Người nông dân đã phát huy được tính tự chủ sáng tạo trong sản xuất và vươn lên làm giàu và đã khẳng định vị trí, vai trò trong sản xuất kinh doanh; đặc biệt nhiều hộ nông dân sử dụng hi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
VI NGỌC BÍCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
HUYỆN MIỀN NÚI BIÊN GIỚI HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
VI NGỌC BÍCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
HUYỆN MIỀN NÚI BIÊN GIỚI HẢI HÀ
TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN QUANG HUY
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Sau một quá trình thực tập nghiêm túc tôi đã hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn đảm bảo tính trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn mang tính độc lập, số liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn đúng quy định
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Vi Ngọc Bích
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm
và giúp đỡ của Quý thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS Trần Quang Huy người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã trang bị cho tôi những kiến thức trong suốt quá trình học tập
Tôi xin gửi lởi cảm ơn tới lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, UBND - HĐND huyện Hải Hà, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng thống kê và các phong ban chức năng huyện Hải Hà đã giúp đỡ và cung cấp những thông tin, số liệu và tài liệu cần thiết giúp tôi thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình tôi, những người luôn sát cánh và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Vi Ngọc Bích
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 4
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa 9
1.2 Những vấn đề chung về sản xuất nông nghiệp và vai trò phát triển kinh tế hộ nông dân 11
1.2.1 Một số lý luận về sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 11
1.2.2 Vai trò của phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa 14
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 17
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 17
1.3.2 Các yếu tố sản xuất 18
1.3.3 Đầu ra cho sản phẩm 19
1.3.4 Cơ sở hạ tầng 19
1.3.5 Khoa học kỹ thuật 19
1.3.6 Cơ chế, chính sách 19
1.4 Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 20
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa trên thế giới 20
Trang 61.4.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa trong nước 24
1.4.3 Bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa cho Hải Hà 34
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 36
2.2.2 Phương pháp tổng hợp dữ liệu 37
2.2.3 Phương pháp phân tích 38
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu về thông tin cơ bản của hộ nông dân 39
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về điều kiện sản xuất của hộ 39
2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng sản xuất của hộ 39
2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ 40
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI HUYỆN HẢI HÀ 42
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 42
3.1.1 Những điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng hóa của hộ nông dân 42
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 50
3.1.2.2 Điều kiện kinh tế 51
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 60
3.2.1 Tình hình cơ bản về chủ hộ nông dân 60
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân của huyện Hải Hà 61
3.2.3 Thực trạng về các điều kiện trong sản xuất hàng hóa của hộ 62
3.2.4 Thực trạng tình hình sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa của hộ 67
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 76
Trang 73.3.1 Những phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực bên trong đến sản xuất
hàng hóa của hộ nông dân ở huyện Hải Hà 76
3.3.2 Ảnh hưởng của yếu tố thị trường đến sản xuất hàng hóa của hộ 78
3.3.3 Những khó khăn tác động đến hiệu quả sản xuất hàng hóa của hộ 80
3.4 Đánh giá những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 81
3.4.1 Những kết quả đạt được 81
3.4.2 Những hạn chế 82
3.4.3 Nguyên nhân những hạn chế 82
Chương 4 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI HUYỆN HẢI HÀ 84
4.1 Quan điểm, phương hướng về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa huyện Hải Hà 84
4.1.1 Quan điểm về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 84
4.1.2 Phương hướng về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 85
4.1.3 Mục tiêu về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 86
4.2 Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hải Hà 86
4.2.1 Giải pháp từ phía huyện Hải Hà 87
4.2.2 Giải pháp từ phía các hộ nông dân 98
4.3 Kiến nghị 99
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂN 106
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Hải Hà năm 2014 46
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Hải Hà giai đoạn 2012 - 2014 54
Bảng 3.3 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện 59
Bảng 3.4 Tình hình thông tin cơ bản của các chủ hộ được điều tra 60
Bảng 3.5 Quy mô sản xuất của các nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 62
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng vốn tại các hộ được điều tra 63
Bảng 3.7 Quy mô vốn bình quân tại các hộ được điều tra 63
Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu về hộ điều tra theo quy mô hàng hóa 65
Bảng 3.9 Cơ cấu lao động trong độ tuổi 65
Bảng 3.10 Tình hình đất đai của các hộ điều tra tại huyện Hải Hà 66
Bảng 3.11 Cơ cấu sản xuất của hộ nông dân theo hướng SXKD chính 67
Bảng 3.12 Chi phí sản xuất của các hộ nông dân trên địa bàn 69
Bảng 3.13 Tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp 71
Bảng 3.14 Thu nhập của các hộ nông dân điều tra 73
Bảng 3.15 Thu nhập bình quân theo hộ và nhân khẩu của hộ nông dân được điều tra 75
Bảng 3.16 Kết quả hàm Cobb - Douglas tại vùng khảo sát 77
Bảng 3.17 Phương thức tiêu thụ của hộ nông dân trong vùng nghiên cứu 79
Bảng 3.18 Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc sản xuất hàng hóa của hộ 80
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Hải Hà 41 Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Hải Hà
(2012 - 2014) 52 Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu doanh thu phân theo ngành 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ bản vừa là đơn vị sản xuất kinh doanh, vừa là đơn vị tiêu dùng, đồng thời là đơn vị xã hội Vì vậy, việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn thực chất là phát triển kinh tế hộ nông dân Thực tế cho thấy hầu hết các chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành đều liên quan đến việc tháo gỡ, tạo điều kiện cho đơn vị kinh tế này phát triển như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư TW Đảng tháng 1/1981 (100- CT/TW), khoán 10 (Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tháng 5/1998), Luật Đất đai sửa đổi năm 2013), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về
"nông nghiệp, nông dân và nông thôn" và chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Nhờ có tác động mạnh mẽ của các chính sách và chế độ quản lý mới, kinh tế nông hộ từ chỗ ít được quan tâm, đã được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ và được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, với các thành phần kinh tế khác Điều này đã làm cho sức sản xuất trong các nông hộ được phát huy mạnh mẽ Với Luật đất đai được sửa đổi, hoàn thiện đã làm cho người nông dân yên tâm đầu
tư sản xuất lâu dài trên mảnh đất được giao của mình, họ chủ động xác định sản xuất cây con gì có hiệu quả nhất, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi, tăng chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường Người nông dân đã phát huy được tính tự chủ sáng tạo trong sản xuất và vươn lên làm giàu và đã khẳng định vị trí, vai trò trong sản xuất kinh doanh; đặc biệt nhiều hộ nông dân sử dụng hiệu quả đất đai, lao động, tiền vốn, sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, cho thu nhập cao Tỷ lệ hộ nông dân có thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm ngày càng nhiều; thậm chí có hộ đạt hàng tỷ đồng/năm
Thực hiện đường lối đổi mới của đất nước, cùng với cơ chế mới và sự nỗ lực,
