ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRƯƠNG THỊ NGỌC MỸ THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN TOÁN LỚP 12 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Chuyên ngành: Lý luận và Ph
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ NGỌC MỸ
THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN TOÁN LỚP 12 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ NGỌC MỸ
THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN TOÁN LỚP 12 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THỊ THÁI
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trương Thị Ngọc Mỹ
Trang 4Cô giáo, PGS.TS Vũ Thị Thái - Giảng viên khoa Toán, trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban giám hiệu nhà trường, các đồng nghiệp và học sinh trường THPT Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, nơi tôi đang công tác
Bạn bè và những người thân trong gia đình đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia học tập, nghiên cứu
Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp
ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Trương Thị Ngọc Mỹ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Giả thuyết khoa học 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Khách thể nghiên cứu đối tượng nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực ở trung học phổ thông 4
1.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới 6
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 8
1.1.3 Giáo dục toán học theo hướng phát triển năng lực người học 13
1.2 Khái niệm và vai trò của thiết kế bài giảng 16
1.2.1 Khái niệm thiết kế bài giảng 16
1.2.2 Vai trò của thiết kế bài giảng 17
1.3 Khái niệm và vai trò của CNTT trong dạy học 18
1.3.1 Khái niệm CNTT 18
Trang 61.3.2.Vai trò của CNTT trong dạy học nói chung và DH môn Toán nói
riêng 19
1.4 Một số ứng dụng của CNTT trong thiết kế và thực hiện bài giảng 22
1.4.1.Sử dụng các phương tiện kĩ thuật DH 22
1.4.2 Sử dụng và khai thác mạng Internet 23
1.4.3 Sử dụng một số phần mềm công cụ thông dụng (Word, Powerpoint, Bản đồ tư duy ) 24
1.4.4 Sử dụng một số phần mềm dạy học (Violet, Grapth, Cabri, Maple) 25
1.5 Thực trạng về thiết kế bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT của giáo viên trong nhà trường THPT 26
1.5.1 Điều tra trên diện rộng 26
1.5.2 Điều tra đối với một số trường THPT trong tỉnh Lạng Sơn 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Chương 2 THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN TOÁN LỚP 12 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 31
2.1 Chương trình SGK toán lớp 12 THPT 31
2.2 Một số định hướng trong thiết kế và thực hiện bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT 31
2.3 Thiết kế một số bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích thực nghiệm 67
3.2 Nội dung thực nghiệm 67
3.2.1 Nội dung thực nghiệm sư phạm 67
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 67
3.3 Tổ chức thực nghiệm 67
3.3.1.Thời gian thực nghiệm 67
Trang 73.3.2 Đối tượng thực nghiệm 68
3.3.3 Các bước tiến hành thực nghiệm 68
3.4 Phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 8NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNTT - TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Phân tích đánh giá kết quả của bài kiểm tra về mặt định lượng 71 Biểu đồ 3.1: Kết quả kiểm tra kiến thức 15' của 2 lớp TN và ĐC 72 Biểu đồ 3.2: Kết quả kiểm tra kiến thức 45' của 2 lớp TN và ĐC 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của HS” [16]
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực
và về khoa học công nghệ Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học Như đề tài “Giáo dục từ xa” do giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ nhiệm, giáo trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học toán do PGS.TS Trịnh Thanh Hải làm chủ biên, giáo trình ứng dụng tin học trong dạy học Toán của nhóm tác giả Trịnh Thanh Hải - Trần Việt Cường - Trịnh Thị Phương Thảo, Giáo trình "Phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở tiểu học" của nhóm tác giả Đào Thái Lai (Chủ biên), Trịnh
Thanh Hải - Vũ Thị Thái, Vũ Mạnh Xuân Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Trong dự án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, chúng ta chủ chương: Xây dựng và phát triển chương trình theo định hướng kết quả đầu ra theo các nhóm năng lực (năng lực được hiểu như một hệ thống các khả năng, sự thành thạo hay kĩ năng biệt cần thiết đủ để đạt tới một mục đích nhất định) Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi mỗi một giáo đều phải quan tâm và phấn đấu
Trang 11Là GV công tác tại tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Việt Nam, Lạng Sơn còn rất nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và giáo dục Để tiến kịp và hòa nhập được với công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay của đất nước, tôi thấy rằng việc ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế bài dạy là hết sức cần thiết Nó sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của tỉnh Lạng Sơn
Với những lý do trên đề tài được chọn là: “Thiết kế và thực hiện một số
bài giảng môn Toán lớp 12 với sự hỗ trợ của CNTT”
2 Giả thuyết khoa học
Nếu GV biết khai thác, thiết kế và ƯDCNTT một cách phù hợp trong DH môn toán thì sẽ phát triển được tư duy lôgic, tạo hứng thú học tập, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của HS, rèn luyện khả năng tự học của HS góp phần nâng cao chất lượng DH
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và thực hiện bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT trong đổi mới PPDH, xây dựng và thực hiện một số bài giảng Toán lớp 12 (Chương trình cơ bản) với sự hỗ trợ của CNTT góp phần nâng cao chất lượng DH môn Toán cho HS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về thiết kế và ứng dụng CNTT trong DH toán theo hướng phát triển năng lực của HS THPT
- Nghiên cứu và phân tích chương trình cơ bản môn Toán lớp 12 THPT
- Xây dựng và thực hiện một số bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT giúp
GV nâng cao chất lượng DH môn Toán cho HS lớp 12 THPT
- Triển khai dạy thử nghiệm một số bài giảng đã xây dựng tại trường THPT Đồng Đăng, Cao Lộc, Lạng Sơn
