Là một cán bộ quản lí của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang, đã
có thời gian công tác tại Sở GDĐT, trực tiếp tham gia một số hoạt động thanh tra, kiểm tra ở một số trường THPT trên địa bàn, tôi đã suy ngẫm nhiều về việc
Trang 16làm thế nào để đánh giá được kết quả hoạt động thực hiện dân chủ trong nhà trường THPT, từ đó có giải pháp phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh Trong thời gian học tập khóa đào tạo thạc sĩ Quản lý giáo dục tại Trường Đại học sư phạm- Đại học Thái Nguyên, được trang bị những tri thức lý luận và phương pháp luận khoa học, kết hợp với những vấn đề đã gặp trong thực tiễn, tôi mong muốn nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về việc đánh giá kết quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường mà mình đang quản lý Được sự giúp đỡ tận tình của Khoa Tâm
lý giáo dục và sự hướng dẫn cụ thể của PGS.TS Phạm Hồng Quang - Hiệu trưởng trường Đại học sư phạm- Đại học Thái Nguyên, tôi quyết định chọn vấn
đề: “Đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của
trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng của vấn
đề nghiên cứu Luận văn đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quy chế dân chủ và đánh giá Quy chế dân trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
4 Giả thuyết khoa học
Công tác đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang đã đạt được những kết quả đáng
kể Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục thì công tác đánh giá Quy
Trang 17chế dân chủ trong Nhà trường vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như đánh giá chưa công khai, toàn diện, còn có biểu hiện của bệnh thành tích Do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện dân chủ theo quy định tại Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp phù hợp với đặc thù, thực tiễn của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang sẽ thực hiện tốt đánh giá Quy chế dân chủ trong nhà trường, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân
chủ trong hoạt động của trường THPT
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng kết quả thực hiện Quy chế
dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
5.3 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả thực hiện Quy
chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận phục vụ cho vấn đề nghiên cứu
- Phân loại các tài liệu lý luận, các văn bản, Nghị quyết của Đảng, của ngành Giáo dục nước ta và giáo dục tỉnh Tuyên Quang
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra:
Mục đích điều tra: Thu thập số liệu, tư liệu về thực trạng công tác đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT nhằm chứng minh cho giả thuyết khoa học
Nội dung điều tra: Thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ trong trường THPT và đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang, những ưu điểm và hạn chế; nguyên nhân của thực trạng
Trang 18Ngoài ra còn các phương pháp khác như thu thập thông tin, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phỏng vấn, phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi được sử dụng để tìm hiểu thực trạng đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
6.3 Nhóm các phương pháp xử lí thông tin
Gồm phương pháp phân tích số liệu, phương pháp thống kê toán học) được sử dụng để xử lí các tài liệu thu thập được
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ
trong hoạt động của trường THPT
Chương 2: Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong
hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác đánh giá kết quả thực hiện
Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG THPT
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ cơ sở là vấn đề được nhiều nhà khoa học những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở những góc độ khác nhau
Có thể đưa ra một số nghiên cứu như:
Đề tài “Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay” do TS Nguyễn Văn Bấu - GS Hồ Văn Thông đồng chủ trì
Đề tài đã khái quát về Quy chế dân chủ vai trò Quy chế dân chủ trong việc xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta trên cơ sở đó đánh giá thực trạng về thực hiện Quy chế dân chủ Đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt Quy chế dân chủ để xây dựng chính quyền cấp xã
Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước "Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay”
do PGS TS Hoàng Chí Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2006
Đề tài “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta”
- TS Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên, NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Đề tài “Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Dương Xuân Ngọc, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội,
2006 Đề tài khái quát về Quy chế dân chủ ở cấp xã và đánh giá việc thực hiện Quy chế dân chủ ở một số huyện trên địa bàn thuộc 3 vùng: miền núi, miền Trung và đồng bằng sông Cửi Long
Các công trình kể trên đã đi sâu nghiên cứu về thực hiện Quy chế dân chủ gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xã nói riêng Các tác giả cũng đã chỉ ra phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện Quy chế dân chủ trong ở cấp xã, phường, thị trấn Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