tự lực, tự cường vươn lên của các hộ nông dân trong những năm qua, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng Từ một nước có nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, phải nhập khẩu lương thực, đến nay chúng ta đã có nguồn lớn lương thực xuất khẩu; nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chiếm vị trí cao trên trường quốc tế như: gạo, cà phê, hồ tiêu
Trang 12Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trên thực tế hiện nay cho thấy việc phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa nước ta nói chung và ở huyện Hải Hà - tỉnh Quảng Ninh nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, kinh nghiệm của hộ nông dân với sản xuất hàng hoá cũng như với thị trường còn hạn chế, hộ nông dân phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; hoạt động ngành nghề, dịch vụ còn yếu, một số chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với hộ sản xuất kinh doanh hàng hóa còn vướng mắc bất cập như: Đất đai, vốn, đầu tư xây dựng cơ bản Vì vậy, việc sử dụng các nguồn lực chưa phát huy triệt để ở các vùng, thiếu, thừa đất đai cục bộ Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn còn nhiều nơi bất hợp lý, sản xuất nông nghiệp còn mang tính thuần nông, hộ nông dân nhiều nơi vẫn duy trì truyền thống sản xuất tự cấp, tự túc, năng suất của cây trồng vật nuôi nhìn chung còn thấp, trình độ quản lý ở nhiều hộ còn yếu kém
Xuất phát từ thực tiễn trên, đồng thời để thực hiện tốt chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân theo tinh thần Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã đề ra và Chương trình Quốc gia về xây dựng
Nông thôn mới tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa huyện miền núi biên giới Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” để
nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung: Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
nhằm phát huy có hiệu quả những lợi thế của địa phương, góp phần thực hiện
chương trình Quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở huyện Hải Hà
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa; vận dụng những cơ sở lý luận đó vào nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Từ phân tích thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở từng vùng sinh thái của huyện, đồng thời phân tích rõ những ưu thế và hạn chế và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các mô hình kinh tế hộ
- Đưa ra định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện
Trang 133 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2014
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa huyện miền núi biên giới Hải Hà tỉnh Quảng Ninh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về sản xuất hàng hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển Trên cơ sở đó đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu có cơ sở khoa học phù hợp với thực tiễn để phát triển sản xuất hàng hóa đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn cho huyện Hải Hà
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp trên địa bàn huyện Hải Hà, phân tích những thuận lợi và khó khăn về sản xuất nông sản hàng hóa Từ đó đưa ra những đóng góp tích cực và có ý nghĩa cho việc phát triển kinh tế nông thôn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân theo
hướng sản xuất hàng hoá
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
hàng hóa huyện miền núi biên giới Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Chương 4: Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng
hóa huyện miền núi biên giới Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
1.1.1 Các khái niệm
- Hộ nông dân
+ Trong từ điển ngôn ngữ Mỹ (Oxford Press-1987), Hộ là tất cả những người sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung
huyết tộc và những người làm ăn chung
+ Theo tác giả Frank Ellis: hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức
độ không hoàn hảo cao
+ Tác giả Traianop lại cho rằng hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định Hộ
nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển kinh tế
Luận điểm này của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông
nghiệp tại nhiều nước trên thế giới trong đó có cả các nước phát triển
Đồng tình với quan điểm trên của Traianôp, hai tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm rằng “hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản” Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước trong những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đạt được
tốc độ tăng trưởng nhanh trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
+ Ở nước ta có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) nông hộ là tế bào kinh tế xã
hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả Đào Thế Tuấn (năm 1997) lại cho rằng hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Trong nghiên cứu điều tra nông thôn năm 2001 nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc định nghĩa: hộ nông dân là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ
Trang 15nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chủ yếu của hộ dựa vào nông nghiệp
+ Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân và theo nhận thức của cá nhân tôi, tôi cho rằng:
Hộ nông dân là những hộ gia đình ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu từ nghề nông Ngoài ra
hộ còn tham gia vào các hoạt động khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau nhưng chỉ là nghề phụ
Hộ nông dân vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng nên không thể là một đơn vị kinh tế độc lập, tuyệt đối và toàn năng mà phải phụ thuộc vào nền kinh
tế quốc dân Khi trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển lên mức cao hơn, thị trường và xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu thì các hộ gia đình càng phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống kinh tế rộng lớn
- Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế bao gồm 6 điểm chính:
+ Điều kiện đầu tiên của phát triển kinh tế là phải có sự tăng trưởng kinh tế (phải có sự tăng lên về quy mô và sản lượng kinh tế trong một thời gian dài và sự tăng lên này phải ổn định)
+ Phải có sự thay đổi về cơ cấu kinh tế: thể hiện ở sự thay đổi về tỷ trọng giữa các vùng kinh tế, miền, ngành và các thành phần kinh tế… Trong đó tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm, ngành công nghiệp và ngành dịch vụ tăng, tỷ trọng của vùng nông thôn giảm đáng kể so với thành thị
+ Chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư trong xã hội được nâng cao: chất lượng giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được quan tâm nhiều hơn, môi trường sống được bảo đảm hơn
+ Trình độ tư duy và quan điểm về các vấn đề thay đổi
+ Muốn thay đổi về tư duy, quan điểm thì nền kinh tế phải là nền kinh tế mở, hội nhập và tham gia mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế
+ Phát triển kinh tế diễn ra trong một thời gian dài và do những nội tố quyết định
Trang 16Phát triển kinh tế được chia thành 4 trường phái chính:
+ Trường phái cơ cấu được các nhà kinh tế học Mỹ Latinh đưa ra Theo trường phái này muốn phát triển kinh tế thì phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng của khu vực sơ khai (nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác khoáng sản) và tăng dần tỷ trọng của khu vực chế tạo và khu vực dịch vụ Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đó, công nghệ là thiết yếu Trường phái cơ cấu còn
cho rằng quan hệ kinh tế quốc tế (thập niên 1940 đến 1960) là quan hệ các nước
đang phát triển cung cấp nguyên liệu thô, còn các nước phát triển cung cấp hàng
hóa chế tạo Vì vậy, các nước đang phát triển muốn phát triển nền công nghiệp
trong nước phải dựa vào nhu cầu trong nước Kết quả của lý thuyết nói trên là chiến
lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu được áp dụng rộng rãi ở các nước đang
phát triển ra đời từ thập niên 1950
+ Mô hình tăng trưởng tuyến tính nhiều giai đoạn:
Từ thành công của Kế hoạch Marshall sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà kinh tế học phát triển cho rằng các nước đang phát triển có thể đẩy mạnh phát