5 Khách thể nghiên cứu đối tƣợng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu: Ứng dụng CNTT trong dạy học phổ thông 5.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT
trong dạy học môn Toán cho HS lớp 12 THPT
Trang 126 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thiết kế và thực hiện một số bài giảng môn Toán lớp 12 theo chương trình SGK cơ bản có ứng dụng CNTT
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu có liên quan tới đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực của học sinh, một số cách thiết kế bài giảng với sự
hỗ trợ của CNTT trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng DH môn Toán
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK cơ bản môn Toán 12 các sách tham khảo khác và các tài liệu có liên quan đến đề tài
7.2 Điều tra, quan sát
- Quan sát điều tra về thực trạng thực hiện những bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT nhằm nâng cao chất lượng DH ở một số trường THPT tỉnh Lạng Sơn Dự giờ, tổng kết rút kinh nghiệm
- Tham khảo ý kiến đồng nghiệp về việc thiết kế và thực hiện bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT, ý kiến của HS và GV khi được học và dạy những bài
có sự hỗ trợ CNTT
7.3 Thực nghiệm sư phạm
- Dạy thử nghiệm một số bài soạn với sự hỗ trợ của CNTT đã đề xuất
trong luận văn nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài
- Dùng phiếu điều tra đánh giá hiệu quả của đề tài thông qua ý kiến đánh giá của GV, phiếu trưng cầu ý kiến của HS
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Thiết kế và thực hiện một số bài giảng môn Toán lớp 12 với
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực ở trung học phổ thông
Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của người học Như vậy, mục đích cuối cùng của đổi mới PPDH là làm thế nào để HS phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình
Tính tích cực là một đặc điểm vốn có của con người Con người không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu Con người sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau, thí dụ nhu cầu ăn, uống và sau đó xuất hiện nhu cầu xã hội Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động Khi nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập
Lí luận dạy học cũng chỉ ra rằng, muốn xây dựng động lực của quá trình dạy học có hai điều quan trọng cần phải lưu ý:
- Phải biến yêu cầu của chương trình dạy học thành nhu cầu nhận thức của người học bằng cách tạo dựng các tình huống nhận thức, đưa HS tới đỉnh điểm của những mâu thuẫn chứa đựng những khó khăn vừa sức đối với HS
- Phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo điều kiện cho những
cố gắng vươn tới của HS bằng khả năng của mình
Trang 14Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể tổ chức, điều khiển và HS là chủ thể hoạt động học tích cực chủ động và sáng tạo GV phải cải tiến không ngừng PPDH và giúp HS cải tiến phương pháp học Những tri thức đã học sẽ tạo ra một trình độ ở người học, GV phải dựa vào trình độ này để hướng dẫn HS nâng cao lên một trình độ mới
Hiện nay nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổi mới phù hợp với thế giới và các quốc gia trong khu vực Mặt khác, trong bối cảnh
đó, nền giáo dục còn có những bất cập về chất lượng giáo dục, vẫn còn những giáo viên sử dụng phương pháp dạy học lạc hậu đã gây nên tình trạng thụ động trong học tập của học sinh dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao Học sinh ít được lôi cuốn động viên khích lệ để hứng thú, tự giác học tập, gây nên tình trạng chán học, bỏ học ở một số bộ phận học lực yếu kém Cùng với nhiều nguyên nhân, tình trạng này trở nên khá gay gắt, khó khắc phục Nhằm nâng cao chất lượng dạy học phát huy tính tích cực sáng tạo của người dạy nên thực hiện theo các định hướng sau:
Trước hết, người GV phải soạn bài chu đáo, khi lên lớp, nhất thiết phải
có giáo án trên giấy, ngay cả khi sử dụng máy chiếu Projector Khi giảng bài, giáo viên phải làm rõ trọng tâm và mối quan hệ lôgíc nội tại của mạch kiến thức bài học, sắp xếp hợp lý hoạt động của GV và HS; chuẩn bị hệ thống câu hỏi phát huy trí lực và phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh, (nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới) Bồi dưỡng kỹ năng vận dụng sáng tạo kiến thức, hạn chế ghi nhớ máy móc, thay việc sửa lỗi bằng cách hướng dẫn
HS tự trả lời câu hỏi: do dâu dẫn đến kết quả sai?
Thứ hai: GV phải là người làm chủ lớp học, thiết lập bầu không khí thân thiện tích cực, chủ động giải quyết mọi tình huống bảo đảm yêu cầu
sư phạm
Thứ ba: Sử dụng hợp lý sách giáo khoa (không đọc chép, hướng dẫn học sinh chỉ ghi theo diễn đạt của GV, không để học sinh đọc theo sách giáo khoa
Trang 15để trả lời câu hỏi) và sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học, phương tiện trực quan, phương tiện nghe nhìn; ứng dụng hợp lý công nghệ thông tin, thực hiện đầy đủ thí nghiệm, thực hành Ở một số bài phải làm rõ mối liên hệ dọc theo mạch kiến thức môn học và mối quan hệ môn với các môn học khác để khắc sâu kiến thức
Thứ tư: Cần phải tích luỹ kiến thức, liên hệ thực tế sinh động để làm sâu sắc thêm bài giảng, giao bài tập, chủ đề nguyên cứu, sưu tầm về nhà để rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
Thứ năm: GV nêu vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết, dẫn dắt HS
tự đưa ra kết luận cần thiết Dạy phải sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng học sinh khá giỏi và kiên trì giúp đỡ HS học lực yếu kém
Ngoài ra, GV chuẩn bị thiết bị dạy học, học liệu, chủ động sưu tầm chọn lọc tư liệu liên hệ thực tế, nắm bắt các kỹ năng và kỹ thuật dạy học cần thiết (kỹ năng sử dụng thiết bị, viết bảng, vẽ hình, kỹ năng diễn giải, kỹ năng lôi cuốn chú
ý, kỹ năng thao tác mẫu…kỹ năng tiến hành các hoạt động dạy học cụ thể; dạy học vi mô, dạy học theo nhóm, dạy học theo dự án, dạy học nêu vấn đề, trình bày theo cấu trúc…), GV cần chú trọng rèn luyện kỹ năng tư duy lôgic, tự hệ thống hóa kiến thức, ghi nhớ có ý nghĩa (hạn chế ghi nhớ máy móc), rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề
1.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới
Sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đổi mới giáo dục đã được nêu và đang được thực hiện ở các trường phổ thông trong cả nước
"Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Trang 16giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [18]