Trang 20diện và sâu sắc về công tác đánh giá thực hiện Quy chế dân chủ trong trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên Quang Vì vậy việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lắp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việc đánh giá thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường nói chung và đánh giá thực hiện Quy chế dân chủ trong trường THPT chuyên tỉnh Tuyên Quang nói riêng; là tài liệu tham khảo, là cơ sở để cho trường chuyên tỉnh Tuyên Quang thực hiện tốt Quy chế dân chủ trong nhà trong thời gian tới
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Dân chủ
1.2.1.1 Khái niệm về dân chủ
Dân chủ, theo nguyên nghĩa từ chữ Hy Lạp - Demokratia, có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân Từ nghĩa gốc này, dân chủ trở thành khái niệm bao quát một nội dung rộng lớn Dưới góc độ là một hình thức tổ chức chính trị- nhà nước, dân chủ mang đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc nhân dân
là chủ thể của quyền lực, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân Quyền làm chủ của nhân dân được cụ thể hoá thành các quy định mang tính pháp quyền, thành những nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cũng như các thiết chế chính trị - xã hội khác, tạo nên chế độ dân chủ Trong Luận cương và báo cáo về chế độ dân chủ tư sản và chuyên chính vô sản, V.I Lê nin nhấn
mạnh: "Nền dân chủ cũ, tức dân chủ tư sản, và chế độ đại nghị đã được tổ chức sao cho có thể loại bỏ được trước hết quần chúng công nhân ra khỏi bộ máy quản lí Trái lại, chính quyền xô viết, tức chuyên chính vô sản, được xây dựng sao cho quần chúng lao động gần với bộ máy quản lí" [44, tr 602]
Dưới chế độ dân chủ tư sản, địa vị xã hội của công dân được pháp luật thành văn và không thành văn quy định Nhưng nền dân chủ tư sản trong thực chất còn rất nhiều hạn chế và không thoát khỏi sự mị dân nhằm bảo vệ quyền
lợi cho giai cấp tư sản cầm quyền "Trong Nhà nước tư sản dân chủ nhất, quần chúng bị áp bức đều luôn vấp phải các mâu thuẫn hiển nhiên giữa quyền bình đẳng hình thức do "chế độ dân chủ" của bọn tư bản ban bố với hàng nghìn hạn
Trang 21chế và mánh khóe dối trá thực sự, đang biến những người vô sản thành nô lệ làm thuê" [43, tr 36]
Dưới chế độ dân chủ tư sản, cùng với sự tha hóa của lao động là sự tha hóa về quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị, đúng như nhận xét của C.Mác
về chế độ dân chủ tư sản "bầu cử trong chủ nghĩa tư bản là sự "tự do" của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình" [9, tr 36] Trong tác phẩm
Nhà nước và cách mạng, Lênin có nhận xét tinh tế về bản chất chế độ dân chủ
tư sản: "Chế độ đại nghị tư sản là chế độ kết hợp chế độ dân chủ (không phải cho nhân dân) với chế độ quan liêu (chống nhân dân)" [44, tr 236]
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ giai cấp vô sản phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực Nhà nước (quyền làm chủ về chính trị), thiết lập Nhà nước dân chủ vô sản,
chế độ dân chủ vô sản Đó là "chế độ sẽ thi hành ngay lập tức những biện pháp
để chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hành những biện pháp ấy tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá hủy chế độ quan liêu, tới chỗ hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân" [6, tr 136] Với ý nghĩa đó, chế độ dân chủ
vô sản, chế độ dân chủ XHCN đóng vai trò to lớn trong các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người, trở thành mục tiêu và động lực của cuộc cách mạng vô sản
Theo Lênin: "Chế độ Xô viết là chế độ dân chủ ở mức cao nhất cho công nhân và nông dân; đồng thời, nó có nghĩa là sự đoạn tuyệt với chế độ dân chủ
tư sản và sự xuất hiện trong lịch sử thế giới một chế độ dân chủ kiểu mới, tức
là chế độ dân chủ vô sản hay là chuyên chính vô sản" [43, tr 184]
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thiết lập Nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã trở thành người chủ của đất nước Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm
1954, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), nhân dân miền Bắc đã trở thành chủ thể của mọi quyền lực Năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, nhân dân cả nước ta trở thành người chủ của mọi quyền lực trong đó có quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, hệ thống chính trị XHCN được thiết lập trên
Trang 22phạm vi cả nước Từ đó đến nay nền dân chủ XHCN đã và đang được xây dựng phát huy vai trò ngày càng to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước
1.2.1.2 Khái niệm dân chủ ở cơ sở
Xã hội ta là xã hội do nhân dân làm chủ Quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy Luật pháp của Nhà nước ta bảo đảm quyền tự do, bình đẳng của công dân, coi nhân dân là cội nguồn của sức mạnh và là người nắm giữ quyền lực Chế độ dân chủ ở nước ta ngày càng được mở rộng, tức là khả năng thu hút và tạo điều kiện để nhân dân tham gia ngày càng sâu vào công việc của Nhà nước, tham gia xây dựng luật pháp, chính sách, hưởng quyền lợi
và chủ động thực hiện nghĩa vụ của công dân
Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu cho quyền làm chủ thực sự của nhân dân được thực hiện Nhà nước là người nhận quyền lực xã hội do nhân dân uỷ quyền để tổ chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng, hành động vì quyền lợi của nhân dân, làm điều lợi, tránh điều hại cho dân, chăm lo phát triển, bồi dưỡng và tiết kiệm sức dân Nhân dân là người chủ xã hội, cho nên nhân dân không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định, thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, dân có quyền làm chủ thì cũng có nghĩa vụ của người chủ Một nền dân chủ chân chính, tiến bộ bao giờ cũng gắn liền nghĩa vụ, lợi ích với trách nhiệm Đó là mối quan hệ mật thiết, không tách rời giữa công dân với Nhà nước, cá nhân với xã hội, thành viên với cộng đồng và được pháp luật điều chỉnh để dân chủ không biến thành hành vi phản dân chủ Nhận thức được điều