triển kinh tế nếu họ nhận được nhiều vốn và sự can thiệp hợp lý Nhà nước Walt W Rostow, một nhà kinh tế học tiêu biểu giai đoạn này cho rằng để trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, cần phải trải qua bốn giai đoạn: (1) xã hội truyền thống; (2) chuẩn bị các tiền đề để cất cánh; (3) cất cánh; (4) trưởng thành; và (5) chuyển sang
xã hội tiêu dùng quy mô lớn
Các nước đang phát triển ở vào các giai đoạn thứ nhất và thứ hai Muốn cất
cánh, các nước đang phát triển cần phải thỏa mãn ba điều kiện, đó là: tăng tỷ lệ đầu
tư lên không dưới 10% thu nhập quốc dân thông qua tăng tỷ lệ tiết kiệm hoặc nhận
viện trợ của nước ngoài, có một hoặc một số ngành chế tạo tăng trưởng nhanh chóng, và có một khung chính trị, xã hội, thể chế cho phép ngành kinh tế hiện đại phát triển
Rostow nhấn mạnh tốc độ phát triển mà không đề cập đến thay đổi cơ cấu
ngành Do đó, lý luận của Rostow hàm ý phát triển kinh tế chính là thúc đẩy tăng
Trang 17nước giàu mang đến Chính sự phụ thuộc này dẫn đến các nước nghèo bị các nước giàu bóc lột và tầng lớp thống trị ngay trong nội bộ nước nghèo câu kết với các nước phát triển để bóc lột tầng lớp lao động trong nước Chính vì vậy các nước nghèo không nên đi theo con đường tư bản chủ nghĩa để phát triển kinh tế và không nên quan hệ kinh tế với các nước tư bản chủ nghĩa mà nên phát triển nền kinh tế đóng, tự cung tự cấp
+ Các lý luận kinh tế học tân cổ điển:
Vào những năm 1980, kinh tế học tân cổ điển cho rằng các nước đang phát triển muốn phát triển kinh tế phải dựa vào thị trường chứ không phải vào sự can thiệp của nhà nước Nói cách khác, họ đề cao phát triển kinh tế thân thiện với thị trường Muốn như vậy thì cần thực hiện xóa bỏ những hạn chế thị trường,
tư nhân hóa, tự do hóa thương mại, giảm đầu tư công cộng như một cách để giảm sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, tự do hóa thương mại và tự do
hóa tài khoản vốn,
- Kinh tế nông hộ:
Kinh tế nông hộ hay kinh tế hộ nông dân là khái niệm đã được đề cập đến từ rất sớm trong lịch sử phát triển của loài người Từng hình thái phát triển nền kinh tế khác nhau trôi qua lại cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn về kinh tế nông hộ ở thời kỳ lịch sử đó
Tất nhiên, tùy từng thời kỳ phát triển khác nhau, tùy từng cách tiếp cận khác nhau mà chúng ta nhận được những lý thuyết không hoàn toàn giống nhau về kinh
tế nông hộ
+ Theo tư tưởng của Mác và Angghen:
Trong quyển I của bộ Tư bản, khi nghiên cứu con đường công nghiệp hóa đặc thù của nước Anh nhận thấy quá trình người nông dân bị tách khỏi ruộng đất một cách ồ ạt, Mác đã tiên đoán giai cấp nông dân sẽ bị xóa bỏ cùng với nền đại công nghiệp nhưng sau đó, bất chấp xu hướng diễn ra trong thời kỳ công nghiệp hóa nhanh chóng ở nước Anh, nông trại gia đình vẫn tỏ rõ hiệu quả và sức sống của nó Mác cũng nhận thấy rằng hình thức lãi nhất không phải nông trại công nghiệp hóa
mà là nông trại gia đình không dùng lao động làm thuê
+ Theo tư tưởng của V.I.Lênin: Với tư duy biện chứng và hoạt động thực tiễn, V.I Lênin đã có những đóng góp quan trọng vào những luận điểm của Mác và Angghen
Trang 18Lênin cho rằng “cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện
để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ”.Năm 1908 khi bàn về việc lựa chọn con đường phát triển của nông nghiệp nước Nga, Lênin đã nhận thấy rằng kinh tế nông hộ phải phát triển theo kiểu một chủ trại tự do trên một mảnh đất tự do, nghĩa là mảnh đất đó được dọn sạch khỏi những tàn tích trung cổ Lênin cho rằng Cauxky đã đặt vấn đề rất chính xác và đúng đắn khi nói rằng: nông nghiệp không phát triển theo cùng một kiểu với công nghiệp
+ Tư tưởng của Traianop:
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế phức tạp của tổ chức sản xuất nông nghiệp Đó là những doanh nghiệp hàng hóa gia đình nông dân không thuê nhân công mà chiếm đại bộ phận nông hộ ở nước Nga trước cách mạng cũng như trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
Kinh tế hộ nông dân gắn bó hữu cơ với gia đình nông dân vì thế có thể coi kinh tế nông nghiệp nông dân là kinh tế gia đình Đó là xí nghiệp lao động gia đình sống theo những quy luật của nó, khác với những quy luật tư bản chủ nghĩa dựa trên
cơ sở lao động làm thuê Trong kinh tế hộ nông dân, người nông dân vừa là người chủ, vừa là người lao động Mục đích sản xuất không phải vì lợi nhuận mà là để phục vụ nhu cầu của hộ nông dân
+ Theo Hemery, Margolin (1988) thì “xã hội nông dân lạc hậu không nhất thiết phải đi lên chủ nghĩa tư bản, mà có thể phát triển lên chế độ xã hội khác bằng con đường phi tư bản chủ nghĩa”
+ David (1903) đã nhận xét rằng: chủ nghĩa tư bản không làm phá sản nền sản xuất tiểu nông, nền kinh tế này có ưu thế ổn định, nếu so với các nông trại lớn
tư bản chủ nghĩa
+ Theo tư tưởng của Frank Elliss:
Kinh tế hộ nông dân là sản xuất của các hộ gia đình nông nghiệp, có quyền sinh sống trên mảnh đất, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình Sản xuất của
họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động thị trường
+ Theo quan điểm của Traianop (1924) thì kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã hội Mỗi phương thức sản xuất có quy luật phát triển của riêng nó, và trong mỗi chế độ xã hội, nó tìm cách thích ứng
Trang 19với cơ chế kinh tế hiện hành Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề ấy là kết quả chung của lao động gia đình
+ Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc: kinh tế hộ là một hình thức tổ chức
cơ sở của nền sản xuất hàng hóa Nó hoạt động sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình, có một hoặc một số người lao động tự đầu tư khả năng về vốn để trang bị tư liệu sản xuất, sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ theo yêu cầu sản phẩm cho sự sinh tồn của họ trên thị trường
+ Quan điểm của J.Harriss (1982):
J.Harriss trong bài giới thiệu cho cuốn sách “Phát triển nông thôn” đã phân loại các công trình nghiên cứu về nông thôn, nông dân, nông nghiệp ra ba xu hướng chính, đó là xu hướng tiếp cận hệ thống, mô hình ra quyết định và tiếp cận cấu trúc lịch sử
Vấn đề được tranh luận chủ yếu là, trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa, xã hội nông thôn phân hóa thành tư bản nông nghiệp, người làm thuê nông nghiệp hay là người nông dân sản xuất nhỏ, có đất đai, tư liệu sản xuất kinh doanh bằng lao động gia đình vẫn tồn tại vì có được nông sản rẻ hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa
Mỗi quan điểm, tư tưởng của các tác giả cung cấp cho chúng ta một cách hiểu về kinh tế hộ nông dân Tuy nhiên, có thể khái quát chung về kinh tế hộ nông dân như sau:
Kinh tế hộ nông dân là cơ sở của nền kinh tế xã hội, được hình thành dựa trên các mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, phong tục, tâm lý, tâm linh, đạo đức Kinh tế hộ nông dân là cơ sở của nông dân và nông thôn, nó đã tồn tại từ rất lâu ở các nước nông nghiệp của mọi chế độ xã hội, tự chủ trong sản xuất do không sử dụng lao động làm thuê
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa
1.1.2.1 Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đang quá độ sang sản xuất hàng hóa
Trong kinh tế hộ nông dân, chủ thể sản xuất đồng thời là chủ thể lợi ích tạo nên đã tạo ra động lực kinh tế thúc đẩy nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa
Trước đây kinh tế hộ nông dân được quan niệm như là một tàn dư của chế độ kinh tế cá thể, luôn có nguy cơ phá vỡ và làm xói mòn quan hệ sản xuất tập thể Do đó, kinh tế hộ nông dân chỉ được coi là kinh tế phụ Kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa
Trang 20ở nước ta hiện nay khác về chất so với kinh tế hộ tiểu nông tự cung, tự cấp trước đây Hiện nước ta có 3 loại kinh tế nông dân tự chủ:
- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của những người nông dân cá thể (đó là người nông dân chưa vào hợp tác xã) Loại kinh tế hộ nông dân tự chủ này khác với kinh
tế hộ nông dân các thể trước đây ở hai điểm:
+ Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý Họ được nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh của họ được sự quản lý của Nhà nước
- Kinh tế hộ nông dân tự của các thành viên trong các nông trường quốc doanh Ở đây hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ vừa nằm trong mối quan hệ khăng khít với kinh tế quốc dân
- Kinh tế hộ nông dân tự chủ của những người nông dân xã viên HTX Ở đây
hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ vừa có mối quan hệ kinh tế với HTX để giải quyết cả đầu vào và đầu ra cho quá trình sản xuất kinh doanh
Cả 3 loại hộ này khác nhau với kinh tế hộ nông dân cá thể trong chế độ tư hữu trước đây ở chỗ: Ruộng đất (là tư liệu sản xuất quan trọng nhất) thuộc sở hữu toàn dân,
do nhà nước quản lý, nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định, dựa trên quy hoạch, hộ nông dân được quyền lựa chọn phương hướng sản xuất gắn với chuyên canh
và kinh doanh tổng hợp; được quyền lựa chọn quy mô, tổ chức, hình thức quản lý và nơi tiêu thụ sau khi hoàn thành nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước, thực hiện các hợp đồng Nói cách khác, hộ nông dân vừa là người tổ chức, thực hiện vừa là người chịu trách nhiệm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất trong nông nghiệp Lợi ích kinh tế hộ nông dân gắn liền với trách nhiệm và quyền tự chủ của hộ nông dân Đây chính là động lực thúc đẩy các hộ nông dân tự nguyện bỏ thêm công sức, tiền của đầu
tư vào thâm canh và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển tái sản xuất
1.1.2.2 Cơ cấu sản xuất hộ nông dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
Do sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng khác với sản xuất công nghiệp như đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống lại bị chi phối bởi nhiều các yếu tố tự nhiên, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao với những khoảng thời gian trống cho phép tạo ra sự di chuyển nhân công nông nghiệp theo thời vụ Mặt khác, lực lượng lao động trong nông nghiệp nước ta còn chiếm đại bộ phận lao động xã hội, diện tích đất canh tác bình quân đầu người vào loại thấp; sản xuất chủ yếu là độc canh cây lúa Vì vậy khi chuyển sang sản xuất nông
Trang 21nghiệp hàng hóa để tăng thu nhập thì hộ nông dân phải đổi mới cơ cấu sản xuất hàng hóa của mình hướng tăng nhanh tỷ trọng hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường, chuyên canh kết hợp với đa canh để đa dạng sản phẩm, đa dạng hóa ngành nghề Hộ nông dân có thể tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, bới nhiều loại hình sản xuất và mọi nguồn lực có được
Trên cơ sở điều kiện sinh thái của các loại cây trồng vật nuôi, điều kiện lao động, tập quán sản xuất và nhu cầu của thị trường mà cơ cấu sản xuất của hộ nông dân ở các vùng có sự khác nhau
1.1.2.3 Kinh tế hộ nông dân có khả năng điều chỉnh theo sự vận động của cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước
Mác đã từng khẳng định có sự dịch chuyển từ ngành này sang ngành khác một cách nhanh chóng nếu tư bản càng có tính chất di động, tức là càng dễ di chuyển từ một lĩnh vực này sang lĩnh vực khác và sức lao động càng có thể nhanh chóng được di chuyển từ một lĩnh vực này sang một lĩnh vực khác
Trong công nghiệp việc di chuyển tư bản và sức lao động từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác khó khăn Ngược lại đối với nông nghiệp nếu việc sản xuất và tiêu thụ một loại nông sản nào đó gặp khó khăn thì kinh tế hộ nông dân có thể chuyển sang loại nông sản khác Tuy nhiên khả năng điều chỉnh của kinh tế hộ nông dân còn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên (cây, con, thời tiết, khí hậu ) của từng vùng, vào lực lượng lao động, vào tư liệu sản xuất, vốn và trình độ kỹ thuật của từng hộ nông dân, mặt khác chi phí sản xuất sản phẩm tỷ lệ nghịch với quy mô sản xuất, trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất còn ở hộ nông dân trình độ công nghệ sản xuất nhỏ bé, lạc hậu, tổ chức sản xuất không hợp lý, quy mô sản xuất hạn hẹp nên chi phí sản xuất cao làm cho hiệu quả sản xuất hạn chế cho nên kinh tế hộ nông dân chỉ mang tính sản xuất hàng hóa nhỏ, để phù hợp với kinh tế thị trường hiện nay thì quá trình vận động từ sản xuất hàng hóa nhỏ sang sản xuất hàng hóa lơn (kinh tế trang trại) có quy mô sản xuất lớn, trình độ công nghệ hiện đại và tổ chức sản xuất hợp lý
1.2 Những vấn đề chung về sản xuất nông nghiệp và vai trò phát triển kinh tế
hộ nông dân
1.2.1 Một số lý luận về sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C Mác bắt đầu từ hàng hoá Bởi vì, một mặt, sản xuất tư bản chủ nghĩa, trước hết là sản xuất hàng hoá
Trang 22đã phát triển cao, trong đó hàng hoá là "tế bào kinh tế của xã hội tư sản" Mặt khác,
"Sản xuất hàng hoá và một nền lưu thông hàng hoá phát triển, thương mại, đó là những tiền đề lịch sử của sự xuất hiện của tư bản" Vì vậy, để hiểu được tư bản
cũng như phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phải bắt đầu từ hàng hoá và lịch sử vận động của nó Đây cũng là phương pháp nghiên cứu khoa học, vừa mang tính lôgic, vừa mang tính lịch sử
- Khái niệm
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
- Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện
Thứ nhất: Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự chuyên
môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau
Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm
Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng
mở rộng hơn, đa dạng hơn
Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất:
những người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau Do
đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá
Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ
Trang 23Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau
Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
- Đặc trƣng của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán
Trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến Ngược lại, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất
ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa
mang tính xã hội
Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm
ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa
- Ƣu thế của sản xuất hàng hóa
So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn hẳn:
Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội,
chuyên môn hóa sản xuất Do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc
Trang 24đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau
Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn
bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản
xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng
và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội
1.2.2 Vai trò của phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa
Vai trò kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa trước hết được kể đến từ vai trò của hộ nông dân nói chung, từ đó được mở rộng và tăng thêm khi đã trở thành hộ nông dân sản xuất hàng hóa Phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga, Lênin đã lưu ý rằng hộ khai thác triệt để năng lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Do đó có thể thấy vai trò của kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa được biểu hiện cả về kinh tế và xã hội, rộng hơn nữa còn cả bảo vệ, phát triển tài nguyên- môi trường văn hóa, nhân văn
Trang 25Thứ nhất: hộ nông dân sản xuất hàng hóa là đơn vị kinh tế cơ sở chứa đựng
một hệ thống các nguồn lực(đất đai, vốn, lao động, tư liệu sản xuất ) và sở hữu các sản phẩm mà mình sản xuất ra
Hộ nông dân tự chủ thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên các quyết định phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất nhằm cung cấp những loại nông sản phẩm không thể thiếu được cho con người, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội
Vì thế cho đến nay chưa có hình thức nào có thể thay thế được kinh tế hộ nông dân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
Thứ hai: hộ nông dân sản xuất hàng hóa là đơn vị duy trì, tái tạo và phát triển
các nguồn lực có hiệu quả cao
Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân nước ta đã tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi hộ, góp phần quan trọng tạo ra thị trường hàng hóa ngày càng phong phú, dồi dào ngay tại các vùng nông thôn Mặt khác, dưới tác động khách quan của các quy luật kinh tế thị trường, các hộ nông dân đang tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, trên cơ sở sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của từng hộ về vốn, đất đai, lao động, tư liệu sản xuất và tri thức Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau do điều kiện và khả năng sản xuất của từng hộ khác nhau Việc coi hộ là đơn vị tự chủ, đã giúp cho