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi cấp thiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống chương trình giáo dục (nội dung các phương pháp, thi, kiểm tra, đánh giá), các chính sách, cơ chế và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, ở cả trung ương và địa phương, ở mối liên hệ giữa nhà trường gia đình và xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần quan trọng vào thành tựu đất nước: vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chủ động hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả Tuy nhiên chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục còn nặng bệnh thành tích, đánh giá kết quả ở một số cơ sở giáo dục còn thiếu thực chất Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức, phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá còn nhiều bất cập Một số ít nhà giáo chưa nhận thức sâu sắc và chậm đổi mới phương pháp dạy học, vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ với hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, chưa có thói quen tạo ra nhiều tình huống sư phạm, nhiều hoạt động để học sinh tham gia vì vậy học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ Khả năng sử dụng CNTT và các phần mềm toán học còn hạn chế đầu tư thời gian cho việc soạn giảng chưa nhiều
Vì vậy tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, có hiệu quả các phương pháp dạy học là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần được tiếp tục quan tâm
và tìm cách giải quyết
Trang 171.1.2.Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
“Phát huy những thành tựu đã đạt được, phát huy các mặt yếu kém theo hướng: chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực; sắp xếp và củng cố hệ thống giáo dục - đào tạo và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo; phát triển quy mô giáo dục - đào tạo, chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 21” [21]
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học và bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [17]
“Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập” [4]
PPDH hiện nay không thể tiếp tục truyền thụ theo kiểu áp đặt một chiều
từ người dạy mà phải sử dụng phương pháp dạy tích cực, phát huy tính tích cực của học sinh Đó là đổi mới PPDH còn được gọi là “Dạy học hướng vào người học” hay “Dạy học lấy người học làm trung tâm”
“Dạy học hướng vào người học” là cụm từ được dùng để xác định sự đổi mới của PPDH hiện nay trong nhà trường Đó là tư tưởng, là sự định hướng cho dạy và học, phương pháp mới này khuyến khích học sinh tự học hỏi, tự phát hiện kiến thức, giáo viên đóng vai trò hướng dẫn
Trang 18Sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin vào quá trình dạy học Việc sử dụng có tính sư phạm những thành quả của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi hiệu quả của quá trình dạy học, hiệu quả của việc sử dụng các PPDH Và việc ứng dụng CNTT trong giáo dục đã trở thành một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta
“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục
và đào tạo” [2]
“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học”[3]
Việc sử dụng công nghệ thông tin để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập, thông qua tổ chức hợp lý hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp đẩy nhanh việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông, ngoài
ra GV có thể sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực như:
a) Cải tiến các PPDH truyền thống
Các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là những phương pháp quan trọng trong dạy học Để nâng cao hiệu quả của các PPDH này người GV trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kĩ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kĩ thuật mở bài, kĩ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kĩ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kĩ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp sử dụng các PPDH mới, đặc biệt là những phương pháp và kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh
Trang 19b) Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu
và nội dung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học
c) Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (hay còn là dạy học nêu vấn đề; dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề HS được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của HS, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của HS
d) Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập
e) Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân
Trang 20f) Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Việc
sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và PPDH, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường học được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự tạo của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy
g) Sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kĩ thuật dạy học là những cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Có những KTDH chung, có những
kĩ thuật đặc thù của từng PPDH, ví dụ kĩ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại
h) Tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học
Vì vậy bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn Các PPDH đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn Ví dụ các PPDH học trong dạy học kĩ thuật như trình diễn vật phẩm kĩ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kĩ thuật, thiết kế kĩ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án trong dạy học kĩ thuật Thí nghiệm là một PPDH đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên.Dạy học Giải bài tập là PPDH đặc thù của bộ môn Toán
i) Bồi dưỡng phương pháp học tập cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của HS Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp
tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học
Trang 21tập chuyên biệt của từng bộ môn Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn
j) Cải tiến việc kiểm tra đánh giá
Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của học sinh Cần bồi dưỡng cho học sinh những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học tập suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin Tăng cường học tập cá thể phối hợp với hợp tác Định hướng vào người học được coi là quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH Quan điểm định hướng chung cần được cụ thể hoá thông qua những quan điểm dạy học khác, như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, dạy học định hướng hành động cũng như các phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể, nhằm tăng cường hơn nữa việc gắn lí thuyết với thực tiễn, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội Đổi mới PPDH được thực hiện theo các định hướng sau: Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông; phù hợp với nội dung dạy học cụ thể; phù hợp với lứa tuổi học sinh; phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường; phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy - học; kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống; tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
Trang 221.1.3 Giáo dục toán học theo hướng phát triển năng lực người học
Năng lực được hiểu là những đặc điểm tâm lý cá nhân của con người, đáp ứng được yêu cầu của một hoạt động nhất định và là điều kiện cần thiết để
hoàn thành tốt các hoạt động đó
Khi nói đến năng lực phải nói đến năng lực trong hoạt động nhất định của con người năng lực chỉ nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải
quyết những yêu cầu đặt ra
Theo V.A kratexki thì khái niệm năng lực toán học được giải thích trên
hai bình diện:
Như là các năng lực sáng tạo (khoa học) - Các năng lực hoạt động toán
học tạo ra các kết quả, thành tựu mới, khách quan và quý giá
Như là các năng lực học tập giáo trình toán phổ thông lĩnh hội nhanh
chóng và có kết quả cao, các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
Như vậy, năng lực toán học là các đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng yêu cầu của hoạt động giải toán và tạo điều kiện lĩnh hội kiến thức kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực toán học tương đối nhanh,
dễ dàng và sâu sắc trong những điều kiện như nhau
Ở trường phổ thông học Toán về cơ bản là hoạt động giải toán, giải toán liên quan đến việc lựa chọn và áp dụng chính xác kiến thức, kỹ năng, giải thích số liệu trao đổi ý tưởng, giải toán đò hỏi phải có tính sáng tạo và
hệ thống giúp học sinh tự tin, kiên nhẫn Ngoài ra kiến thức Toán học còn phục vụ cho các môn học khác như Hóa, Lý, Sinh Vì vậy môn Toán trường phổ thông có nhiều cơ hội giúp HS pháp triển các năng lực chung như năng lực tính toán, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề , năng lực tự học, năng lực giao tiếp, hợp tác, năng lực làm chủ bản thân
Dạy và học toán hướng vào hình thành các năng lực giúp HS: có những kiến thức, kỹ năng Toán học cơ bản làm nền tảng cho việc phát triển năng lực chung cũng như năng lực riêng (đối với môn Toán) phát triển năng lực tư duy (Tư duy logic, tư duy phán đoán, khả năng suy diễn lập
Trang 23luận), phát triển trí tưởng tượng không gian Sử dụng kiến thức Toán để giải thích một số tình huống sảy ra trong thực tiễn từ đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề Phát triển ngôn ngữ (ngôn ngữ Toán học và ngôn ngữ thông thường trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau), góp phần cùng bộ môn khác hình thành thế giới quan khoa học
“Yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam Trong đó,
việc đổi mới giáo dục phổ thông được xem là khâu đột phá Nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng
lực của người học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước Mọi phương diện, mọi bước đi của công cuộc đổi mới, đặc biệt là việc phát triển chương trình và biên soạn sách giáo khoa, cần phải quán triệt tinh thần này” [20]
Nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, cần phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp
Trang 24Bước sang năm học 2014 - 2015, với chủ trương đổi mới mạnh mẽ PPDH và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, bộ giáo dục và đào tạo đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho GV cốt cán các nhà trường ở hầu hết các môn học về đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Đối với học sinh: Việc đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực HS đã góp phần quan trọng trong việc tuyển chọn và
phân loại đúng năng lực, trình độ của học sinh thúc đẩy học sinh cố gắng khắc phục thiếu xót hoặc phát huy năng lực, sở trường của mình; đánh giá sự phát triển nhân cách nói chung so với mục tiêu đào tạo và yêu cầu của thực tiễn Đồng thời tạo những điều kiện thuận lợi cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập và rèn luyện của HS hoặc nhóm học sinh; cung cấp thông tin phản hồi
có tác dụng giúp việc học, giảng dạy và giáo dục tốt hơn Kết quả đánh giá còn tạo cơ sở cho GV điều chỉnh, cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của quá trình này
Đối với giáo viên: Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình
hình học tập và rèn luyện của học sinh hoặc nhóm học sinh; Cung cấp thông tin phản hồi có tác dụng giúp việc học, giảng dạy và giáo dục tốt hơn; kết quả đánh giá tạo cơ sở điều chỉnh, cải tiến mục tiêu, nội dung chương trình PPDH, kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của
sở vật chất kỹ thuật, phương tiện dạy học, ; đánh giá việc thực hiện nội quy, quy chế, chế độ, chính sách
Trang 25Đối với các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục: Đánh giá công tác tổ chức, quản lý giáo dục; đánh giá về kết quả của toàn bộ hệ thống giáo dục, về
dư luận xã hội, sự phản ánh của cơ sở của người đi học, về cách thức tuyển sinh nhằm giúp cơ quan quản lý giáo dục thấy được thực trạng, nhu cầu và định hướng sửa đổi mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh được tiến hành ở ba khâu quan trọng
Một là: Đổi mới các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục: Chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sang chương trình định hướng năng lực và định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo dục cấp THPT
Hai là: Đổi mới PHDH bao gồm: việc cải tiến các PPDH truyền thống thay thế bằng các PPDH nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh; kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học; vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, theo tình huống và định hướng hành động đặc biệt là việc tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, công nghệ thông tin hợp lí hỗ trợ …