đó, Đảng ta coi "Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân" [18, tr 195]
Trong quá trình thực hiện dân chủ, Đảng ta rất coi trọng việc phát huy dân chủ ở cơ sở Bởi vì, cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết đời sống cho nhân dân, bảo đảm an ninh - quốc
Trang 23phòng Cơ sở là nền tảng tạo thành cơ thể xã hội và đời sống xã hội Cơ sở là địa bàn sinh sống của dân cư, là nơi bắt đầu của mọi cuộc vận động xã hội, mọi sáng kiến của nhân dân, bắt đầu của đổi mới, là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền, nơi cán bộ, đảng viên, công chức điều hành và xử lý công việc hàng ngày Nhân dân đòi hỏi được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt
ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo Cơ sở cũng là nơi xuất phát, nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không tùy thuộc chủ yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế nào ở cấp cơ sở Cơ sở cũng là nơi kiểm nghiệm và qua đó mà điều chỉnh, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách
Theo Lênin: "Không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố sắc lệnh
về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho "những người đại diện" nhân dân trong những cơ quan đại diện là đủ Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ bắt đầu từ cơ sở dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thật sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước, không có "sự giám sát" từ trên, không có quan lại" [43, tr 336-337]
Có thể hiểu Dân chủ ở cơ sở là một khái niệm dùng để xác định trạng thái, mức độ thực hiện dân chủ đạt được trong thực tế đối với người dân ở cấp thấp nhất, nhưng rộng rãi nhất Thực chất dân chủ ở cơ sở là dân chủ đối với người dân, được đánh giá qua chính quyền cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở, các tổ chức, đơn vị kinh tế, xã hội gắn trực tiếp nhất với nhân dân ở cơ sở đã thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
để đảm bảo dân chủ và quyền làm chủ của dân như thế nào? Nhân dân là chủ thể, là đối tượng hưởng thụ, trên thực tế, họ đã được hưởng những thành quả gì
và hưởng đến mức nào của dân chủ? Nhân dân, với tư cách là người làm chủ,
đã tham gia như thế nào vào việc xây dựng nền dân chủ ngay từ cơ sở? Nhân
Trang 24dân tham gia quản lí và tự quản lí đến đâu khi tiến hành uỷ quyền cho người đại diện của mình? Nhân dân tiến hành kiểm tra, giám sát như thế nào? Nhân dân đấu tranh với những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của mình ra sao ngay ở nơi mình sinh sống?
Dân chủ và Dân chủ ở cơ sở có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Dân chủ
ở cơ sở là nền tảng của chế độ dân chủ thực sự của nhân dân lao động Các nguyên tắc dân chủ nói chung được thực thi rộng rãi là điều kiện quan trọng để các thiết chế dân chủ ở cơ sở nhanh chóng bám rễ, đi sâu vào cuộc sống và thấm vào các công việc hàng ngày của nhân dân Ngược lại, các thiết chế dân chủ ở cơ sở được triển khai có kết quả là những điều kiện để xây dựng và củng
cố vững chắc nền dân chủ Có thể nói, dân chủ ở cơ sở là thực tiễn sâu rộng nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, là con đường trực tiếp nhất nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Thực tiễn của cuộc vận động xây dựng dân chủ ở cơ sở ở nước ta những năm qua chính là một bộ phận trọng yếu của cuộc vận động xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa- một nền dân chủ thực sự của nhân dân
Với ý nghĩa đó, dân chủ ở cơ sở có vai trò vô cùng quan trọng Dân chủ
ở cơ sở được thực hiện sẽ đem lại quyền dân chủ cho mọi người dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Đó vừa là điều kiện để thực hiện và phát huy dân chủ trong xã hội, vừa là mục đích, bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Thực hiện dân chủ ở cơ sở là động lực mạnh mẽ để bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Do vậy, thực hiện dân chủ ở cơ sở cũng là khâu quan trọng
và cấp bách của công cuộc đổi mới Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ X của Đảng khẳng định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản "[18, tr 68]
Trang 251.2.1.3 Về dân chủ ở trường học
Trường học là nơi thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất và năng lực cho công dân, góp phần trực tiếp trong việc bồi dưỡng, đào tạo các nguồn lực con người Giáo dục trong nhà trường là con đường cơ bản nhất, vững bền nhất để hình thành người lao động có kỹ thuật, có kỷ luật cao đáp ứng những yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng càng phát triển càng đòi hỏi dân trí phải được nâng cao, giáo dục phải phát triển để làm nhiệm vụ chăm lo bồi dưỡng các thế hệ cách mạng Người xác định trường học là nơi đào tạo những người chủ tương lai của đất nước, những công dân có ích cho nước Việt Nam
Người nói: "Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, (tác giả luận văn nhấn mạnh), nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân và phong kiến" [18, tr 80]
Chính vì trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân nên cần phải thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục Hồ Chí Minh
dạy, trong trường học cần phải có dân chủ " Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, thì bàn cho thông suốt Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải là "cá đối bằng đầu" Đồng thời, thầy và trò cần giúp đỡ những anh em phục vụ cho nhà trường Các anh chị em nhân viên thì nên thi đua để cho cơm lành canh ngọt để học sinh ăn no, học tốt" [18, tr 81]
Quan điểm về dân chủ trong trường học của Hồ Chí Minh được thể hiện đầy đủ qua các mối quan hệ trong nhà trường, mối quan hệ giữa nhà trường với
nhân dân: "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó" [29, tr 403]
Hồ Chí Minh khẳng định để thực hiện dân chủ cần quan niệm giáo dục không bó hẹp trong nhà trường mà giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần,
Trang 26ngoài ra cần có sự giáo dục trong gia đình, ngoài xã hội để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Ngày 31/10/1955, khi miền Bắc mới được
giải phóng, Hồ Chí Minh viết: "Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân" [28, tr 81]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giáo dục mà chúng ta xây dựng là nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân Nền giáo dục này hướng tới xóa bỏ mọi sự bất bình đẳng về giai cấp, dân tộc, phát huy mọi tiềm năng văn hóa của nhân dân Đảng và Nhà nước ta xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mục tiêu của từng cấp học gắn với quá trình dân chủ hóa giáo dục, tạo cơ hội để các cá nhân có điều kiện học tập và phát triển năng lực của mình
Quá trình dân chủ hóa giáo dục được thể hiện trong toàn bộ hệ thống giáo dục Trong trường học, dân chủ được thể hiện ở quyền và nghĩa vụ của CBGV-CNV đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường CBGV-CNV trong nhà trường phát huy quyền làm chủ của mình theo phương châm: được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, được giám sát kiểm tra mọi mặt hoạt động của nhà trường Dân chủ gắn với kỷ cương, việc thực hiện dân chủ nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc, sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục Trong trường học, việc thực hiện dân chủ của CBGV-CNV, của người học trên cơ sở sự lãnh đạo của tổ chức đảng, sự quản lý của Ban giám hiệu Các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường có vai trò to lớn trong việc tham gia, việc thực hiện dân chủ ở trường học
Như vậy, dân chủ trong trường học là việc thực hiện một cách trực tiếp quyền làm chủ của CBGV-CNV, học sinh và cha mẹ học sinh trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục Dân chủ, thực hành dân chủ trong trường học là yêu cầu khách quan và ngày càng bức thiết đối với các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học, xây dựng nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân
Trang 271.2.2 Đánh giá
Theo tác giả Trần Khánh Đức "Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những pháp xét, nhận định vè mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực" [22, tr 359] Tác giả Trần Khánh Đức dẫn ý kiến của GS Trần Bá Hoành "Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng
và hiệu quả công việc" [22, tr 360]
Như vậy, đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đã đo lường được qua sự theo dõi thường xuyên, qua các cuộc kiểm tra, thanh tra, và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trong mục tiêu quản lí Đánh giá cũng là quá trình thu thập, xử lí thông tin
để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, ra quyết định và hành động có kết quả, đồng thời là một quá trình của hoạt động quản lí mà qua đó nhà quản lí quy cho đối tượng quản lí một giá trị nào đó Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về mức
độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ phát triển, những kinh nghiệm được đúc kết ở thời điểm hiện tại đang xem xét so với mục tiêu hay những chuẩn mực đã xác lập Trên cơ sở đó nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm vụ”
Đánh giá là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mục tiêu đã định; nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu đã đề ra
Đánh giá được xem là một trong các vấn đề cơ bản trong hoạt động quản
lí Đánh giá không chỉ nhằm mục đích xác định kết quả quá trình thực hiện nhiệm vụ, khuyến khích, tạo động lực cho chủ thể và đối tượng tiến bộ không ngừng mà còn cung cấp nguồn thông tin phản hồi giúp chủ thể quản lý nắm bắt
Trang 28được chất lượng, phương pháp, cách thức của việc thực hiện để từ đó có những điều chỉnh thích hợp cho công tác quản lý của mình Không những thế, đánh giá còn giúp các cơ quan giáo dục, các nhà quản lý và hoạch định chính sách có được những số liệu, thông tin về chất lượng và trình độ thực hiện nhiệm vụ của các thành tố trong toàn hệ thống để có những điều chỉnh, bổ sung và chỉ đạo kịp thời
Đánh giá gồm các chức năng cơ bản sau:
Chức năng thông tin phản hồi: Đánh giá có chức năng tạo lập thông tin
phản hồi một cách tổng hợp, toàn diện, cung cấp cho chủ thể quản lí một bức tranh toàn cảnh những thông tin đáng tin cậy về thực trạng tình hình và kết quả hoạt động của khách thể quản lí để chủ thể quản lí hoạt động có hiệu quả Đây cũng có thể coi là chức năng đầu tiên cần phải có trong hoạt động đánh giá Thông tin phản hồi (hai chiều) chính là cơ sở để có những đánh giá bước đầu đảm bảo tính chất khách quan, để từ đó chủ thể quản lí có những đánh giá đúng đắn sau khi thực hiện thêm một số chức năng phối hợp khác
Chức năng lượng định giá trị: Xác định cho đối tượng quản lí một giá trị
nào đó so với mục tiêu Chức năng này cho phép người quản lí xác định vị trí giá trị của đối tượng trong hệ thống mục tiêu đặt ra để có sự đánh giá đúng mức giá trị của đối tượng Điều này góp phần đưa đến những đánh giá đúng đắn về đối tượng trong hoạt động quản lí Cần lưu ý đối với việc xác định giá trị của đối tượng trong hệ thống mục tiêu phải cụ thể, rõ ràng và đúng thực chất, tránh trường hợp đặt đối tượng ở mức giá trị quá cao hoặc quá thấp để đánh giá và cuối cùng bản thân của đối tượng không đáp ứng được giá trị đó dẫn đến sự đánh giá thiếu căn cứ khoa học
Chức năng hướng dẫn, điều chỉnh: Dự báo giá trị của các hoạt động giáo
dục, chỉ ra mức độ đúng, độ sai lệch, chỉ dẫn, điều chỉnh cho người quản lí cũng như người hoạt động giáo dục thực hiện đúng mục tiêu đề ra
Chức năng kích thích: Đánh giá đúng sẽ kích thích tinh thần trách nhiệm,
hoàn thành nhiệm vụ, nghĩa vụ phải khắc phục khó khăn; hình thành và phát
Trang 29triển tâm lí hứng thú, phẩm chất tích cực, tinh thần tập thể, lòng tự trọng, yêu lao động, tính tích cực xã hội
Chức năng giáo dục: Đánh giá có tác động mạnh mẽ đến tâm lý của đối
tượng, tạo điều kiện để đối tượng phát triển phẩm chất, nhân cách, thói quen tự phê bình, tự đánh giá đúng mình, tinh thần trách nhiệm, ý chí nỗ lực kiên trì, lòng tự tin, ý thức tập thể, lòng trọng danh dự và quan hệ ứng xử văn hoá
Chức năng xã hội: Xác định đúng giá trị chất lượng và số lượng của sản
phẩm được xem như là được sự công nhận của xã hội đối với đơn vị giáo dục, tạo ra uy tín xã hội của sản phẩm và của đơn vị đối tượng trong cộng đồng
Chức năng dự báo, củng cố và phát triển: Xác định đúng giá trị thực của
hoạt động giáo dục, kết quả chất lượng sẽ cho phép dự đoán đúng đắn sự phát triển trong tương lai
Các chức năng của đánh giá luôn bổ sung cho nhau, tương tác, gắn bó với nhau Chức năng đánh giá là một hoạt động quản lí đặc biệt, sản phẩm của quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong quản lí, tiêu biểu bởi tính chất tương đối độc lập của những bộ phận của quản lí Thực chất, chức năng đánh giá là hình thức tồn tại của các tác động quản lí Chức năng đánh giá
là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí Vì vậy, chức năng đánh giá đã góp phần rất quan trọng vào việc quản lí hiệu quả quá trình dạy và học Bất kì một hoạt động quản lí dạy học nào cũng bao gồm hoạt động đánh giá Chúng ta không thể điều hành một cách thích hợp hoạt động dạy học nếu chúng ta không thể theo dõi, thu thập thông tin, nhận xét và ra quyết định Do vậy, theo một nghĩa nào đó, hiệu trưởng là một nhà quản lý giáo dục, một nhà đánh giá giáo dục Cũng cần phải hiểu đánh giá là dựa vào các yêu cầu mục tiêu đã được thiết lập trong hoạt động quản lí nhưng đánh giá cũng cần phải có những nguyên tắc nhất định, là định hướng cho công tác này, tức là những quy định cơ bản để thực hiện Nếu không, việc đánh giá sẽ thiếu các cơ sở lí luận cần thiết làm nền tảng để đưa ra các kết luận đúng đắn
Trang 30Đánh giá luôn gắn với tự đánh giá Tự đánh giá là một quá trình tự học tập, tự nghiên cứu, tự hoàn thiện theo các chuẩn mực đã đặt ra Quá trình này cần một khoảng thời gian cần thiết để đối tượng tự đánh giá tự nhận thấy những khiếm khuyết của mình và phấn đấu để khắc phục những khiếm khuyết đó Tự đánh giá thuộc đánh giá bên trong của một đối tượng, nhưng nó lại là cơ sở để tiến hành đánh giá bên ngoài Tự đánh giá là một công cụ để tự hoàn thiện của một đơn vị, một cá nhân nhằm không ngừng nâng cao chất lượng của mình
1.2.4 Quy chế dân chủ
Để quyền làm chủ của nhân dân được thực thi trong cuộc sống, đòi hỏi phải có những quy định cụ thể Nói cách khác, quy định cụ thể là điều kiện để đảm bảo cho quyền làm chủ được thực thi Muốn thực hành dân chủ phải có quy định cụ thể Dân chủ phải đặt trong mối quan hệ với các quy định Các quy định là sự chi tiết hóa, cụ thể hóa quan điểm của Đảng về dân chủ vào đời sống thực tiễn
Có thể hiểu Quy chế dân chủ là tập hợp các quy định cụ thể điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
1.2.5 Quy chế dân chủ ở cơ sở
Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở phải được tiến hành trên cơ sở các quy định cụ thể Hiện nay, quy định về dân chủ ở cơ sở được thể hiện trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH 11) và Nghị định số Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015
Trang 31về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn
vị sự nghiệp công lập
Là một chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong việc thực thi dân chủ ở cấp cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở điều chỉnh hoạt động của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân
Có thể hiểu Quy chế dân chủ ở cơ sở là văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chính quyền cơ sở, cơ quan, đơn vị của Nhà nước với công dân trong việc phải đảm bảo tính công khai, kịp thời thực hiện những việc nhân dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra
1.2.6 Đánh giá Quy chế dân chủ
Có thể hiểu đánh giá Quy chế dân chủ trong trường THPT là quá trình thu thập và xử lý thông tin nhằm đo lường mức độ đạt được so với mục tiêu đề
ra của Quy chế dân chủ Trong giai đoạn hiện nay, đánh giá Quy chế dân chủ
trong trường học được thể hiện qua phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân
chủ đảm bảo cho cán bộ, giáo viên, nhân viên được quyền đóng góp ý kiến, giám sát, kiểm tra, đóng góp cho các hoạt động của nhà trường, từ đó phát huy tiềm năng, trí tuệ của cán bộ quản lý, nhà giáo, người học, người lao động và các lực lượng có liên quan đến nhà trường trong quá trình nhà trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
* Nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường
- Thực hiện dân chủ đảm bảo có sự lãnh đạo của tổ chức Ðảng Cộng sản Việt Nam theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện trách nhiệm của hiệu trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức, các đoàn thể trong nhà trường;
- Thực hiện dân chủ trong nhà trường phù hợp với Hiến pháp và pháp luật; quyền phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; dân chủ phải gắn liền với
kỷ luật, kỷ cương nhà trường;
- Xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng dân chủ, xâm phạm quyền
tự do dân chủ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của nhà trường
Trang 321.3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở trường THPT
1.3.1 Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường THPT là cơ sở giáo dục nối tiếp cấp trung học cơ sở thuộc bậc trung học của hệ thống giáo dục quốc dân Đây là cấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực Do đó trường THPT có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện, với những đặc thù riêng
Theo Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 quy định “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật hướng nghiệp để tiếp tục học trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hay đại học hoặc đi vào cuộc sống lao động” [37, tr 4]
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời" [20, tr 5]
Trang 33Theo Điều lệ trường trung học, trường THPT có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục; quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật; tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục; phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục; quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước; tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường THPT chuyên, mục tiêu của trường THPT chuyên là phát hiện những học sinh có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập và phát triển năng khiếu của các em về một
số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông toàn diện; giáo dục các em thành người có lòng yêu nước, tinh thần vượt khó, tự hào, tự tôn dân tộc; có khả năng tự học, nghiên cứu khoa học và sáng tạo; có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
Trường THPT chuyên thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều lệ trường trung học và các nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông và các nội dung dạy học, giáo dục dành cho trường chuyên; nghiên cứu vận dụng phù hợp, hiệu quả các phương pháp quản lý, dạy học, kiểm tra đánh giá tiên tiến; tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội của học sinh; tạo điều kiện cho học sinh nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật, vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn và sử dụng ngoại ngữ trong học tập, giao tiếp; phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
Trang 34viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; sử dụng thành thạo thiết bị dạy học hiện đại; sử dụng được ngoại ngữ trong nghiên cứu, giảng dạy và giao tiếp; có khả năng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên để đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ trường chuyên; phát triển hoạt động hợp tác giữa nhà trường với các cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài để nâng cao chất lượng giáo dục và quản lý; xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường; tổ chức và quản lý các hoạt động nội trú của học sinh; xây dựng, quản lý và sử dụng hiệu quả hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc quản lý, giáo dục và đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của nhà trường; tổ chức theo dõi việc học tập của các cựu học sinh chuyên ở trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và việc sử dụng sau tốt nghiệp; hỗ trợ việc tổ chức và hoạt động câu lạc bộ cựu học sinh của trường
1.3.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở trường học
Dân chủ là một giá trị mang tính toàn cầu Tuy nhiên, cách thức thực hành ở mỗi nơi có sự khác nhau, phụ thuộc và trình độ phát triển kinh tế, dân trí, văn hóa và thể chế chính trị của mỗi nước Nhưng dù khác nhau thế nào cũng tuân theo nguyên tắc căn bản là phải có sự tham gia của dân chúng và dân
chúng phải là người thụ hưởng thành quả từ sự tham gia của mình
Trong nếp nghĩ của người Việt, hai cách diễn đạt sau đây về dân chủ
thường được đa số đồng tình: “Chế độ ta là chế độ dân chủ Đối với mọi vấn
đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến, góp phần tìm ra chân lý” Dân chủ là “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”
Đánh giá kết quả thực hiện dân chủ trong trong hoạt động của trường học
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát huy dân chủ, góp phần xây dựng và phát triển nhà trường, cụ thể:
Trang 35Một là, giúp cho việc làm rõ được sự tương quan giữa kết quả đạt được trên thực tế so với yêu cầu của việc thực hiện quy chế dân chủ Thực chất của việc đánh giá là trả lời câu hỏi "Việc thực hiện dân chủ trong nhà trường có giải quyết được các mục tiêu, yêu cầu đã xác định không?", "Ảnh hưởng, tác động
mà việc thực hiện quy chế dân chủ có tích cực và bền vững không?"
Hai là, việc đánh giá kết quả thực hiện sẽ giúp phát hiện những vướng mắc nảy sinh hoặc tiềm ẩn để kịp thời đề xuất, kiến nghị các giải pháp khắc phục, phòng ngừa một cách hiệu quả
Ba là, việc đánh giá sẽ cung cấp thông tin về kết quả, tác động của việc thực hiện dân chủ đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của nhà trường;
từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc lập kế hoạch và thiết kế các hoạt động tiếp theo được hoàn thiện hơn
Bốn là, việc đánh giá kết quả thực hiện quy chế dân chủ còn tạo điều kiện thực hiện trách nhiệm giải trình, cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý cấp trên và cho công chúng Thông qua đánh giá, cơ quan quản lý cấp trên thu thấp được thông tin về thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm của nhà trường, từ đó có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh để nhà trường thực hành tốt dân chủ trong hoạt động
Năm là, đánh giá kết quả thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường còn là cơ chế kích thích nâng cao chất lượng giáo dục Kết quả đánh giá là căn
cứ quan trọng để thực hiện các giải pháp sửa đổi, cải thiện thực trạng theo hướng tích cực Việc đánh giá, phản hồi ý kiến sau đánh giá sẽ giúp nhà trường hành động theo hướng điều chỉnh để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ
1.3.3 Những yêu cầu của việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở trường Trung học phổ thông
Việc đánh giá kết quả thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường THPT cần dựa trên những văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ
Trang 36GDĐT và của địa phương về việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ Trước hết là các văn bản sau đây:
- Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Nghị quyết số 55/1998/NQ-UBTVQH khóa X, ngày 30/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan
- Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH 11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
- Nghị định số Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
- Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường
Thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất những điều trong Luật Giáo dục và Quyết định 04/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 01/3/2000 của Bộ Giáo dục - Đào tạo
về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà trường
Đánh giá kết quả thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường phải đảm bảo đánh giá được vai trò của từng chủ thể tham gia vào quá trình đánh giá và tự đánh giá mức độ thực hiện dân chủ Trong nhà trường, Hiệu trưởng là một chủ thể quan trọng vừa tiến hành đánh giá mức độ thực hiện dân chủ để thực hiện trách nhiệm báo cáo, giải trình, vừa tự đánh giá để thực hiện việc tự điều chỉnh theo hướng nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ Cán
bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh là chủ thể đánh giá mức độ thực hiện các quy định của Nhà nước về dân chủ mà Hiệu trưởng đang thực hiện để kiến nghị Hiệu trưởng thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của CBGV-CNV, vừa là chủ thể
tự đánh giá mức độ tham gia thực hiện quyền làm chủ của chính mình
Trang 37Đánh giá kết quả thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường trước hết là đánh giá hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở trường học do đồng chí Bí thư cấp ủy hoặc lãnh đạo nhà trường làm trưởng ban Thực chất của việc đánh giá hoạt động của Ban chỉ đạo là trả lời câu hỏi: Ban chỉ đạo xây dựng Quy chế hoạt động và kế hoạch thực hiện ra sao? Việc triển khai kế hoạch thực hiện Quy chế dân chủ, hướng dẫn thực hiện đến các tổ chức, đoàn thể trong trường học thực hiện như thế nào?
Hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cần đảm bảo yêu cầu sau:
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, học tập, quán triệt đến cán bộ, đảng viên
và toàn thể CBGV-CNV các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy chế, Quy định của Đảng
và Nhà nước về dân chủ ở cơ sở Trên cơ sở nắm chắc những văn bản về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, mỗi CBGV-CNV trong nhà trường phát huy quyền làm chủ của mình, nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân trong khi thực hiện các nhiệm vụ trong nhà trường Thực tế, không phải ai cũng
dễ dàng hiểu rõ mình có quyền và nghĩa vụ như thế nào trong thực thi nhiệm vụ dạy học và giáo dục Không xác định rõ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với tập thể, cá nhân sẽ thụ động, lệ thuộc vào tập thể, nhiều khả năng, tiềm năng của cá nhân không được phát huy, mỗi con người thu về với những phạm vi cá nhân nhỏ hẹp Vì vậy, khi CBGV-CNV trong nhà trường ý thức được quyền làm chủ của mình, tính tự nguyện, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao và ý thức vì nhà trường, vì xã hội được nâng cao CBGV-CNV sẽ thẳng thắn phê bình, góp ý cho Ban giám hiệu, cho tổ chức đảng và đảng viên; thông cảm, thấy được sự vất vả của lãnh đạo nhà trường, khơi dậy được tính đoàn kết của tập thể sư phạm, tạo ra không khí phấn khởi, giúp CBGV-CNV trong nhà trường hoàn thành tốt các nhiệm vụ của năm học
- Trưởng ban chỉ đạo (đồng thời là người đứng đầu nhà trường) cần bảo đảm cho CBGV-CNV biết đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết để
Trang 38CBGV-CNV tham gia xây dựng, phát triển nhà trường Bằng nhiều cách, phải
mở rộng thông tin để người dạy và người học trong nhà trường biết đầy đủ, chính xác các nôi dung của Quy chế dân chủ Thực chất, đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích và nghĩa vụ của dạy và người học, vì thế phải được thông tin công khai, kịp thời để người dạy và người học biết và chủ động , tích cực, tự giác giải quyết Có như vậy, nhà trường mới thực sự phát huy hết tài năng, trí sáng tạo của mọi thành viên trong nhà trường