hộ nông dân có điều kiện chủ động đầu tư thâm canh, cải tạo đất làm cho đất ngày càng tốt hơn và sử dụng tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn Họ biết tích lũy vốn bằng cách "lấy ngắn nuôi dài" trong sản xuất để mở rộng quy mô sản xuất Sản xuất
có thu nhập cao là điều kiện để hộ có thể tái đầu tư các nguồn lực Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, là đơn vị tạo nguồn lao động, tái sản xuất sức lao động xã hội
Ở nước ta, hộ nông dân sản xuất hàng hóa mới phát triển trong những năm gần đây (nhất là kinh tế trang trại gia đình), nhưng đã thể hiện vai trò, ưu thế của nó
về cả mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường Có thể khẳng định:
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Hộ nông dân sản xuất hàng hóa đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng Khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát triển các loại cây trông, vật nuôi có giá trị kinh tế cao,
Trang 26từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hóa nông sản không ngừng tăng lên Từ đó tạo nên vùng chuyên môn hóa, tập trung hóa và thâm canh cao, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, hộ nông dân sản xuất hàng hóa phát triển sẽ kéo theo các ngành kinh tế phát triển nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản, dịch vụ phục
vụ sản xuất nông - lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trong nông thôn Làm cho kinh tế nông thôn phát triển đa dạng và chuyển dịch dần theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa góp phần giải quyết các vấn đề về văn hóa
- xã hội trong nông thôn
Về mặt xã hội, trong điều kiện ngàng kinh tế nông thôn phát triển còn chậm, dân số nông thôn tăng nhanh, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn đề bức xúc thì phát triển hộ nông dân sản xuất hàng hóa có một ý nghĩa to lớn Bởi vì, hộ nông dân sản xuất hàng hóa phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm, thu hút được lao động đang dư thừa trong nông thôn, nhất là số lao động trẻ thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng hiện nay Mặt khác, hộ sản xuất hàng hóa phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, đời sống người dân được cải thiện, giảm hộ đói nghèo, tăng nhanh hộ khá giầu, góp phần thúc đẩy kết cấu hạ tầng trong nông thôn,
Cơ sở vật chất của các hộ nông dân được tăng cường, nhà cửa khang trang, phương tiện sinh hoạt được trang bị ngày càng đầy đủ và hiện đại, làm cho bộ mặt xã hội nông thôn được thay đổi nhanh chóng
Về mặt văn hóa, phát triển hộ sản xuất hàng hóa sẽ xóa dần những tập quán canh tác, những tập tục lạc hậu trong sản xuất thay thế bằng những quy trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, tạo tấm gương về cách thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh Mặt khác, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, những lễ hội truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay được chú ý khôi phục và phát triển, góp phần xây dựng nông thôn mới, tạo nên nét đẹp văn hóa cộng đồng làng, mang đậm nét nền văn minh nông nghiệp
- Hộ nông dân sản xuất góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường sinh thái
Với chính sách giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất hàng hóa hình thành và phát triển Vì lợi ích lâu dài, các hộ nông
Trang 27dân luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, nơi mà họ đang sống, lao động để làm ra của cải vật chất nuôi sống gia đình
Trong những năm qua các hộ sản xuất hàng hóa đã sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, thực hiện các biện pháp canh tác khoa học, kỹ thuật và hợp lý không ngừng tăng thêm độ mầu mỡ của đất Sử dụng vật tư nông nghiệp như phân đạm, thuốc trừ sâu một cách hợp lý làm cho đất, nguồn nước không bị ô nhiễm Các hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở vùng đồi núi đã tích cực trong việc hình thành khoanh nuôi, bảo vệ rừng, trồng rừng tập trung, rừng đặc dụng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, giữ được nguồn nước ở vùng cao Từ đó góp phần tích cực trong việc cải tạo tài nguyên đất, rừng, nguồn nước và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng trong cả nước
Trong nền kinh tế thị trường ngoài việc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường về nông sản do họ sản xuất mà còn phải mở rộng quy mô sản xuất, thuê thêm nhân công, ở mức cao có thể có một số hộ nông dân sẽ phát triển thành trang trại gia đình Kinh tế hộ nông dân phát triển trên thực tiễn đã hình thành các nhóm kinh tế hộ nông dân khác nhau, đó là: nhóm kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hóa theo mô hình kinh tế trang trại, gia đình Vì vậy, kinh tế hộ nông dân muốn phát triển tốt cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về chính sách phát triển kinh tế, cơ sở
và khu đô thị, khu đông dân cư, gần các trung tâm tiêu thụ nông sản… sẽ có điều kiện tốt hơn để phát triển kinh tế so với các hộ ở miền núi, vùng sâu vùng xa, đi lại khó khăn
Sản xuất của các hộ nông dân chủ yếu là nông nghiệp nên đất đai là thành phần không thể thay thế trong quá trình sản xuất Những hộ nông dân có những mảnh đất màu mỡ, thuận tiện nguồn nước tưới tiêu, địa hình thuận lợi cho từng loại hình canh tác sẽ có thể phát triển kinh tế hộ tốt hơn những hộ đất đai sỏi đá, không
Trang 28gần nguồn nước cũng như địa hình núi đá phức tạp Đất đai cũng ảnh hưởng lớn đến
số lượng và chất lượng sản phẩm và lợi nhuận thu được
- Khí hậu và môi trường sinh thái
Ngoài ảnh hưởng bởi vị trí địa lý và đất đai, sản xuất nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng lớn bởi khí hậu thời tiết Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, bão, lốc xoáy… là những nhân tố của khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân Một năm mưa thuận, gió hòa, nhiệt độ, ánh sáng phù hợp, độ ẩm thích hợp không tạo điều kiền cho sâu bệnh phát triển; cây cối, gia súc, gia cầm, thủy hải sản… phát triển tốt sẽ tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển, mang lại lợi nhuận cao
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất
là nguồn nước Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh học, chúng cần nước để sinh trưởng và phát triển Nếu nguồn nước sạch sẽ và cung cấp đầy đủ cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi thì chúng sẽ phát triển tốt, năng suất cao Còn ngược lại chúng sẽ phát triển chậm, năng suất giảm đi đáng kể
1.3.2 Các yếu tố sản xuất
- Lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để có thể tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật và áp dụng vào sản xuất Những người giỏi chuyên môn, có khả năng quản lý sẽ mạnh dạn áp dụng những thành tựu khoa học
kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm sản xuất vào sản xuất để mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhằm thu được lợi nhuận cao
- Vốn
Nguồn vốn cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của
hộ nông dân Những hộ có nguồn vốn đầu tư lớn có khả năng mua những giống vật nuôi, cây trồng tốt; đầu tư vào các trang thiết bị, vật tư nông nghiệp (máy gặt đập liên hoàn, máy sấy, phân bón, máy cày…) cũng như thuê nhân công nhằm mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao từ đó lợi nhuận cũng tăng lên Vốn cũng là yếu tố cần thiết để giúp lưu thông hàng hóa
- Đất đai sở hữu
Việc sở hữu đất đai cũng là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa Những hộ sở hữu những mảnh đất màu
Trang 29mỡ, vị trí địa lý thuận lợi (gần đường giao thông, gần các khu chế biến sản phẩm, các khu đông dân cư…), gần nguồn nước, khí hậu điều hòa… sẽ có điều kiện cần để thúc đẩy sản xuất hàng hóa theo quy mô từ nhỏ đến lớn tùy theo diện tích đất đai
mà hộ nông dân sở hữu
1.3.3 Đầu ra cho sản phẩm
Đầu ra cho sản phẩm hay nhu cầu của thị trường sẽ quyết định hộ nông dẫn sản xuất sản phẩm gì, với số lượng bao nhiều và chất lượng như thế nào là đạt tiêu chuẩn Trong nền sản xuất hàng hóa, hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà họ muốn sản xuất để đáp ứng yêu cầu của thị trường Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
1.3.4 Cơ sở hạ tầng