Ba là: Đổi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS: chuyển từ đánh giá tổng kết sang đánh giá quá trình; từ đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến
thức, sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo; xem đánh giá như là một PPDH (tích hợp đánh giá vào quá trình dạy
học); tăng cường sử dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá
1.2 Khái niệm và vai trò của thiết kế bài giảng
1.2.1 Khái niệm thiết kế bài giảng
Thiết kế bài giảng là việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, thời gian mà giáo viên muốn truyền đạt đến học sinh nhằm đạt được mục tiêu giảng dạy nhất định Hay nói khác đi Thiết kế bài giảng là việc giáo viên thể hiện ý tưởng, hình dung trước nội dung, tình huống sư phạm, người dạy tổ chức cho người học chủ động thực hiện việc chiếm lĩnh kiến thức
Trang 26Trong lịch sử giáo dục, có nhiều cách thể hiện ý tưởng giáo dục của người giáo viên nhưng thiết kế bài giảng là lúc thể hiện rõ nhất
Trong luận văn Thiết kế bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT gồm 3 phần:
A Chuẩn bị
B Kịch bản dạy học
C Bài giảng trên powerpoint
1.2.2 Vai trò của thiết kế bài giảng
Việc thiết kế bài giảng nói chung và bài giảng có ứng dụng CNTT nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng bởi bất kì một bài học nào cũng cần thời gian chuẩn bị, ngay cả khi sách giáo khoa hay tài liệu của bài học ngày hôm
đó đã có sẵn thì thời gian soạn bài chi tiết cũng vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ứng dụng những nguồn tài liệu ấy vào bài giảng một cách khoa học
Việc thiết kế bài giảng (soạn giáo án) giúp chúng ta quản lí thời gian dành cho mỗi đơn vị bài học được tốt hơn, có tác dụng vạch ra rõ ràng đơn vị bài học cần được chú trọng phần trọng tâm mà học sinh bắt buộc phải biết, từ
đó chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh khung thời gian, tăng giảm nội dung giảng dạy đề phòng các trường hợp cháy giáo án, thừa thời gian…
Thiết kế bài giảng hay cung cấp cho chúng ta một hướng đi rõ ràng, như bản đồ dẫn đường cho hướng đi của một tiết học
Thiết kế bài giảng chỉ ra nội dung của bài học và giúp đảm bảo trật tự khoa học của các thông tin, đưa ra kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ và các phương tiện hỗ trợ cần thiết.Việc cung cấp thông tin theo một trật tự khoa học sẽ giúp HS hiểu và nhớ những thông tin đó một cách khoa học Thiết kế bài giảng dựa trên một giáo trình gốc, tổng hợp thông tin cần thiết cho một bài giảng Vì thế, đối với GV mới vào nghề, thiết kế bài giảng đóng một vai trò rất quan trọng, giúp GV hình dung trước những khó khăn trong giảng dạy
Trang 27Thiết kế bài giảng tốt, GV thực hiện đúng thì chắc chắn tiết dạy đó sẽ thành công Bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin tạo được không khí hứng khởi cho người học, bởi có sự tích hợp cả âm thanh, hình ảnh giúp người học nhìn trực quan, thông qua đó đánh giá vấn đề sâu sắc hơn Bài giảng có sự
hỗ trợ của công nghệ thông tin tiết kiệm được thời gian chết trên lớp nhiều hơn (GV không phải tốn thời gian viết bảng nhiều), giáo viên có được quỹ thời gian tương đối để truyền đạt nội dung bài học, ý tưởng của mình đến người học thoải mái hơn.Các nội dung: như sơ đồ, vấn đề trọng tâm…được GV trình bày
rõ ràng và chỉ cần một vài thao tác, tất cả những dữ liệu được truyền đạt đến người học một cách mạch lạc và đầy đủ nhất
Việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại hiệu quả tích cực trong hoạt động giảng dạy của người GV.Tuy nhiên giáo án ứng dụng CNTT vẫn có những hạn chế nhất định khi chủ thể sử dụng không kiểm soát được hoạt động của mình và điều kiện giảng dạy không đầy đủ
1.3 Khái niệm và vai trò của CNTT trong dạy học
1.3.1 Khái niệm CNTT
Công nghệ thông tin, viết tắt là CNTT (Information Technology - viết tắt
là IT) là một ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin Có thể hiểu CNTT là ngành sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu tập, truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền thông tin Hiện nay, có nhiều cách hiểu về CNTT Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [22]
Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác bằng các ký hiệu, tín hiệu có ý nghĩa thông qua các kênh truyền tin
Trang 28CNTT-TT có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội nói chung và giáo dục nói riêng Công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong kinh tế xã hội nói chung và giáo dục nói riêng
1.3.2.Vai trò của CNTT trong dạy học nói chung và DH môn Toán nói riêng
Sự ra đời của máy tính điện tử đã mở ra một kỉ nguyên mới: Kỉ nguyên con người sáng tạo ra những công cụ tự động thay thế cho những hoạt động trí
óc của bản thân mình
Các nhà khoa học đã khẳng định chưa có một ngành khoa học và công nghệ nào lại có nhiều ứng dụng như CNTT và truyền thông Trong thập kỉ vừa qua Internet, công nghệ truyền thông đa phương tiện (multimedia) đã mang đến những biến đổi to lớn trong nhiều lĩnh vực trong
đó có Giáo dục và Đào tạo
CNTT và truyền thông góp phần đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Chúng ta có thể khai thác những thành tựu của CNTT và truyền thông trong dạy và học CNTT và truyền thông tạo ra một môi trường dạy và học mới với tài nguyên học tập phong phú HS tiếp cận bài học qua nhiều kênh thông tin
đa dạng: văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động… HS có cơ hội quan sát, tìm hiểu và hình thành các khái niệm phức tạp trong cuộc sống CNTT và truyền thông tạo ra sự tương tác trao đổi thông tin đa chiều giữa HS - GV, GV - HS Các phần mềm dạy học tạo ra môi trường thuận lợi để tổ chức các hoạt động học tập hướng vào lĩnh hội tri thức, khuyến khích HS tìm tòi, luyện tập các kĩ năng cần thiết, năng lực sử dụng thông tin để phát hiện và giải quyết vấn đề góp phần phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy độc lập, phương pháp và cách thức làm việc hợp tác
CNTT và truyền thông góp phần đổi mới việc dạy và học: Việc chuẩn bị
và lên lớp của GV; tác động tích cực tới quá trình học tập của HS, tạo ra môi trường thuận lợi cho việc học tập của HS mà đặc biệt là tự học Tổ chức điều khiển hoạt động của HS dựa trên thông tin ngược do máy tính điện tử cung cấp
Trang 29một cách chính xác hơn, khách quan hơn, nhanh chóng hơn là yếu tố quan trọng để GV có thể điều khiển quá trình học tập của HS và HS cũng dễ dàng tự điều chỉnh lại việc học tập của mình GV, HS có thể thử, kiểm tra để xác định trước kết quả trên máy tính, sau đó lần ngược dần dần để tìm ra lời giải cho bài toán hoặc HS cũng có thể đưa ra giả thuyết để máy tính thử nghiệm từ đó có thể tiếp tục phát triển hoặc thay đổi thông tin khi cần thiết Bên cạnh việc tiếp nhận kiến thức từ GV sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, HS còn có thể tiếp cận với kiến thức, với thế giới khách quan qua "sách giáo khoa điện tử", CD - ROM, Internet… giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức
Sử dụng máy tính xây dựng các mô hình trực quan để sử dụng trong quá trình dạy học Toán Để nghiên cứu một đối tượng toán học nào đó trước hết người ta tìm cách xây dựng một vài mô hình tương ứng với các trường hợp cụ thể Trên cơ sở các kết quả làm việc với mô hình sẽ cho phép ta đi đến việc chứng minh hoặc lời giải trong trường hợp tổng quát So với các phương tiện đồ dùng dạy học truyền thống thì máy tính có khả năng giúp ta thể hiện các đối tượng toán học trong thế giới thực bởi các mô hình trên giao diện đồ hoạ 2 chiều,
3 chiều CNTT là công cụ tự nhiên để diễn tả các mô hình toán học Ta có thể triển khai các chương trình thí nghiệm tính toán, thăm dò, dự đoán sau đó sử dụng phần mềm toán học, phần mềm thống kê và tính toán để phân tích dữ liệu
hỗ trợ cho cho quá trình lập luận, tìm hiểu các mô hình toán học Máy tính có thể giúp đỡ HS phát triển ý tưởng, đưa ra cách tiếp cận hướng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu các mô hình toán học Điều này giúp GV trình bày các vấn đề của toán học rõ ràng, sinh động và khám phá vấn đề từ những cái phức tạp trong cuộc sống để thu cô đọng lại những gì tinh tế, sâu sắc
rồi kết nối chúng lại để xây dựng các mô hình toán học
Các chuyên gia về giáo dục đã nhấn mạnh vai trò của CNTT trong việc
hỗ trợ HS tự khám phá và phát hiện vấn đề trong quá trình học toán và thông
Trang 30qua quá trình này HS có điều kiện rèn luyện phương pháp nghiên cứu trong học tập, năng lực tư duy sáng tạo
Tổ chức, điều khiển quá trình học tập của học sinh dựa trên thông tin ngược do máy tính điện tử cung cấp: So với các phương pháp truyền thống thì
rõ ràng các thông tin ngược do máy tính điện tử cung cấp sẽ chính xác hơn, khách quan hơn, nhanh chóng hơn và đây chính là một yếu tố quan trọng để
GV có thể điều khiển quá trình học tập của học sinh cũng như học sinh tự điều chỉnh lại việc học tập của mình
* Khai thác mạng Internet trong dạy học toán
Internet là một kho thông tin tích luỹ tri thức toán học của con người từ xưa đến nay và như vậy đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá cho những người dạy và học toán Internet cung cấp phương tiện, môi trường để GV, HS trao đổi thông tin với nhau trong quá trình dạy học toán và dạt học toán từ xa
Với thực tế hạ tầng CNTT-TT như ngày nay, các nhà trường, giáo viên thậm chí cả học sinh hoàn toàn có thể thiết kế các website và đua lên Internet để cung cấp thông tin, tạo ra một diễn đàn để mọi người cùng khai thác thông tin, trao đổi về nội dung kiến thức liên quan đến nhiệm vụ học tập của học sinh
* Dạy học toán với máy tính
Trước hết máy tính điện tử là một công cụ đắc lực giúp GV thực hiện việc dạy toán.Máy tính điện tử có thể vừa đóng vai trò GV vừa đóng vai trò học sinh Việc nghiên cứu và triển khai ứng dụng CNTT nhằm hỗ trợ quá trình dạy học toán được nhiều quốc gia và các nhà giáo dục quan tâm Các chuyên gia ở trong và ngoài nước đã khẳng định:
- Việc sử dụng CNTT và truyền thông (ICT) trong dạy học toán đã cung cấp cho học sinh một môi trường học tập nghiên cứu gồm các yếu tố: thông tin phản hồi; các mô hình; các mối quan hệ; các hình ảnh động để từ đó khám phá tìm hiểu thông tin và dạy học với sự hỗ trợ của máy tính
- Nếu sử dụng CNTT một cách hợp lý thì sẽ đạt được các kết quả sau:
Trang 31- Những đối tượng và quan hệ toán học không còn xa lạ và khó đối với
số đông HS
- Khai thác CNTT trong dạy học toán có thể làm tăng tỷ lệ HS khá, giỏi
về toán và giảm tỷ lệ HS yếu so với dạy học truyền thống
- GV có điều kiện giúp được hầu hết HS rèn luyện tốt năng lực sáng tạo, rèn luyện phương pháp nghiên cứu trong học tập
Đồ hoạ máy tính là công cụ hữu ích trong việc dạy toán, nó có khả năng biểu diễn các hình hình học Với sự hỗ trợ của đồ hoạ máy tính, GV có thể đưa
ra những ví dụ khác nhau qua đó khai thác vai trò tích cực của HS trong quá trình phân tích phát hiện ra vấn đề Mặt khác sử dụng đồ hoạ còn cho phép GV phân tích rõ các mối liên kết giữa đại số, hình học
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định dạy học toán dưới sự trợ giúp của CNTT có thể làm thay đổi vai trò của người GV dạy toán truyền thống
1.4 Một số ứng dụng của CNTT trong thiết kế và thực hiện bài giảng
1.4.1.Sử dụng các phương tiện kĩ thuật DH
Phương tiện dạy học được hiểu là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của học viên được tốt hơn Ví dụ: sách giáo khoa, giáo trình, bảng viết, bảng dữ liệu đã chuẩn bị sẵn, tranh ảnh, phim, các đoạn clip hoạt hình mô phỏng cùng với máy chiếu qua đầu (overheat), máy chiếu đa năng Projecter với
sự trợ giúp của máy tính, của các phần mềm, chương trình như Powerpoint, mindmap, Workbelch,… vật mẫu, vật thật các phương tiện, dụng cụ trang bị trong các phòng thí nghiệm thực hành
Trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học đã hỗ trợ rất nhiều cho công việc của GV và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người GV sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học Do đặc
Trang 32điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của HS tăng dần theo các cấp độ của tri giác
Khi đưa những phương tiện mới vào quá trình dạy học, GV có điều kiện
để nâng cao tính tích cực, tính tư duy độc lập của HS và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các HS Ngoài ra với các phương tiện dạy học mới GV có thể rút ngắn được thời gian giảng giải thuyết trình để tập trung hơn vào rèn luyện phương pháp, kĩ năng cho HS
Kĩ thuật dạy học: Là những biện pháp, cách thức hành động của GV