- Phải đảm bảo CBGV-CNV và học sinh được công khai, dân chủ bàn bạc, quyết định trực tiếp những việc cần làm để thúc đẩy nhà trường phát triển Trên cơ sở hiểu biết các chủ trương, chính sách, pháp luật, CBGV-CNV và học sinh nhà trường có quyền dân chủ bàn bạc quyết định những công việc thiết thực trong nhà trường như thực hiện nội dung, chương trình giáo dục, sử dụng tài sản, tài chính; tuyển sinh, thi cử, đánh giá; thi đua, khen thưởng; việc dạy thêm học thêm, xây dựng nếp sống văn hóa trong nhà trường,
- Phải đảm bảo cho mọi CBGV-CNV và học sinh được tham gia ý kiến xây dựng quy chế theo nguyên tắc: Không trái với chủ trương, chính sách có liên quan của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đảm bảo đúng quy trình dân chủ, công khai, được CBGV-CNV thảo luận, lãnh đạo nhà trường thông qua, ban hành Trong quá trình thực hiện, nếu phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp thì cũng cần tuân thủ nguyên tắc tham gia ý kiến của đông đảo CBGV-CNV và học sinh
- Phải đảm bảo CBGV-CNV trong nhà trường được trực tiếp kiểm tra, giám sát thúc đẩy các hoạt động của nhà trường Không có sự kiểm tra nào hiệu quả hơn sự tự kiểm tra, giám sát của chính người dân tại cơ sở Sự kiểm tra, giám sát của CBGV-CNV trong nhà trường sẽ góp phần khắc phục các hạn chế, yếu kém, mở rộng phát huy các kinh nghiệm tốt, các việc làm hay, tạo đà cho nhà trường phát triển
Trang 391.4 Nội dung đánh giá Quy chế dân chủ trong trường Trung học phổ thông
1.4.1 Đánh giá về ban ha ̀nh , sửa đổi bổ sung những quy đi ̣nh , quy chế thực hiê ̣n dân chủ trong nhà trường
Công khai các chủ trương , chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công việc của nhà trường; công khai quy định, nội quy, kế
hoạch công tác hàng năm, hàng quý, hàng tháng của nhà trường
Kiểm điểm việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhà trường; kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ, công chức và những quy định
về thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường; đánh giá, tổng kết và kiểm điểm trách nhiệm của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong việc thực hiện
kế hoạch công tác hàng năm; thảo luận, bàn biện pháp thực hiện kế hoạch công tác năm tới của nhà trường;
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất hoạt động và nội dung phải công khai, có thể áp dụng một số hoặc tất cả các hình thức công khai sau đây: Niêm yết tại nhà trường; thông báo tại hội nghị cán bộ, công chức; thông báo bằng văn bản gửi toàn thể cán bộ, công chức, viên chức; thông báo cho người phụ trách các bộ phận của cơ quan, đơn vị và yêu cầu họ thông báo đến cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các bộ phận đó; thông báo bằng văn bản đến cấp ủy trực tiếp, Ban Chấp hành Công đoàn; đăng trên trang thông tin nội bộ của nhà trường
1.4.2 Đánh giá về thư ̣c hiê ̣n các chính sách của Nhà nước về chế độ , quyền của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh
Thực hiện chế độ, chính sách Nhà nước đối với giáo viên được căn cứ vào các quy định sau:
- Luật Giáo dục 2005 quy định: “Nhà giáo được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác theo quy định của pháp luật” [37, tr 12]
- Đối với phụ cấp ưu đãi theo nghề , thực hiện theo quy định tại Quyết
đi ̣nh số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế
Trang 40đô ̣ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng da ̣y trong cá c cơ sở giáo dục công lập ; Thông tư liên ti ̣ch số 01/2006/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC
ngày 23/01/2006 hướng dẫn thực hiê ̣n Quyết đi ̣nh số 244/2005/QĐ-TTg
- Đối với phụ cấp thâm niên , thực hiện theo Nghị đi ̣nh số 54/2011/NĐ-CP
ngày 04/07/2011 của Chính phủ về chế đô ̣ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo
- Về chế độ làm việc, thực hiện theo Quy định chế độ làm việc đối với
giáo viên phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT
Việc thực hiện chế độ, chính sách cho CBGV- CNV đảm bảo đầy đủ, kịp thời CBGV- CNV cần hiểu rõ hơn về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình như: Những điều CBGV-CNV được biết, những điều được tham gia góp ý, những vấn đề CBGV-CNV không được làm, từ đó họ sẽ thực hiện tốt hơn vai trò, trách nhiệm của mình CBGV-CNV biết rõ hơn về trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường để họ có thể giám sát tốt hơn đối với hiệu trưởng trong việc thực hiện trách nhiệm của mình Những việc chưa làm tốt thì có thể kiến nghị thông qua hội nghị cán bộ, công chức, hộp thư góp ý hoặc thông qua các hội họp định kỳ
- Xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ trong cơ quan Mở ra một cơ chế trao đổi thẳng thắn, bình đẳng, dân chủ và xây dựng trong góp ý, phê bình đối với cán bộ, công chức, viên chức CBGV-CNV có quyền tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến về chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động
và các chính sách xã hội khác liên quan đến trực tiếp tới quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động
- Thực hiện công khai chế độ, nâng bậc lương, nâng ngạch, đánh giá, xếp loại công chức, viên chức; khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán
bộ, công chức, viên chức; các đề án, dự án và việc xây dựng các nội quy, quy chế của nhà trường
1.4.3 Đánh giá về công khai tài chính, kinh phi ́ hoạt động nhà trường
Công khai kinh phí hoạt động hàng năm, bao gồm các nguồn kinh phí do
ngân sách nhà nước cấp và các nguồn tài chính khác; quyết toán kinh phí hàng