Các cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống điện, thông tin liên lạc cũng như hệ thống thủy lợi, nhà xưởng là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của hộ nông dân Thực tế cho thấy tất cả các điều kiện về cơ sở hạ tâng thuận lợi sẽ tạo điều kiện thuận lợi (tiết kiệm chi phí vận chuyển, có nguồn điện sử dụng cho máy bơm nước, và đủ nguồn nước cung cấp cho sản xuất ) cho phát triển kinh tế hộ
1.3.5 Khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật phát triển (phát minh ra máy gặt đập liên hoàn, máy bơm nước, mày cày bừa, máy sấy ) sẽ tiết kiệm được nhân lực và nâng cao năng suất lao động, từ đó dẫn đến giảm chi phí cho sản xuất, mang lại lợi nhuận cao Thậm chí, khoa học kỹ thuật còn làm thay đổi hẳn sản xuất hàng hóa, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Nhờ có khoa học kỹ thuật mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, khí hậu, thời tiết, sinh vật, máy móc kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp
1.3.6 Cơ chế, chính sách
Nhóm nhân tố này bao gồm các cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ lao động và sản xuất nông nghiệp, chính sách trợ giá nông sản, miến thuế cho sản phẩm mới, chính sách đầu tư vào ngành nông nghiệp, cho vay vốn, giải quyết việc làm, đưa người đi xây dựng vùng kinh tế mới Các chính sách này ảnh hưởng nhiều đến phát triển kinh tế hộ nông dân Đây cũng là cách nhà nước can thiệp sâu vào ngành nông nghiệp, quản lý
và thúc đẩy ngành nông nghiệp sản xuất hàng hóa phát triển nhanh và mạnh
Trang 301.4 Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa trên thế giới
- Nhật Bản
Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề, không chỉ sản xuất công nghiệp mà nông nghiệp cũng đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thực trong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy trong điều kiện đất chật người đông, để phát triển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường
sử dụng phân hoá học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh Sản xuất tiếp tục phát triển và tới 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30% Sản xuất nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa
Từ các mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn Nhật Bản rút ra bài học kinh nghiệm là: khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá trong các nông trại theo quy luật kinh tế thị trường có sự điều tiết của Chính phủ Đồng thời bằng tiềm lực kinh tế có được, Chính phủ hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ hiện đại vào sản xuất và chế biến nông sản hàng hoá, và thực hiện rộng rãi mô hình hệ thống công nghiệp ba tầng nông thôn thành các khu vực sản xuất công nghiệp vệ tinh và thực hiện đô thị hoá nông thôn
- Thái Lan
Thái Lan là một nước nằm trong khu vực với nước ta, có diện tích canh tác 19,62 triệu ha Đến nay đã trở thành một nước phát triển trong khu vực mặc dù hàng chục năm trước Thái Lan cũng chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu.Tuy nhiên cho đến nay thì quốc gia này có thế mạnh về nông nghiệp Ở đây họ đang làm khá tốt các chính sách về xây dựng và phát triển nông thôn như sau:
Thứ nhất là chính sách trợ giá nông sản Ở Thái Lan đang thực hiện trợ giá
cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây,.… Chính phủ Thái Lan đã mua giá gạo thơm 6.500baht/tấn trong khi giá thị trường chỉ 5.000 - 5.200baht/tấn Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu
Trang 31đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp,… Ngoài ra, Thái Lan cũng có hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm
vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới
Thứ hai là chính sách công nghiệp nông thôn Thái Lan vốn là nước nông
nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chiếm khoảng 80% Do vậy, công nghiệp nông thôn được coi là nhân tố quan trọng giúp cho Thái Lan nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân
Để thực hiện nhiệm vụ này, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đầy
đủ các nguồn tài nguyên, xem xét những kỹ năng truyền thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị,… Cụ thể là Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước
Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ một số chính sách sau:
+ Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product - OTOP) tức là mỗi ngày làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Trên thực tế chương trình này trung bình 06 tháng đem lại cho nông dân khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận Bên cạnh chương trình trên chính phủ Thái Lan cũng thực hiện chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận được một triệu baht từ chính phủ để cho dân làng vay mượn Trên thực tế đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này
+ Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm Để thực hiện chính sách chính phủ Thái Lan đã phát động chương trình: “Thái Lan là bếp ăn của thế giới” với mục đích khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động
Trang 32thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng
Thứ ba là: mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm Ở đây chính
phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở Thái Lan xúc tiến tiến công việc này là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp, Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ nông nghiệp
Tóm lại: chính sách xây dựng phát triển nông thôn ở Thái Lan là một loạt
chính sách ra đời từ thách thức của nền nông nghiệp Thái Lan, đó là diện tích canh tác bị thu hẹp, nông dân bỏ ruộng vườn đi làm thuê, nông dân không được hưởng lợi từ các chính sách của chính phủ
Đây là chính sách nhằm “bắt bệnh” và tìm thuốc chữa xuất phát từ sự quan tâm của vua Thái Lan đến chính phủ và chính quyền của các địa phương Các chính sách ấy đã kết hợp được kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại đề từng bước làm cho suy nghĩ, nhận thức cùa người nông dân Thái Lan thay đổi, họ đã hiểu sản xuất nông nghiệp không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu Từ đây họ đã chung sức, chung lòng phát triển nền nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh, công nghệ cao và một số lĩnh vực đứng đầu thế giới
- Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có 7000 triệu nông dân chiếm 60% dân số cả nước Trung Quốc đã từng trải qua một giai đoạn cực kỳ khó khăn đó là quá trình tích tụ ruộng đất để hiện đại hóa đã đẩy hàng triệu nông dân ra thành phố làm việc, ruộng đồng hoang hóa, các quan chức địa phương và giới thương nhân thường câu kết để chiếm ruộng đất nông nghiệp để xây cất nhà cửa hoặc biến thành khu công nghiệp Do vậy, nông thôn Trung Quốc khi yên bình mà liên tục diễn ra biểu tình, gây rối, kiện cáo, bạo lực Số liệu thống kê cho thấy hồi năm 2004 Trung Quốc có 74.000 vụ khiếu kiện tập thể thu hút gần 4 triệu người tham gia và 2005 số vụ là 84.000 và 2006 là 90.000 vụ Trước tình hình đó ông Hongyuan giám đốc TT nghiên cứu kinh tế nông thôn, Bộ nông nghiệp Trung Quốc khẳng định: Nguyên nhân là do vi phạm quyền đất đai của người nông dân diễn ra thường xuyên khi
Trang 33chính quyền địa phương quyết định thay cho nông dân và vấn đề là phải có sự cải cách sửa đổi để bảo vệ quyền lợi đầy đủ cho người nông dân Một số thay đổi mang tính chất đột phá trong chính sách đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Trung Quốc đã được thực hiện như sau:
Thứ nhất, nhanh chóng giảm thuế để thu hút đầu tư vào nông nghiệp Ở đây
Trung Quốc đã thực thi chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp Hiện Trung Quốc có trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn chiếm 30% tổng số doanh nghiệp cả nước Thực tế hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (gần bằng 10 tỷ doanh nghiệp), các doanh nghiệp có số vốn từ 200 tỷ trở lên chỉ chiếm 30% Cách này đã vực dậy tình trạng thua lỗ của quá nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn
Để thu hút tốt chính sách này Trung Quốc đã thành lập nhiều đoàn kêu gọi xúc tiến đầu tư ở Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, EU,… Hiện nay Bộ Nông nghiệp đã trình cho chính phủ đề án thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đến 2015, trong đó chú trọng phát triển công nghệ sinh học để tạo