và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình DH
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các PPDH độc lập, mà là những thành phần của PPDH
Kĩ thuật DH được hiểu là đơn vị nhỏ nhất của PPDH Sự phân biệt giữa
kĩ thuật DH và PPDH nhiều khi không rõ ràng
1.4.2 Sử dụng và khai thác mạng Internet
Việc khai thác thông tin và sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập
là một yêu cầu tất yếu nhằm phục vụ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của GV, giúp người học chủ động trong nghiên cứu, tìm tri thức, đồng thời
là phương tiện có thể sử dụng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Internet là một kho thông tin khổng lồ tích luỹ tri thức toán học của con người từ xưa đến nay và như vậy đây là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá cho những người dạy và học toán Internet cung cấp phương tiện, môi trường để
GV, HS trao đổi thông tin với nhau trong quá trình dạy học toán
Để tìm kiếm và sử dụng tài liệu có hiệu quả thông tin trên Internet, GV phải được trang bị kỹ năng tìm kiếm thông tin, biết sử dụng các phần mềm ứng dụng trong download, chỉnh sửa hình ảnh, video clip để tìm được nhanh chóng,
có chất lượng thông tin cần tìm từ kho dữ liệu khổng lồ Internet và chỉnh sửa cho sát và phù hợp với yêu cầu của nội dung bài giảng
Trang 33Những thông tin khi đưa vào nội dung bài giảng phải từ các web chính thống, có nguồn gốc rõ ràng, tác giả là những nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng
Không lạm dụng thông tin trên mạng trong tiết giảng mà phải kết hợp nhiều nguồn thông tin khác như sách tham khảo, đề tài khoa học, dụng cụ dạy học, kiến thức từ thực tế của GV
1.4.3 Sử dụng một số phần mềm công cụ thông dụng (Word, Powerpoint, Bản đồ tư duy )
Microsoft Word là công cụ dùng để soạn thảo văn bản hỗ trợ cho GV,
HS trong việc thiết kế phát triển và xuất bản tài liệu học tập và giảng dạy
Powerpoint được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục Với nhiều tính năng, Powerpoint là công cụ phổ biến nhất giúp GV biên soạn và trình diễn các bài trình giảng với sự trợ giúp của máy tính
Chức năng chính của Powerpoint là tạo ra bản trình diễn (Presentation) với chất lượng cao tùy theo khả năng của bạn Nó có khả năng hỗ trợ nhiều loại đối tượng như văn bản, đồ họa, hoạt hình, video, âm thanh, ngoài ra còn có thể liên kết , tích hợp nhiều sản phẩm từ các phần mềm khác một các dễ dàng và phong phú Nhờ các khả năng này, chúng ta có thể dùng nó như một công cụ để tạo ra một giáo án điện tử một cách dễ dàng và thuận tiện
Bản đồ tư duy giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học.Thực tế cho thấy một số HS học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, nhất là môn Toán, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
Trang 34Bản đồ tư duy giúp HS học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng Bản đồ tư duy giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
1.4.4 Sử dụng một số phần mềm dạy học (Violet, Grapth, Cabri, Maple)
Violet là phần mềm công cụ giúp cho GV có thể tự xây dựng được các bài giảng điện tử theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng So với các phần mềm khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác rất phù hợp với học sinh cấp phổ thông các cấp Trong violet giao diện tiếng Việt rất dễ sử dụng, phù hợp với những người không chuyên tin học, không giỏi ngoại ngữ Cho phép nhập và chỉnh sửa các dữ liệu văn bản, công thức toán, âm thanh, hình ảnh, phim, các hiệu ứng chuyển động và tương tác, ….Bài tập trắc nghiệm, ghép đôi, bài tập
ô chữ, bài tập kéo thả chữ, điền khuyết, vẽ đồ thị hàm số bất kỳ v.v
Graph là phần mềm mã nguồn mở, ứng dụng để vẽ đồ thị các hàm số trong hệ trục toạ độ Với Graph, GV có thể vẽ đồ thị của mọi hàm số, tính toán được các giá trị liên quan đến hàm số, xuất đồ thị ra file ảnh để sử dụng trong các bài giảng khác nhau, …
Phần mềm The Geometer’s sketchpad (GSP) là phần mềm hình học động được tác giả Nicholas Jackiw đưa ra phiên bản đầu vào năn 1995 GSP được sử dụng ở các nước vùng Đông Nam Á, Mỹ, Úc….Tại Việt Nam khi triển khai dự án “Thực hành phát triển nghiệp vụ’’ một số trường trong dự án đã thử nghiệm sử dụng phần mềm này trong dạy học hình học GSP có các chức năng
để vẽ, dựng và thực hiện các phép biến đổi đối với các đối tượng hình học Bên cạnh đó, GSP còn có các chức năng tính toán, đo đạc và chức năng hoạt hình
Cabri Geometry cung cấp các công cụ để tạo ra các mẫu cơ bản trong hình học Euclide (điểm, đường, đoạn thẳng, đường tròn ) và biến đổi, tạo chuyển động nhờ thiết bị con trỏ (chuột, bút quang và phím mũi tên) Mặt khác
Trang 35Cabri Geometry có khả năng mô tả các tính chất,quan hệ giữa các đối tượng hình học Sau khi vẽ hình, học sinh sử dụng chuột thay đổi vị trí, một số đối tượng của hình vẽ để quan sát hình vẽ ở rất nhiều góc độ, vị trí khác nhau Trong quá trình này học sinh sẽ phát hiện được các yếu tố bất biến của hình vẽ
và nhận biết được đâu là những thuộc tính của hình
Phần mềm Maple là kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học trường Đại học Waterloo - Canada và là một trong những bộ phần mềm toán học được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay
1.5 Thực trạng về thiết kế bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT của giáo viên trong nhà trường THPT
1.5.1 Điều tra trên diện rộng
*Thực trạng sử dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học hiện nay ở trường THPT
Theo đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” [14]
Việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học và công tác quản lý đang là một xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trong thế kỷ 21 - kỷ nguyên của thông tin và tri thức Hiện nay có nhiều trường phổ thông ở Việt Nam đã được trang bị phòng máy nhưng mới sử dụng để dạy tin học như một môn học, còn việc sử dụng phòng máy cùng các phần mềm dạy học như một công cụ dạy học còn là vấn đề cần giải quyết Các trường chưa có cơ sở khoa học lựa chọn phần mềm dạy học để dùng cho mình, ngay cả số lượng phần mềm dạy học cũng rất
ít không đáp ứng nhu cầu sử dụng Việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học biểu hiện rất đa dạng, trong thực tế nó được triển khai ở nhiều trường,
ở các mức độ khác nhau tuỳ vào mức độ nhận thức của GV, trang bị cơ sở vật chất về CNTT và truyền thông,… Có 4 mức ứng dụng CNTT và truyền thông
cơ bản nhất căn cứ vào hoạt động của quản lý, của người dạy và người học:
Mức 1: Sử dụng CNTT và truyền thông để trợ giúp GV trong một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án, in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu,… nhưng
Trang 36chưa sử dụng CNTT và truyền thông trong tổ chức dạy học các tiết học cụ thể của môn học
Mức 2: Ứng dụng CNTT và truyền thông để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đó trong toàn bộ quá trình dạy học
Mức 3: Sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức dạy học một chương, một
số tiết, một vài chủ đề môn học
Mức 4: Tích hợp CNTT và truyền thông vào quá trình dạy học
Qua nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT và truyền thông ở phổ thông tại một số địa phương như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: đa số các
cơ sở giáo dục đã có chủ trương khuyến khích việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học Ở các vùng đồng bằng, miền núi, vẫn còn trường điều kiện trang bị cơ sở vật chất để ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học còn hạn chế Một số trường ở thành phố bước đầu đã xây dựng được cơ sở vật chất, tuy nhiên chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT và truyền thông trong một số bộ phận GV và HS Số lượng phần mềm dạy học hạn chế, tài liệu hướng dẫn GV sử dụng phần mềm dạy học để dạy các môn học còn thiếu
GV còn hạn chế về kiến thức và kĩ năng sử dụng phần mềm dạy học các môn
1.5.2 Điều tra đối với một số trường THPT trong tỉnh Lạng Sơn
*Thực trạng việc ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn Toán bậc THPT
ở một số trường trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Để tìm hiểu thực trạng của việc giảng dạy môn toán nói chung và việc ứng dụng CNTT trong thiết kế bài giảng Toán lớp 12 chương trình cơ bản chúng tôi tiến hành điều tra tìm hiểu thực tế vế đề này tại Trường THPT Đồng Đăng, THPT Cao Lộc, THPT Văn Quan, THPT Lương Văn Tri thuộc tỉnh Lạng Sơn
Nội dung tìm hiểu:
- Tình hình dạy học Toán 12 THPT (chương trình cơ bản)
- Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và thiết kế bài giảng có sử dụng CNTT
Trang 37- Các phương pháp dạy học được sử dụng cách thức thiết kế bài giảng
GV đang tiến hành bài giảng
- Đánh giá nhận xét của GV, HS trong việc sử dụng CNTT vào thiết kế bài giảng
- Việc nắm bắt xu hướng đổi mới thiết kế bài giảng
về tái hiện kiến thức nên HS chủ yếu học trong vở ghi trên lớp và sách giáo khoa Chính vì thế kết quả học tập chưa cao Tuy nhiên 100% các em đều rất thích thú khi được học môn Toán có ứng dụng CNTT và sử dụng phần mềm vì bài học trực quan, HS dễ tiếp thu bài vì vậy giờ học thường sôi nổi
Đối với GV: Cơ sở vật chất đã được trang bị tương đối đầy đủ đảm bảo cho GV và HS có môi trường học tương đối tốt Đa số các GV đều đã được tiếp cận và biết sử dụng một số phần mềm dạy học như Cabri, Graph, Sketchpad Việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã được thực hiện ở trường các trường trên Đa số GV cho rằng việc thiết kế bài giảng có sử dụng CNTT là rất tốt, rất cần thiết và nên tiến hành thường xuyên Tuy nhiên, đa phần các GV mới chỉ dừng lại ở việc khai thác phần mềm để hỗ trợ vẽ hình phục vụ cho soạn giáo án đều ngại sử dụng giáo án điện tử và phần mềm hỗ trợ vì việc soạn bài tương đối
Trang 38mất thời gian và kỹ năng sử dụng máy tính còn chưa tốt Việc thiết kế bài giảng cũng vẫn chủ yếu theo phương pháp truyền thống là chính, phần lớn GV vẫn thiết kế bài giảng dựa theo cấu trúc được trình bày sẵn trong SGK, GV chỉ chú
ý thiết kế bài giảng theo logic sao cho thích hợp với nội dung truyền đạt, và dễ thực hiện với phương pháp đã định sẵn, ít có các tình huống sư phạm và cách thức xử lí các tình huống đó Chỉ có các tiết thao giảng GV mới dùng giáo án
có hỗ trợ của CNTT và sử dụng các phần mềm để hỗ trợ giảng dạy, một số tiết
sử dụng CNTT không phù hợp
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu các nội dung: Đổi mới phương pháp dạy học, khái niệm và vai trò của thiết kế bài giảng, khái niệm và vai trò của CNTT trong dạy học, một số ứng dụng của CNTT trong thiết kế và thực hiện bài giảng và thực trạng về thiết kế bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT của GV trong nhà trường THPT cho thấy việc đổi mới PPDH và thiết kế bài giảng môn Toán lớp 12 với sự hỗ trợ của CNTT là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học môn Toán ở trường phổ thông Cần tiếp tục được quan tâm
và đẩy mạnh việc sử dụng CNTT, các phương tiện thiết bị hiện đại vào quá trình thiết kế bài giảng từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của
việc dạy và học
Trang 40Chương 2 THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN TOÁN LỚP 12
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
2.1 Chương trình SGK toán lớp 12 THPT
Sách giáo khoa Toán 12 THPT chương trình cơ bản cả năm gồm 123 tiết học Đại số và Giải tích 78 tiết hình học gồm 45 tiết
Đại số và Giải tích78 tiết gồm 4 chương gắn với 4 chủ đề sau:
Chương I: Ứng dụng đạo hàm để khảo sát và vẽ đồ thị của hàm số (20 tiết) Chương II: Hàm số luỹ thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit (17 tiết) Chương III: Nguyên hàm - Tích phân - Ứng dụng (16tiết)
Chương IV: Số phức (9 tiết)
Kết thúc mỗi chương có bài kiểm tra và kết thúc chương trình dành cho
ôn tập cuối năm (16 tiết)
Hình học gồm 45 tiết gồm 3 chương gắn với ba chủ đề:
Chương I: Khối đa điện gồm các nội dung: (11 tiết)
Chương II: Mặt nón, mặt trụ, mặt cầu(10 tiết)
Chương III: Phương pháp tọa độ trong không gian(18 tiết)
Kết kết thúc chương trình có 6 tiết dành cho ôn tập cuối năm
Sau mỗi bài học đều có bài tập củng cố kiến thức của mục đó Đây là những bài tập cơ bản học sinh có thể làm trên lớp (nếu có thời gian hoặc làm ở nhà) đến tiết luyện tập giáo viên sẽ lựa chọn bài tập để chữa trong giờ học phù hợp với khả năng của học sinh
2.2 Một số định hướng trong thiết kế và thực hiện bài giảng với sự hỗ trợ của CNTT
Bài giảng có ứng dụng CNTT nói chung được xây dựng bằng máy tính với các phần mềm hỗ chợ chuyên dụng như: phần mềm trình chiếu Microsoft PowerPoint, phần mềm Violet, Geo Sketchpad, Carbi,Graph Ngoài ra còn có các thiết bị điện tử như máy in, máy ảnh, máy quét, camera