ra giống cây trồng, vật nuôi có năng xuất chất lượng cao, áp dụng công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch để nâng cao giá trị; an toàn vệ sinh của sản phẩm sau thu hoạch
Thứ hai, bắt đầu từ năm 2009 trở đi Trung Quốc sẽ phát triển khu công
nghiệp công nghệ cao Đó là các công nghệ được ứng dụng tiên tiến và mới nhất;
công nghệ được ghép nối trong một qui trình liên tục khép kín; công nghệ có khả năng ứng dụng trong điều kiện cụ thể và có thể nhân rộng; mô hình phải đạt hiệu quả về kinh tế và là nơi hợp tác giữa nhà Khoa học - Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà nông trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo
Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã làm bùng nổ về phát triển nông nghiệp, nông thôn chuyên sâu theo cách “Nhất thôn, nhất phẩm” (Mỗi thôn có một sản phẩm) Đến nay, Trung Quốc đã có 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp kéo theo sự phát triển của 90.980.000 hộ sản xuất trên 1.300.000.000 mẫu diện tích trồng cây các loại; 95.700.000 mẫu chăn nuôi thủy, hải sản Trước mắt lục địa Trung Quốc này đã xây dựng 4.139 khu công nghiệp tiêu chuẩn hóa cấp tình và quốc gia
Thứ ba, bài học “Tam nông” trong xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc với tiêu chí “hai mở, một điều chỉnh” đó là: mở cửa giá thu mua, mở cửa thị trường
Trang 34mua bán lương thực và một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trở thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực Để thực hiện được tiêu chí trên thì chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay hỗ trợ tài chính tam nông với ba mục tiêu: “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông nghiệp phát triển và nông dân tăng thu nhập” Định hướng hổ trợ tài chính cho Tam nông ở Trung Quốc hiện nay là:
“Nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa”
Trong chính sách tài chính tăng thu nhập cho nông dân, trung Quốc đa tăng đầu tư hỗ trợ về giá thu mua giống, hỗ trợ mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị là vấn đề đi cùng với chính sách xây dựng cơ chế hướng nghiệp Đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ
Hiện nay chính sách Tam nông ở Trung Quốc đã đạt hiệu quả khá tốt, năm
2009 thu nhập bình quân của dân cư nông thôn đạt 8.000 tệ/năm tăng 8,5% so với
2008 Năm 2009 Trung Quốc đã làm 300.000 km đường bộ nông thôn, hổ trợ 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiếu triển khai 320 huyện thực hiện thí điểm bảo hiểm dưỡng lão xã hội ở nông thôn
Chính sách tam nông ở Trung Quốc cũng gắn với chủ trương hạn chế tới đa việc lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp ở nước này được qui định rất chặc chẽ Chuyển đổi quyền sử dụng đất đai phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng và nằm trong chỉ giới nhất định bảo đảm Trung Quốc luôn có 1,87 tỷ mẫu đất trở lên Mặt khác, những khoản tiền thu được từ phát triển công nghiệp do lấy đất công nghiệp phải được chuyển về chính quyền nông thôn, xã để lo cho phát triển đời sống KT-XH của nhân dân
Thư tư, Trung Quốc thực hiện chính sách nông thôn mới là khuyến nông và
tăng quyền cho nông dân Nội dung cốt lõi của chính sách này là nông dân được
trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp Việc nông dân được phép bán đất đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các nông trại qui mô lớn với công nghệ canh tác
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa trong nước
Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và
Trang 35bảo đảm cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế Nhưng trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế
hộ phát triển
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ)
Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-01-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã Tiếp theo đó, Nghị Quyết 10, ngày 05-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh
tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Ngoài ra, đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 03-02-1993
về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản Động lực mới cho sự phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất hiện
Từ đó, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình
là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật
Trang 36quy định Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng
Có thể nhận diện kinh tế hộ gia đình qua các đặc điểm chủ yếu sau: Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ; Kinh tế hộ gia đình tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau; Trong kinh tế hộ gia đình, chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng là người lao động trực tiếp Tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động; Quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít Sản xuất của kinh tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu; Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp Do vậy, tích lũy của
hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính; Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng như
về kinh tế thị trường rất hạn chế Tại Việt Nam, kinh tế hộ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn Xét theo cơ cấu ngành nghề, kinh
tế hộ được phân chia thành các loại: hộ thuần nông (hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp); hộ kiêm nghề (vừa làm nông nghiệp, vừa hoạt động tiểu thủ công nghiệp); hộ chuyên nghề (hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề và dịch vụ); và hộ kinh doanh tổng hợp (hoạt động cả trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
Sau gần 30 năm được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, sự phát triển kinh tế
hộ gia đình đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó nổi bật là: Thứ nhất, số lượng hộ gia đình kinh doanh cá thể tại khu vực nông thôn tăng nhanh, trong đó tốc độ tăng của giai đoạn sau (2006-2014) cao hơn giai đoạn kế trước (2001-2005), tương ứng 11,5% so với 5,38% Điều đáng nói là, trong giai đoạn sau,
sự gia tăng các hộ kinh doanh diễn ra khá đồng đều trên phạm vi cả nước, trong đó: tăng cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (+26,74%); thấp nhất là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ (+8,31%) Thứ hai, cơ cấu hộ đã có sự chuyển dịch theo
Trang 37hướng hiện đại Điều này được thể hiện ở sự giảm xuống khá nhanh cả về số lượng
và tỷ trọng của nhóm hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản (NN, LN, TS) và sự tăng lên của nhóm hộ công nghiệp-xây dựng (CN-XD) và dịch vụ (DV) Trong nội bộ ngành NN-LN-TS, sự chuyển dịch cơ cấu hộ cũng diễn ra theo chiều hướng tích cực So sánh năm 2014 với năm 2001, số hộ thuần nông giảm 2,6% về tỷ trọng và 6,2% về
số hộ; tương ứng hộ lâm nghiệp tăng 0,3% và 10,5%; hộ thủy sản tăng 2,3% và 38,8% Thứ ba, lĩnh vực hoạt động của các hộ nông thôn ngày càng đa dạng, nhờ đó
cơ cấu thu nhập của hộ cũng có sự thay đổi theo hướng bền vững hơn Ngoài những ngành nghề truyền thống như trồng lúa và các loại cây ăn trái, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, các hộ đã chủ động chuyển đổi ngành nghề, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi để tạo nguồn thu nhập cao và ổn định hơn Kết quả là nhiều hộ nông dân đạt doanh thu/năm lên tới con số hàng tỷ đồng, lợi nhuận/năm trên 1 tỷ đồng, thậm chí có hộ đạt 5,6 tỷ đồng
Theo đó, cơ cấu thu nhập của hộ cũng có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ
Cụ thể, xét theo nguồn thu nhập, sau 10 năm tỷ trọng hộ có nguồn thu chủ yếu từ nông nghiệp trong tổng thu nhập giảm và tỷ trọng hộ có nguồn thu chủ yếu từ các hoạt động phi nông nghiệp tăng.Điều đó nói lên rằng, các hộ gia đình đang dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên, do đó giảm bớt được những rủi ro trong sản xuất và đời sống Thứ tư, vốn tích lũy bình quân/hộ ở khu vực nông thôn cứ sau 5 năm lại tăng hơn gấp đôi, kể cả ở những vùng không có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế như Trung du và Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Cụ thể, năm 2001, vốn tích lũy bình quân/hộ mới đạt hơn 3,2 triệu đồng, thì năm 2006 đạt hơn 6,65 triệu đồng (tăng 2,1 lần) và năm 2012 là 16,84 triệu đồng (gấp 2,5 lần năm 2006) Đặc biệt, các hộ thuần nông cũng đã đạt được một lượng vốn tích lũy đáng kể: năm 2006 đạt mức 4,784 triệu đồng/hộ (tăng 1,9 lần so với 2001); năm 2012 đạt 12,504 triệu đồng/hộ (tăng 2,6 lần so với 2006) Thứ năm, tính chất và quy mô của nền sản xuất hàng hóa lớn ngày càng thể hiện rõ nét trong khu vực kinh tế hộ Nhiều hộ gia đình có quy mô sản xuất khá lớn, với lượng vốn kinh doanh lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng chục tỷ đồng, trong đó một bộ phận đáng kể hộ nông dân đã thành lập các doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa, một
bộ phận khác là sáng lập viên của các tổ hợp tác và hợp tác xã Sự liên kết, mở rộng quy mô, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các hộ đã thể hiện xu hướng phát triển của nền sản xuất hàng hóa theo hướng hiện đại Nếu so với giai đoạn 2002-
Trang 382007, số hộ đạt mức thu nhập trên 200 triệu đồng/năm giai đoạn 2007-2014 đã tăng gấp 3 lần, và số hộ có mức thu nhập trên 1 tỷ đồng/năm tăng 5 lần Nhờ đó, tỷ suất nông sản hàng hóa một số sản phẩm đạt mức khá cao, trong đó hạt điều đạt trên 90%, cao su trên 85%, chè trên 60%, lúa gạo trên 50%, cà phê 45% Thứ sáu, ngày càng xuất hiện nhiều hộ nông dân khẳng định được vị trí trong nền kinh tế thị trường và có tác động lớn đến sự nghiệp xóa đói giảm nghèo bền vững tại địa phương, được phong danh là “Hộ sản xuất kinh doanh giỏi” Riêng năm 2012, số hộ nông dân đạt danh hiệu này là 4,24 triệu, chiếm 27,7% tổng số hộ Điều đáng khích
lệ là, những hộ sản xuất kinh doanh giỏi đó không chỉ làm giàu cho bản thân, mà còn giúp đỡ nhiều hộ khác thoát nghèo thông qua việc tích cực hướng dẫn, phổ biến kinh nghiệm sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo thêm việc làm mới và tham gia đào tạo nghề cho họ Tính trong 5 năm (2009-2014), các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã tạo ra hơn 10,5 triệu việc làm cho lao động tại địa phương, trong đó: trên 3,3 triệu lao động có việc làm thường xuyên; hơn 7 triệu lao động có việc làm theo mùa vụ hoặc khâu công việc; giúp đỡ vốn, giống cây, con và kinh nghiệm sản xuất cho hơn 7,1 triệu lượt hộ nông dân; giúp hơn 150 ngàn hộ thoát được nghèo và đang vươn lên làm ăn khá giả Ngoài ra, các hộ sản xuất kinh doanh giỏi còn giúp đỡ cải thiện nhà ở và vốn sản xuất cho hơn 1 triệu hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Đa dạng hóa hoạt động kinh tế làm cho cơ cấu nguồn thu của hộ gia đình nông thôn có sự thay đổi đáng kể, mặc dầu tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp đã giảm đi đáng kể nhưng nông nghiệp vẫn còn là ngành kinh tế quan trọng trong nông thôn, nhất là đối với hộ gia đình nghèo, thuần nông, hộ gia đình sinh sống ở vùng sâu, vùng xa Có sự tăng lên đáng kể và thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của hoạt động làm công ăn lương (thu từ tiền công) và đây là kết quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa khi mà lao động nông nghiệp được thu hút và chuyển dần sang làm việc tại các ngành khu công nghiệp, tham gia vào các hoạt động dịch vụ
- Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa ở Nghĩa Lộ - Yên Bái
Những năm qua, thị xã Nghĩa Lộ đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung với các loại cây, con giống có giá trị kinh tế cao, phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân Đó là kết quả
Trang 39của chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, điều kiện thâm canh của người dân địa phương
“Từ năm 2010 đến nay, đặc biệt là thực hiện Đề án Phát triển nông nghiệp thị
xã Nghĩa Lộ giai đoạn 2014 - 2015, định hướng đến năm 2020, thị xã đã lập quy hoạch và tổ chức thực hiện các vùng sản xuất chuyên canh, vùng sản xuất lúa năng suất, chất lượng cao với tổng diện tích gieo trồng cả năm 812 ha Trong sản xuất lúa hàng hóa, Nghĩa Lộ đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu giống theo hướng tăng diện tích lúa chất lượng cao, lúa nếp các loại Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp của thị xã tăng trưởng ổn định, giá trị thu nhập trên 1ha đất 2 vụ lúa năm 2014 ước đạt 126 triệu đồng, gấp 1,5 lần so năm 2010”
Hàng năm, diện tích lúa hàng hóa của thị xã đạt trên 1.000ha, năng suất bình quân đạt 113 tạ/ha, sản lượng đạt 11.300 tấn Bình quân thu nhập 1ha lúa chất lượng cao đạt 83 - 85 triệu đồng/vụ/năm, cao hơn so với vùng sản xuất lúa khác từ 15 - 20 triệu đồng/ha
Cùng với thâm canh lúa, các mô hình trồng nấm rơm được triển khai thực hiện
từ vụ đông năm 2012 - 2014 Qua 3 vụ nấm, mô hình cho thấy phù hợp với trình độ, khả năng tiếp cận của người dân bởi chu kỳ sản xuất chỉ từ 1 - 1,5 tháng, chi phí đầu
tư thấp nhưng cho hiệu quả kinh tế khá cao Bình quân 1 tấn nguyên liệu sản xuất đạt trên 115kg nấm, với giá thị trường 70.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, người trồng nấm thu lãi 5,5 triệu đồng/1 tấn nguyên liệu, cũng là thu nhập đáng kể Ngoài
ra, trên địa bàn thị xã còn nhiều mô hình, dự án sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao như: thâm canh ngô tím Fancy 111, sau khi trừ chi phí sản xuất, người nông dân thu lãi trên 50 triệu đồng/ha; trồng cà chua Montavi (Ấn Độ), súp lơ xanh VL - 1772 (Nhật Bản), trồng hoa trong nhà lưới
Trong chăn nuôi, thị xã vận động nhân dân tích cực đưa giống mới có giá trị cao vào sản xuất, phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại Trong 2 năm (2013 - 2014), ngoài các mô hình chăn nuôi truyền thống, Nghĩa Lộ còn phát triển nuôi chim bồ câu Pháp với 10 hộ tham gia (25 cặp chim bố, mẹ/hộ) Trung bình một cặp chim giống cho thu trên 1,7 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, cho lãi gần 700 nghìn đồng/năm Vì thế, nuôi chim bồ câu Pháp hiệu quả cao hơn nhiều so với nuôi các loại gia súc, gia cầm khác do chi phí đầu tư không quá cao, không tốn nhiều công sức để chăm sóc lại nhanh thu hồi vốn
Trang 40Cùng với các chương trình hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện đã giúp người nông dân thay đổi tư duy theo hướng sản xuất hàng hóa góp phần nâng cao giá trị thu nhập/ha đất canh tác, hình thành vùng chuyên canh, đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao thu nhập kinh tế hộ gia đình
Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa ở thị xã Nghĩa Lộ đã đạt những kết quả bước đầu, song chưa tương xứng so với tiềm năng của địa phương Trong thời gian tới, thị xã Nghĩa Lộ tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản theo hướng toàn diện, sản xuất hàng hoá, duy trì vùng sản xuất lúa hàng hoá đạt 500 ha; sử dụng giống năng suất, chất lượng cao, nghiên cứu vùng sản xuất lúa giống, thử nghiệm mô hình một số cánh đồng gieo cấy cùng trà, cùng giống; phấn đấu đưa diện tích đất 2 vụ lúa vào sản xuất vụ 3 đạt 85% trở lên, nhân rộng các mô hình cây trồng có giá trị kinh tế cao nâng giá trị thu nhập trên 1ha đất canh tác lên 150 triệu đồng/năm
- Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng hàng hóa ở đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng có 10 tỉnh, thành: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình; diện tích xấp xỉ 15 nghìn km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 855 nghìn ha, chiếm 57% Dân số là 19.577.944 người (thời điểm 1-4-2009) Tính đến hết năm 2011, đồng bằng sông Hồng có 87,3% số xã đạt từ 2 đến 5 tiêu chí nông thôn mới Vĩnh Phúc là một trong những địa phương đi đầu trong công tác tiến hành quy hoạch và lập đề án xây dựng nông thôn mới Sau gần 2 năm thực hiện thí điểm xây dựng nông thôn mới, các xã điểm của Nam Định đang từng ngày đổi thay Nhiều tiêu chí nông thôn mới đã được các xã hoàn thành Năm 2012, Nam Định đã rà soát, đánh giá thực trạng nông thôn ở cả 209 xã, thị trấn có sản xuất nông nghiệp Trong đó 3
xã, thị trấn đạt từ 11 đến 13 tiêu chí; 107 xã, thị trấn đạt từ 6 đến 10 tiêu chí và 99
xã, thị trấn đạt dưới 6 tiêu chí Tại Thái Bình, sau hơn 3 năm thực hiện, tại 8 xã điểm xây dựng nông thôn mới của Tỉnh đã đạt từ 13-15 tiêu chí Tỉnh tiếp tục tập trung phấn đấu 8 xã này cơ bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới trong năm
2013 Khảo sát 8 xã thuộc 4 tỉnh Đồng bằng sông Hồng năm 2012 cho thấy phát triển kinh tế hộ gia đình đang có những biến đổi nhanh chóng và đa chiều giữa các nhóm hộ Sự khác biệt này do nhiều nhân tố tác động, trước hết phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ; vào các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở