Theo ILO 1930 xuất khẩu lao động: Thực chất là xuất khẩu hàng hóa sứclao động, được hiểu là sự di chuyển lao động có tổ chức đi làm việc trong thời hạnnhất định ở nước ngoài thông qua cá
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-Hà Nội 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của
người dân xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”
: 564544
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trongchuyên đề là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thựchiện chuyên đề đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong chuyên đềđều được chỉ rõ nguồn gốc, bản chuyên đề này là nỗ lực, kết quả làm việccủa cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên Nguyễn Văn Quyết
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi cònnhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh
tế & Phát triển nông thôn - Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã hếtlòng giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quátrình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Đoàn BíchHạnh thuộc bộ môn kinh tế môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn,Trường Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các hộ gia đình tại các thônthuộc xã Đoàn Đào, cán bộ và toàn thể nhân dân xã Nam Cát, huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Và tôi cũng không quên nói lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viêngiúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Quyết
Trang 4Việt Nam là nước đang phát triển, có số dân số hơn 90,5 triệu người,đứng thứ 13 trên thế giới, hằng năm với mức tăng trung bình khoảng 1 triệungười, là nước có lợi thế về sức lao động Trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợithế nguồn nhân lực, trao đổi hàng hóa “ Sức lao động’’ Mặt khác, trong điềukiện đất nước ta hiện nay, hơn 70% lao động sống ở nông thôn, trình độchuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗinăm cần có khoảng 2,45% người dân cần việc làm Chính vì vậy, xuất khẩu laođộng không những là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, mà còn là mộtchiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm cho số người đến
độ tuổi lao động giảm thiểu gánh nặng của quốc gia Do đó, xuất khẩu laođộng trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội sâu sắc và liênquan chặt chẽ với các yếu tố kinh tế khác trong định hướng phát triển kinh tếquốc gia
Xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong những năm qua, cấp
ủy Đảng chính quyền địa phương coi xuất khẩu lao động là môt trong nhữngnhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thunhập cho người lao động, làm giàu chính đáng, tăng nguồn thu ngoại tệ vàcũng là một trong những biện pháp xóa đói giảm nghèo, góp phần không nhỏthúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Số lao động của xã NamCát đi xuất khẩu lao động càng ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình từng là hộnghèo nhưng từ khi có lao động đi xuất khẩu đã trở nên khá giả hơn, xây dựngnhà cửa khang trang, mua sắm được các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và có vốn
ổn định tăng gia sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập Toàn xã hiện có 700lao động đang làm việc ở nước ngoài tập trung chủ yếu ở các thị trường như:Angola, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaisia… xuất khẩu lao động đemlại nguồn thu nhập cho xã Nam Cát mỗi năm hơn 100 tỷ đồng, đời sống ngườidân được cải thiện đáng kể
Trang 5Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Nam Cát đãmang lại nhiều lợi ích, đời sống của người dân được cải thiện một cách rõ rệt,nhất là mặt kinh tế của hộ gia đình Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích củaXKLĐ mang lại, thì XKLĐ cũng gây ra một số hệ lụy đến đời sống của ngườidân Để đánh giá đúng và hiểu rõ hơn mức độ tác động của xuất khẩu lao động
cụ thể đến đời sống người dân trong xã nên tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”.
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về lao động, sức lao động,giá cả lao động, xuất khẩu lao động, thị trường lao động, các lý luận về đánhgiá, tác động Các khái niệm và đặc điểm được tìm hiểu qua nhiều góc độ vàcách nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu trước đây Từ các khái niệm về đánhgiá tác động của xuất khẩu lao động, đề tài đã bước đầu khái quát hóa kháiniệm về đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp chọnmẫu điều tra nghiên cứu dùng để điều tra thực trạng tác động của xuất khẩu laođộng trên địa bàn xã, mức độ tác động của xuất khẩu lao động đến đời sốngngười dân; phương pháp thu thập số liệu qua điều tra, tổng hợp (số liệu doUBND xã Nam Cát cung cấp), phương pháp phân tích số liệu dùng trongnghiên cứu nhằm đánh giá tác động của xuất khẩu lao động Phương pháp sosánh dùng để so sánh giữa các nhóm hộ với nhau, giữa trước và sau khi có xuấtkhẩu lao động, từ đó đánh giá mức độ tác động giữa các nhóm
Qua nghiên cứu thực tế tác động của xuất khẩu lao động đến đời sốngcủa người dân xã Nam Cát, nhìn chung xuất khẩu lao động đã có nhiều tácđộng tích cực đến đời sống của người dân Xuất khẩu lao động đã góp phầnvào công cuộc giải quyết việc làm, hạn chế tình trạng thất nghiệp ở một số bộphận lao động thất nghiệp Xuất khẩu lao động tác động tích cực đến kinh tế hộgia đình nhờ nguồn thu nhập từ lao động xuất khẩu từ đó làm thay đổi đời sống
Trang 6của hộ gia đình theo hướng tích cực hơn Xuất khẩu lao động được xác định làmục tiêu hàng đầu nhằm phát triển kinh tế trước mắt của địa phương, xóanhanh tình trạng đói nghèo trong xã làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế bềnvững Tuy nhiên từ những tác động tích cực thì vẫn tồn tại những hạn chế từxuất khẩu lao động như: rủi ro trong xuất khẩu lao động, ảnh hưởng tới trật tự
xã hội, mối quan hệ gia đình…
Trước vấn đề đó, khi được điều tra, phỏng vấn thì đại đa số hộ điều trađều tham gia trả lời tích cực về thông tin hộ gia đình, người lao động và nhữngthay đổi kể từ khi có người xuất khẩu lao động Tìm hiểu về tác động của xuấtkhẩu lao động đến đời sống của người dân? Thì tất cả người được hỏi đều trảlời xuất khẩu lao động có tác động nhất định đến sản xuất và cuộc sống giađình của họ Chính người lao động cũng thừa nhận xuất khẩu lao động cũngtác động đến mối quan hệ, trình độ tay nghề, ngoại ngữ của họ khi sang làmviệc ở nước ngoài
Nhận thức được vấn đề này chính quyền xã và người dân xã Nam Cát đã
và đnag cố gắng tích cực thực hiện các giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu laođộng và giảm thiểu, ngăn chặn những hạn chế mà xuất khẩu lao động mang lại
Đề tài nêu những định hướng, giải pháp đối với cơ quan nhà nước, đối vớichính quyền địa phương nhằm phát triển xuất khẩu lao động ổn đinh, bền vữnghơn Khuyến khích hộ gia đình và người lao động nâng cao trình độ, học vấn,tay nghề, nhận thức đúng đắn về xuất khẩu lao động… Thực hiện tốt các giảipháp này sẽ góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu được những hạn chế, tiêu cực
mà xuất khẩu lao động mang lại
Trang 7MỤC LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
XKLĐ
LĐ – TB và XH
HĐH
CNH
ILO(International Labour
Organization)
IOM(International Organization for
Migration)
WB (World Bank)
ĐH – CĐ
CN – TTCC
UBND
TH
THCS
THPT
SL
CC
Trđ
CN - XD
TNBQ
: xuất khẩu lao động : Lao động – Thương binh và Xã hội : Hiện đại hóa
: Công nghiệp hóa : Tổ chức Lao động Quốc tế : Tổ chức di dân quốc tế
: Ngân hàng thế giới
: Đại học – Cao đẳng : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp : Ủy ban nhân dân
: Tiểu học : Trung học cơ sở : Trung học phổ thông : Số lượng
: Cơ cấu : Triệu đồng : Công nghiệp - xây dựng : Thu nhập bình quân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang 10PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Việt Nam là nước đang phát triển, có số dân số hơn 90,5 triệu người,đứng thứ 13 trên thế giới, hằng năm với mức tăng trung bình khoảng 1 triệungýời, là nước có lợi thế về sức lao động Trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợithế nguồn nhân lực, trao đổi hàng hóa “ Sức lao động’’ Mặt khác, trong điềukiện đất nước ta hiện nay, hơn 70% lao động sống ở nông thôn, trình độchuyên môn tay nghề thấp, tiền công sức lao động rẻ, sức ép việc làm lớn, mỗinăm có khoảng 2,45% người dân cần việc làm Chính vì vậy, xuất khẩu laođộng không những là chủ trương lớn của đảng và nhà nước, mà còn là mộtchiến lược quan trọng lâu dài góp phần giải quyết việc làm cho số người đến
độ tuổi lao động giảm thiểu gánh nặng của quốc gia Do đó, xuất khẩu laođộng trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội sâu sắc và liênquan chặt chẽ với các yếu tố kinh tế khác trong định hướng phát triển kinh tếquốc gia
Xuất khẩu lao động của nước ta bắt đầu từ những năm 1980 thông quahình thức đưa lao động sang các nước xã hội chủ nghĩa là việc theo Hiệp địnhhợp tác quốc tế về lao động Từ năm 1991 đến nay, xuất khẩu lao động đã đượcchuyển dần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Hằng năm số lượng lao động được đưa đi đều tăng lên
và hiệu quả năm sau đều đạt cao hơn năm trước, hiện nay có khoảng hơn 500ngàn lao động làm việc ở 41 nước và vùng lãnh thổ Xuất khẩu lao động đối vớinước ta đã thực sự trở thành một giải pháp hữu hiệu đối với công cuộc xóa đóigiảm nghèo và cải thiện đời sống cho một số bộ phận người lao động, đặc biệt ởkhu vực nông thôn Nguồn lợi kinh tế của công tác xuất khẩu lao động là rất lớn
Trang 11đã tạo ra những chuyển biến làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao mức sốngcủa nhiều hộ gia đình nông dân.
Xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong những năm qua, cấp
ủy Đảng chính quyền địa phương coi xuất khẩu lao động là môt trong nhữngnhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thunhập cho người lao động, làm giàu chính đáng, tăng nguồn thu ngoại tệ vàcũng là một trong những biện pháp xóa đói giảm nghèo, góp phần không nhỏthúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Số lao động của xã NamCát đi xuất khẩu lao động càng ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình từng là hộnghèo nhưng từ khi có lao động đi xuất khẩu đã trở nên khá giả hơn, xây dựngnhà cửa khang trang, mua sắm được các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và có vốn
ổn định tăng gia sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập Toàn xã hiện có 700lao động đang làm việc ở nước và ngoài tập trung chủ yếu ở các thị trườngnhư: Angola, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaisia… xuất khẩu lao độngđem lại nguồn thu nhập cho xã Nam Cát mỗi năm hơn 100 tỷ đồng, đời sốngngười dân được cải thiện đáng kể
Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn xã Nam Cát đãmang lại nhiều lợi ích, đời sống của người dân được cải thiện một cách rõ rệt,nhất là mặt kinh tế của hộ gia đình Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích củaXKLĐ mang lại, thì XKLĐ cũng gây ra một số hệ lụy đến đời sống của ngườidân Để đánh giá đúng và hiểu rõ hơn mức độ tác động của xuất khẩu lao động
cụ thể đến đời sống người dân trong xã nên tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An”.
1.2Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống về các mặt kinh tế văn hóa - xã hội của người dân tại xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 121.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tác động của xuất khẩu lao động và đời sống của người dân trước vàsau khi có xuất khẩu lao động
- Khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình có người đi xuất khẩu laođộng, các thành viên trong gia đình có người đi xuất khẩu lao động, người dân
và cán bộ tại địa phương
Thông tin, số liệu thứ cấp: từ năm 2011 đến năm 2014
Thông tin sơ cấp: năm 2015
Thời gian thực hiện đề tài: từ 14/01/2015 đến 02/06/2015
- Phạm vi nội dung
Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến sản xuất và đời sống của
Trang 13các hộ gia đình trước và sau khi có xuất khẩu lao động, các hộ gia đình cóngười đi và các hộ gia đình không có người đi xuất khẩu lao động.
Trang 14PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
cơ sở của sự tiến bộ kinh tế, vă hóa và xã hội Nó là nhân tố quyết định bất kìquá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình phát triển kinh tế, xãhội quy tụ lại là ở con người, con người với lao động sáng tạo của họ đang làvấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Nguyễn Ngọc Quân (2004), laođộng chính là hoạt động có mục đích có ý thức của con người nhằm biến đổinhững vật thể tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phù hợp với với mục đích nhấtđịnh của mình Lao động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợpgiữa sức lao động và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội, laođộng là yếu tố chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh Theo hình thức đàotạo thì lao động được chia thành lao động đã qua đào tạo nghề và lao đôngkhông qua đào tạo nghề
Lao động đã qua đào tạo nghề
Theo Công văn số 4190 ngày 29/11/2010 của Bộ lao động – Thươngbinh và Xã hội: Lao động đã qua đào tạo nghề là những người đã hoàn thành ít
Trang 15nhất một chương trình đào tạo của một nghề tại một cơ sở dạy nghề (gồm cảcác cơ sở sản xuất kinh doanh) và được cấp văn bằng chứng chỉ nghề hoặcđược thừa nhận theo các kiến thức hiện hành
Như vậy, lao động qua đào tạo nghề hiện không chỉ có công nhân kỹthuật được đào tạo từ trường, lớp dạy nghề, mà bao gồm lao động được đào tạo
ở 3 cấp trình độ (theo Luật dạy nghề) trong nhà trường và được dạy nghề bởidoanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề ngoài nhà trường hoặc tự học, được truyềnnghề và được thừa nhận bởi các quy định hiện hành
Nhóm lao động chưa qua đào tạo nghề được hiểu là những người chưa
có bất kỳ loại văn bằng chứng chỉ nghề nào và thực tế cũng không đảm nhậnmột công việc nào đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật từ 3 năm trở lên hoặc côngviệc đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật nhưng kinh nghiệm chưa đủ 3 năm.Nhóm lao động này thường là đối tượng khó xác định Theo thống kê lao độngviệc làm hằng năm của Bộ LĐ – TB và XH thì lao động chưa qua đào tạokhông bằng, không chứng chỉ là những người tuy chưa qua một trường lớp đàotạo nhưng do tự học, do được truyền nghề hoặc vừa làm vừa học nên họ đã cóđược kỹ năng, tay nghề tương đương với bậc của lao động đã qua đào tạo cóbằng cùng nghề và thực tế đã làm công việc đang làm từ 3 năm trở lên
Sức lao động
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Nguyễn Ngọc Quân (2004), sức laođộng là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trongmột con người đang sống và được đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất một giátrị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điềukiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lýợng sản xuất sáng tạochủ yếu của xã hội
Nguồn nhân lực
Theo David Begg (1995): “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyênmôn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại
Trang 16thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực
là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tươnglai”
Theo Phạm Minh Hạc (2007): “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềmnăng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động đượcchuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao độngnào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung),bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động,
cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”
Theo Nguyễn Hữu Dũng (2003):“Nguồn nhân lực được xem xét dướihai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, nguồnnhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọngnhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triểnnguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồnnhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên nếu chỉdừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó phảichuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nângcao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế vàgiải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vô tận nếuđược tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị laođộng thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vôcùng to lớn”
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệmkhác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nộidung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Conngười với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, lànguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được
Trang 17xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả
số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà
là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên,cải tạo xã hội
Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức –tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến
bộ xã hội.
Lực lượng lao động
Theo Luật số 10/2012/QH13: Lực lượng lao động bao gồm những người
từ 15 tuổi có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìmviệc làm
Giá cả lao động
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (Vũ Anh Tuấn và PhạmĐức Hạnh, năm 2005): Giá cả lao động (gọi một cách chính xác là giá cả củahàng hóa sức lao động) là toàn bộ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao độngtrả cho người lao động phù hợp với lượng giá trị sức lao động mà người đó đãcống hiến, phù hợp với cung cầu về lao động trên thị trường lao động Toàn bộ
số lượng tiền tệ nói đến ở đây là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động vàngười lao động Đó là tiền lương (tiền công) danh nghĩa Lượng tiền này chưaphản ánh mức sống của người lao động vì còn phụ thuộc vào yếu tố giá cả tạithời điểm và khu vực mà người đó tiêu dùng Số lượng tư liệu sinh hoạt vàdịch vụ mà người lao động có thể trao đổi (mua) được từ số lượng tiền có thể
sử dụng (tiền lương danh nghĩa sau khi trừ đi các khoản thuế, bảo hiểm, chi phíkhác theo quy định) là tiền lương thực tế Khi đó, mức sống của người laođộng được đánh giá thông qua tiền lương thực tế
Trang 182.1.1.2 Xuất khẩu lao động
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu lao động (XKLĐ) Nếu nhưtrước đây với thuật ngữ “hợp tác quốc tế lao động” (Nghị quyết số 362/CP -29/11/1980), XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông quacác hiệp định được thoả thuận và ký kết giữa các quốc gia đó hay là sự di chuyểnlao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức Tronghành vi trao đổi này, nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếpnhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập khẩu lao động
Theo ILO (1930) xuất khẩu lao động: Thực chất là xuất khẩu hàng hóa sứclao động, được hiểu là sự di chuyển lao động có tổ chức đi làm việc trong thời hạnnhất định ở nước ngoài thông qua các hiệp định về XKLĐ và các thỏa thuận giữacác quốc gia nhập và xuất khẩu lao động
Ngày nay với cách sử dụng thống nhất thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơnđến tính hiệu quả kinh tế cuả hoạt động này, từ các khái niệm trên có thể hiểu:
“XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động
cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động”.
Trong nền kinh tế thị trường, XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại,
mang đặc thù của xuất khẩu nói chung Thực chất XKLĐ là một hình thức di
cư quốc tế Tuy nhiên, đây chỉ là sự di cư tạm thời và hợp pháp
Xuất khẩu lao động ra nước ngoài, thường gọi tắt là xuất khẩu lao động,
là hoạt động kinh tế dưới hình thức cung ứng lao động ra nước ngoài theo hợpđồng có thời hạn, phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệpnước ngoài
Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đódiễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do và một bên làngười có nhu cầu sử dụng lao động Sự trao đổi này được thoả thuận trên cơ sở
Trang 19mối quan hệ lao động như tiền lương, tiền công, điều kiện làm việc thông quamột hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng.
Khi cung và cầu lao động nảy sinh ngoài biên giới một quốc gia thì gọi
là thị trường lao động quốc tế Thị trường lao động quốc tế là bộ phận cấuthành của hệ thống thị trường thế giới, trong đó lao động từ nước này có thể dichuyển sang nước khác thông qua hiệp định, các thỏa thuận giữa hai hay nhiềuquốc gia trên thế giới
2.1.1.3 Đánh giá, tác động
Theo tổ chức xã hội dân sự thế giới (CIVICUS, 2007): Đánh giá là quátrình đánh giá một cách có hệ thống và khách quan một dự án, chương trìnhhoặc một chính sách đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành từ giai đoạn thiết
kế đến triển khai và các kết quả đạt được Mục đích của việc đánh giá là để xácđịnh tính phù hợp và mức độ hoàn thành các mục tiêu, tính hiệu quả, tác động
và tính bền vững Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin đáng tin cậy vàhữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyếtđịnh của các nhà tài trợ và của đối tượng tiếp nhận tài trợ
Tác động
Theo tổ chức xã hội dân sự thế giới (CIVICUS, 2007): Tác động là những
hệ quả lâu dài của dự án, chương trình hay hoạt động có thể là ảnh hưởng tíchcực hay là tiêu cực.Tác động đến đời sống người dân là những ảnh hưởng tớicuộc sống của người dân có thể là cải thiện đời sống hay có khi là hạn chế mứcsống của người dân sau khi có chương trình hay một dự án nào đó
2.1.2 Các hình thức xuất khẩu lao động
Hình thức xuất khẩu lao động là cách thức thực hiện việc đưa người laođộng và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài do Nhànước qui định
Trang 20Các hình thức đưa lao động Việt Nam ở nước ngoài gồm có: (1) Cungứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài; (2) Đưa lao động đilàm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ranước ngoài; (3) Theo hợp đồng lao động giữa các cá nhân người lao động với
người sử dụng lao động nước ngoài.
Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài Đây là
trường hợp các tổ chức kinh tế Việt Nam được phép XKLĐ tuyển dụng laođộng Việt Nam để đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng laođộng Hình thức này tương đối phổ biến, được thực hiện rộng rãi trong cácnăm vừa qua và những năm tới Đặc điểm của hình thức này là: Tổ chức kinh
tế Việt Nam tổ chức tuyển chọn lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việccho người sử dụng lao động ở nước ngoài và các yêu cầu về tiêu chuẩn về laođộng do phía nước ngoài đặt ra Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi phápluật của nước nhận lao động Quá trình làm việc ở nước ngoài, người lao độngViệt Nam chịu sự quản lý trực tiếp của người sử dụng lao động nước ngoài,các điều kiện và quyền lợi của người lao động do phía nước ngoài bảo đảm.Chính vì vậy, việc thích ứng của người lao động Việt Nam với môi trường laođộng nước ngoài có những hạn chế
Đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài Đây là trường hợp doanh nghiệp tuyển lao
động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện hợp đồngkinh tế với bên nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận khoáncông trình ở nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết chia sảnphẩm hoặc các hình thức đầu tư khác ở nước ngoài Những năm vừa qua, hìnhthức này tuy chưa phổ biến nhưng theo chủ trương chủ động hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực, mở rộng và tăng cường kinh tế đối ngoại thì hình thức này
sẽ ngày càng phát triển Đặc điểm của hình thức này là: Việc tuyển người laođộng là để thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp Việt Nam; yêu cầu về tiêu
Trang 21chuẩn lao động, các điều kiện lao động do doanh nghiệp Việt Nam đặt ra, doanhnghiệp Việt Nam sử dụng lao động có thể trực tiếp tuyển dụng lao động hoặc uỷquyền cho doanh nghiệp cung ứng lao động tuyển lao động Doanh nghiệp ViệtNam đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, quản lý, sử dụng lao động ở nướcngoài đảm bảo các quyền lợi cho người lao động làm việc ở nước ngoài Do đặcđiểm và hình thức sử dụng lao động này nên quan hệ lao động tương đối ổnđịnh Việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động của người laođộng khi làm việc ở nước ngoài có nhiều thuận lợi Tuy nhiên, do hợp đồngđược thực hiện ở nước ngoài nên ít nhiều có sự ảnh hưởng của pháp luật, phongtục tập quán của nước ngoài Ngoài việc tuân thủ pháp luật Việt Nam, cả doanhnghiệp Việt Nam quản lý sử dụng lao động và người lao động Việt Nam cònphải tuân thủ các quy định của pháp luật nước ngoài.
Theo hợp đồng lao động giữa các cá nhân người lao động với người sử dụng lao động nước ngoài Hình thức XKLĐ này ở nước ta chưa phổ biến vì
muốn ký được hợp đồng với phía nước ngoài, người lao động phải có nhữnghiểu biết cần thiết về nhiều mặt như các thông tin về đối tác nước ngoài, vềngôn ngữ, khả năng giao tiếp với người nước ngoài Trong khi đó, trình độhiểu biết các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội và pháp luật của người lao độngViệt Nam còn những hạn chế nhất định
2.1.3 Đặc điểm của xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế Bởi vì, nó nhằm thực hiện
chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, đồngthời để thỏa mãn lợi ích kinh tế của người lao động đi làm việc ở nước ngoài,góp phần tăng thêm nguồn ngân sách của Nhà nước
Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội Nói
xuất khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao động không tách khỏi ngườilao động Do vậy, mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao độngphải kết hợp với các chính sách xã hội Phải đảm bảo làm sao để người lao
Trang 22động ở nước ngoài được lao động như đã cam kết trong hợp đồng lao động,cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoànthành hợp đồng ở nước ngoài và trở về nước.
Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động tự chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động.
Nếu như trước đây (giai đoạn 1980 – 1990) Việt Nam tham gia thịtrường lao động, về cơ bản Nhà nước vừa quản lý Nhà nước vừa quản lý vềhợp tác lao động với nước ngoài, Nhà nước làm thay cho các tổ chức kinh tế
về hoạt động xuất khẩu lao động Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hộinhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động xuất khẩu lao động đều do các tổchức xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký Đồng thời, các
tổ chức xuất khẩu lao động phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hiệu quả kinh
tế trong hoạt động xuất khẩu lao động của mình Như vậy, các hiệp định, cácthoả thuận song phương mà Chính phủ ký kết chỉ mang tính chất nguyên tắc,thể hiện vai trò và trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô
Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Tính gay gắt trong cạnh tranh của xuất khẩu lao động xuất phát từ hai
nguyên nhân chủ yếu Một là, xuất khẩu lao động mang lại lợi ích kinh tế khálớn cho các nước đang có khó khăn về giải quyết việc làm, do vậy, đã buộc cácnước xuất khẩu lao động phải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoàinước Hai là, xuất khẩu lao động đang diễn ra trong môi trường suy giảm kinh
tế trong khu vực: Nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động nước ngoàinhư: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…cũng đang phải đối đầu với tỉ lệ thấtnghiệp ngày càng gia tăng Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận laođộng và chuyên gia nước ngoài trong thời gian những năm đầu của thế kỷ21.Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lường trướcđược tính chất cạnh tranh gay gắt trong xuất khẩu lao động để có chương trìnhđào tạo có chất lượng cao để xuất khẩu
Trang 23Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, lợi ích kinh tế của Nhà nước
là khoản ngoại tệ mà người lao động gửi về, các khoản thuế, lợi ích của các tổchức xuất khẩu lao động là các khoản thu được chủ yếu là các loại phí giải quyếtviệc làm ngoài nước, còn lợi ích của người lao động là khoản thu nhập thường làcao hơn nhiều so với lao động ở trong nước Do vậy, các chế độ chính sách củaNhà nước phải tính toán sao cho đảm bảo được sự hài hoà lợi ích của các bên,trong đó phải chú ý đến lợi ích trực tiếp cuả người lao động
Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi Bởi vì, hoạt động xuất
khẩu phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động, dovậycần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang và sẽ đượcthực hiện để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình đào tạo giáo dục,định hướng phù hợp và linh hoạt Chỉ có những nước nào chuẩn bị đội ngũcông nhân với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việcchiếm lĩnh thị phần lao động ở ngoài nước và cũng chỉ có nước nào nhìn xa,trông rộng, phân tích đánh giá và dự đoán đúng tình hình mới không bị độngtrước sự biến đổi của tình hình đưa ra chính sách đón đầu trong hoạt động xuấtkhẩu lao động
Không có sự giới hạn theo không gian đối với hoạt động xuất khẩu lao động Thị trường xuất khẩu lao động với một quốc gia xuất khẩu lao động càng
phong phú và đa dạng bao nhiêu thì càng tốt Nó làm tăng các loại ngoại tệ,giảm rủi ro trong xuất khẩu lao động và nó cũng thể hiện khả năng cạnh tranhmạnh mẽ của quốc gia đó
2.1.4 Vai trò của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trìnhphát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm vàđang phát triển như Việt Nam
Trang 24Xuất khẩu lao động có một vai trò đặc biệt trong việc giải quyết việc làm và ổn định thị trường lao động Đối với các quốc gia có nền kinh tế chưa
phát triển khối lượng việc làm tạo ra trong xã hội là rất hạn chế so với khốilượng lao động trong độ tuổi rất dồi dào của họ bởi vậy thất nghiệp và giảiquyết việc làm luôn là vấn đề đau đầu của các nhà lãnh đạo quốc gia
Ở Việt Nam, hiện nay có trên 500.000 người lao động và chuyên gia làmviệc tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề Theo
số liệu mới nhất từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động-Thươngbinh và Xã hội), trong 5 năm (2010 – 2014) trung bình mỗi năm hơn 88.000lao động ra nước ngoài làm việc, tính riêng năm 2014 cả nước đã đưa được106.840 lao động đi làm việc ở nước ngoài, tăng 18,7% so với kế hoạch đề ra(90.000 người) Đây là số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài cao nhấttrong những năm gần đây
Bảng 2.1 Số lượng lao động sang nước ngoài làm việc hằng năm giai đoạn (2011 – 2014)
Số lao động (người) 88 298 80 320 88 135 106 840
(Nguồn: Bộ lao động và thương binh xã hội)
Trang 252011 2012 2013 2014 0
Xuất khẩu lao động làm tăng thu nhập và góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở địa phương Không chỉ đơn thuần mang tính chất giải quyết
việc làm cho số lao động dư thừa mà xuất khẩu lao động còn góp phần rất lớn
và công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước nhờ có khoản thu nhập cao hơnrất nhiều so với mức lương ở trong nước điển hình như thu nhập tại các quốcgia: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Australia…Với con số ngoại tệ gửi vềnước trong những năm gần đây trung bình mỗi năm gửi về từ 1,6 tỷ đến 2
Trang 26tỷ USD Trong đó từ Hàn Quốc trên 700 triệu USD, Nhật Bản hơn 300 triệuUSD Năm 2010, Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 quốc gia có lượng kiều hốichuyển về nhiều nhất, là một trong 10 quốc gia có thu nhập lớn từ xuất khẩulao động Không dừng lại ở đó, xuất khẩu lao động còn góp phần tăng ngânsách nhà nước nhờ có những khoản thuế thu từ hoạt động của các doanhnghiệp XKLĐ và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về nước Như vậy XKLĐ vừatrực tiếp lẫn gián tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển, ổn định xã hội và thực
sự XKLĐ đã trở thành một giải pháp hữu hiệu đối với công cuộc xóa đói giảmnghèo, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho một bộ phận người laođộng đặc biệt ở khu vực nông thôn Nguồn lợi về kinh tế của công tác xuấtkhẩu lao động là rất lớn đã tạo ra những chuyển biến cơ bản làm thay đổi bộmặt nông thôn, nâng cao mức sống cho nhiều hộ nông dân
Xuất khẩu lao động đã làm nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn và lao động sẽ được tiếp cận với nhiều công nghệ, máy móc hiện đại hơn Lao
động khi làm việc ở nước ngoài sẽ học hỏi được nhiều kiến thức, tác phonglàm việc, kinh nghiệm thực tế, sau đó là trình độ nhận thức cũng được nânglên Do đó tình trạng lao động nông thôn có trình độ chuyên môn thấp, ítchuyên sau được cải thiện phần nào Thông qua đó quốc gia có lao động đixuất khẩu sau khi về nước sẽ có được một đội ngũ lao động có tay nghề trình
độ cao, có tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật cao hơn
Hoạt động XKLĐ còn là cầu nối để các quốc gia tăng cường quan hệ hợp tác về mọi mặt giúp cho sự giao lưu giữa các nền văn hóa trên thế giới ngày càng mở rộng Quan hệ hợp tác trong lĩnh vực XKLĐ là vô cùng quan
trọng Nhờ đó mà quan hệ nước cung ứng lao động và nước tiếp nhận lao độngtrở nên gắn bó, hiểu nhau hơn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Hoạtđộng XKLĐ trên cơ sở hai nước cùng có lợi, là cầu nối để các quốc gia tăngcường quan hệ hợp tác mọi mặt, giúp cho sự giao lưu giữa các nền văn hóatrên thế giới này càng được mở rộng
Trang 27Tóm lại công tác XKLĐ có một vai trò rất lớn đối với một quốc gia bởivậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đây là một trong những công tác trọngđiểm mang tính chiến lược cho quốc gia trong thời gian tới.
2.1.5 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu lao động
Điều kiện kinh tế chính trị, tình hình dân số, nguồn lao động của nước tiếp nhận lao động
Các nước tiếp nhận lao động thường là các nước có nền kinh tế pháttriển hoặc tương đối phát triển nhưng trong quá trình phát triển kinh tế của mình họ lại thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động cho một hoặc một vàilĩnh vực nào đó Vì thế họ có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động từ nước khác
Sự thiếu hụt lao động càng lớn trong khi máy móc chưa thể thay thế hết đượccon người thì nhu cầu thuê thêm lao động nước ngoài là điều tất yếu.Ngoài ra,xuất khẩu lao động còn chịu nhiều tác động từ sự phát triển kinh tế có ổn định haykhông của nước tiếp nhận Nếu nền kinh tế có những biến động xấu bất ngờ xảy
ra thì hoạt động xuất khẩu lao động cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn Chính trịcũng ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động Nếu nước tiếp nhận có tình hình chínhtrị không ổn đình thì họ có thể cũng không có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động
và nước xuất khẩu lao động cũng không muốn đưa người lao động của mìnhtới đó
Bản thân người lao động và gia đình
Việc đi xuất khẩu lao động hay không phụ thuộc vào phần lớn vào ý thứccủa chính người lao động đó Người lao động phải chịu nhiều áp lực bản thân về
sự đánh đổi, thời gian, cuộc sống, công việc, môi trường hiện tại, xa gia đình đểđến với môi trường làm việc mới, một đất nước khác Tiếp đến là sự ủng hộ đồngtình hoặc không đồng tình từ phía người thân trong gia đình, khi đó người laođộng mới có thể quyết định rằng mình có hay không đi xuất khẩu lao động
Thu nhập của người lao động
Trang 28Thu nhập là lí do quan trong nhất cũng đồng thời là yếu tố gây ảnhhưởng lớn nhất đến xuất khẩu lao động Hằng năm, hàng tháng, người laođộng gửi về cho gia đình một khoản ngoại tệ không nhỏ và cũng là nguồn thunhập chính của gia đình kể từ khi có người thân đi xuất khẩu lao động Hầu hếtlao động khi được hỏi lý do đi xuất khẩu lao động đều có câu trả lời là muốntăng thu nhập bản thân, mong ước làm giàu, mong muốn có một cuộc sống đầy
đủ hơn Những người thân ở nhà thì cho biết từ khi có người đi lao động cuộcsống của họ được cải thiện, nhà cửa khang trang, mua sắm được nhiều tiệnnghi trong gia đình và nếu không có xuqất khẩu lao động thì không biết khinào họ mới có được như ngày hôm nay
Sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu lao động khác
Sự cạnh tranh này mang tác động hai chiều Chiều tích cực: thúc đẩyhoạt động xuất khẩu lao động của nước mình không ngừng tự nâng cao chấtlượng hàng hoá sức lao động để tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sựphát triển mới cho hoạt động xuất khẩu lao động Chiều tiêu cực: cạnh tranhkhông lành mạnh hoặc tính cạnh tranh yếu sẽ bị đào thải
Điều kiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc giữa quốc gia xuất khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận
Nếu những điều kiện này tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí trong hoạtđộng xuất khẩu lao động cũng như thuận lợi trong quá trình đưa lao động đi vànhận lao động về Vì thế hoạt động xuất khẩu lao động sẽ diễn ra thườngxuyên và mạnh mẽ hơn
Yếu tố cạnh tranh giữa các quốc gia nhập khẩu lao động
Xuất khẩu lao động được thực hiện trong sự cạnh tranh gay gắt giữa cácquốc gia xuất khẩu lao động Ngày càng có nhiều nước tham gia vào lĩnh vựcxuát khẩu lao động, trong hiện thời và trước mắt các nước nhập khẩu lao độngchỉ muốn tiếp nhận lao động có kỹ năng cao, thích ứng với công nghệ mới, đặcbiệt là công nghệ thông tin, siết chặt chính sách nhập cư có xu hướng quản lý
Trang 29lao động nhập cư thông qua các hợp đồng lao động thạm thời và chính sáchquản lý lao động nhập cư; Đồng thời các nước cũng thông qua Tổ chức Laođộng Quốc tế (ILO) và Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) để giải quyết vấn đề didân và nhập cư lao động một cách toàn diện, phục vụ lợi ích của các quốc gia,người lao động và toàn xã hội Do đó, chúng ta cần căn cứ đặc thù về nguồn đểnâng cao chất lượng cạnh tranh.
Mối quan hệ cung – cầu về lao động trên thị trường thế giới và khu vực
Các nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tốc
độ tăng dân số thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu về nhậpkhẩu lao động, trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cầnđầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổsung nguồn thu ngân sách và thu nhập cho người lao động, rất cần đưa laođộng ra nước ngoài làm việc Cung – cầu lao động của thị trường phụ thuộcnhiều vào sự phát triển và các chính sách kinh tế của các nước như: thu nhập,đầu tư, thuế, lãi suất của nền kinh tế khu vực và thế giới Khi cung – cầu laođộng mất cân đối nghiệm trọng do nhu cầu tìm việc làm trong nước quá lớnnhưng khả năng xâm nhập, khai thác thị trường lao động quốc tế còn hạn chế,cạnh tranh gay gắt sẽ đẩy chi phí khai thác thị trường lên quá cao, ảnh hưởngtrực tiếp đến quyền lợi của người lao động, chúng ta cần nâng cao năng lực dựbáo Đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường ngoài nước, kịp thời đón nhậncác hợp đồng tiếp nhận lao động, nhất là thị trường có thu nhập cao, an toàn,phù hợp với điều kiện lao động Việt Nam như: Đài Loan, Nhật Bản, HànQuốc, Malyasia tiếp tục các hoạt động để mở thị trường mới như Hòa Kỳ,Ôxtrâylia, Canada, Cộng hòa Séc
Hệ thống các quan điểm chính sách và chủ trương của nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động
Nếu nhà nước coi trọng hoạt động xuất khẩu lao động, xác định đúng vịtrí và tầm quan trọng của nó đối với việc phát triển kinh tế - xã hội thì sẽ tạo
Trang 30mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động và ngược lại Đồngthời với quá trình này thì công tác tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việcthực hiện cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động xuất khẩulao động.
Chất lượng nguồn lao động của các quốc gia có lao động đi xuất khẩu lao động
Hiện nay, tình trạng chung của đa số lao động đi xuất khẩu lao động làchưa được qua đào tạo tay nghề, có trình độ học vấn thấp trong khi phí nước tiếpnhận lao động là nước có trình độ tiên tiến, công nghệ hiện đại Từ đó đòi hỏi cácnhà tuyển dụng phải đào tạo bổ sung kiến thức cho người lao động trước khi sangnước ngoài làm việc và việc này gây mất nhiều thời gian và tốn tiền bạc củangười lao động Điều đó cho thấy chất lượng nguồn lao động cũng chính lànguyên nhân hạn chế số lượng lao động được sang nước ngoài làm việc
2.1.6 Tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống
Nguồn lực lao động:
Trang 31Lao động sau khi đi xuất khẩu lao động thường có những kiến thức mới
mẻ về công việc, về giao tiếp xã hội… Đây là điều kiện thuận lợi để lao động
tự tìm công việc mới sau khi về nước Bên cạnh đó, lao động sau khi đi xuấtkhẩu có một số vốn nhất định có xu hướng tìm kiếm một công việc ổn định vàbớt vất vả hơn Họ thường xin vào các cơ quan xí nghiệp trên địa bàn hay tụ
mở xưởng sản xuất, kinh doanh mà không trở lại sản xuất nông nghiệp Nhìnchung, lao động sau khi đi xuất khẩu lao động sẽ trở nên năng động hơn, mạnhdạn đầu tư hơn Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ phận người lao động sau khi đilao động về còn có tâm lý thích nghỉ ngơi và hưởng thụ hơn
Nguồn lực tài chính:
Số vốn sau khi tích lũy được sau khi đi xuất khẩu lao động trở về thườngđược các hộ gia đình trang trải đầu tư mua sắm nhà cửa, đất đai, trang thiết bịphục vụ sản xuất, thuê mướn lao động…làm thay đổi thói quen sản xuất lạchậu trước kia Người dân đã dần chú trọng hơn việc đầu tư trang thiết bị máymóc để phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất của gia đình
b, Ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
Lợi ích mà XKLĐ mang lại là rất lớn đối với các hộ có người đi XKLĐ
Nó góp phần giải quyết việc làm cho một số bộ phận người lao động, giúpngười dân có cuộc sống ổn định và cải thiện hơn, nâng cao phúc lợi xã hội, bảođảm an ninh chính trị… Bên cạnh đó, với số vốn tích luỹ được kèm theo kinhnghiệm sản xuất và tác phong công nghiệp đã học được, người lao động khi vềnước có thể tự tạo việc làm cho bản thân mình và cho người khác
Đầu tư cho sản xuất:
Sau khi trở về nước, người lao động có thể tự tạo được một việc làm mớicho mình từ số tiền kiếm được khi đi xuất khẩu lao động bằng nhiều cách khácnhau như: Dùng số vốn đó đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, mở xưởng sảnxuất thủ công nghiệp, mở cửa hàng knh doanh… Đây là cơ sở để phát triển sản
Trang 32xuất ổn định và nâng cao thu nhập cho bản thân người lao động sau khi về quêlàm việc.
Hiệu quả sản xuất:
Trước khi đi xuất khẩu lao động, thường chỉ dựa vào sản xuất nôngnghiệp nên thu nhập của lao động rất thấp Sau khi đi xuất khẩu lao động, thunhập của người lao động đã tăng lên so với mức thu nhập cũ Cùng với mứcthu nhập cao, các hộ gia đình có thêm nguồn vốn đầu tư sản xuất, kinh doanhbuôn bán, phát triển thủ công nghiệp, tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới cholao động gia đình và địa phương
2.1.6.2 Ảnh hưởng của XKLĐ đến đời sống
Cơ sở vật chất sinh hoạt
Sau khoảng thời gian đi XKLĐ người lao động đa số đều mang về chogia đình một khoản tiền nhất định Việc sử dụng khoản tiền này để đầu tư vànhà cửa, phương tiện, cơ sở vật chất sinh hoạt, phương tiện sinh hoạt, trangtrải chi tiêu trong gia đình phụ thuộc vào cách ứng xử của mỗi hộ nhưngnhìn chung nó đã góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn hiện nay Nhiều vùngquê trở nên khang trang hơn, đời sống vật chất tinh thần được cải thiện vàthay đổi rõ rệt
Chi tiêu của gia đình:
Xuất khẩu lao động thực sự đã trở thành một giải pháp, một công cụ hữuhiệu đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và cải thiệncuộc sống cho một số bộ phận lao động nông thôn Từ khi có XKLĐ chi tiêucủa các hộ gia đình cho các sinh hoạt hằng ngày cũng thay đổi Họ có xuhướng thay đổi Xu hướng của họ thường là chi tiêu nhiều hơn cho hoạt động
ăn uống, đi lại và vui chơi giải trí
Lối sống
Xuất khẩu lao động đã mang lại lợi ích nhiều mặt cho người lao động vàcác hộ gia đình, từ khi cải thiện được cuộc sống nhiều gia đình đã vợt qua
Trang 33được khó khăn, có điều kiện nuôi dưỡng con cái ăn học và thành đạt Tuynhiên ngoài những lợi ích thì vẫn còn những hạn chế mà chúng ta không thểkhông nhắc tới, hiện nay ở nhiều vùng nông thôn xuất hiện các tệ nạn xã hộinhư rượu chè, cờ bạc, ma túy là hệ quả của việc chú trọng phát triển kinh tếkhông gắn liền với đạo đức lối sống Ngoài ra còn một số gia đình có người đixuất khẩu lao động, con em của họ thường thiếu sự quan tâm chăm sóc của bố
mẹ mà đổi lại là sự bù đắp về kinh tế, tiền bạc gây ra tâm lý thích hưởng thụ,tiêu xài hơn là việc cố gắng học tập dẫn đến tình trạng sống buông thả, bỏ bêhọc hành, sa vào các tệ nạn xã hội
Hạnh phúc gia đình
Từ khi có xuất khẩu lao động về các làng quê nông thôn nhiều gia đình
có cuộc sống sung túc đầy đủ, hạnh phúc và ấm no hơn Tuy nhiên, bên cạnhnhững gia đình đấy có không ít những gia đình phải đánh đổi bằng chính hạnhphúc gia đình mình.Thách thức lớn nhất đối với gia đình có người đi xuất khẩulao động là thiếu thốn tình cảm, dẫn đến những biến đổi về nhận thức, hành viứng xử trong quan hệ vợ chồng, ảnh hưởng đến tâm lý cũng như việc học tậpcủa con cái, sự bền vững của hôn nhân cũng bị suy giảm
Trang 34Tỉnh Vĩnh Phúc có chính sách hỗ trợ 7 triệu đồng qua hình thức hỗ trợ tiềngiáo dục định hướng, lệ phí visa, lý lịch tư pháp, giấy khám sức khỏe đối vớicác đối tượng chính sách, người bị thu hồi đất, hộ nghèo hướng người laođộng tìm những thị trường cao cấp được đào tạo bài bản.
Thời gian tới, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục tăng cường phối hợp giữa chínhquyền địa phương với các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ tuyển lao động trênđịa bàn; có chính sách hỗ trợ đối với người lao động sau khi xuất khẩu laođộng về nước đúng hạn và hỗ trợ doanh nghiệp tuyển được nhiều lao động đilàm việc ở nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia dịch vụ đưangười lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Đồng thời, tạo sự liên kếtchặt chẽ giữa doanh nghiệp xuất khẩu lao động với các trung tâm giới thiệuviệc làm, các cơ sở đào tạo nghề để đào tạo lao động có tay nghề, tính kỷ luậttrước khi đi xuất khẩu lao động
Tỉnh Vĩnh Phúc tập trung ưu tiên các đối tượng học trung cấp nghềtrong công tác xuất khẩu lao động Tỉnh chỉ đạo các địa phương, đơn vị rà soát,đánh giá nhu cầu lao động trong nước, số lao động hiện đang làm việc ở nướcngoài để có biện pháp quản lý hiệu quả, tổ chức hội nghị các doanh nghiệpdịch vụ đưa lao động đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài theo định kỳ nhằmkịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quảxuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh
Tỉnh Hưng Yên
Theo báo cáo của ngành LĐ-TB&XH, năm 2012, toàn tỉnh có hơn 2500người đi xuất khẩu lao động, tập trung ở các thị trường: Đài Loan, Nhật Bản,Hàn Quốc, Nga… Những năm qua, trung bình mỗi năm toàn tỉnh có khoảnggần 3.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài với nguồn ngoại tệthu được từ xuất khẩu lao động hàng chục triệu USD Với tốc độ xuất khẩu laođộng như hiện nay, nguồn lao động có chất lượng cao trở về từ các nước cũngngày càng tăng, XKLĐ ngày càng cho thấy hiệu quả “kép” Hầu hết người lao
Trang 35động tỉnh Hưng Yên sang các nước làm việc thực hiện tốt hợp đồng lao động.Qua đó, nhận thức, tác phong làm việc, tính kỷ luật và trình độ tay nghề đượcnâng cao Nhiều người đã được nâng lên về khả năng ngoại ngữ, kiến thứckhoa học kỹ thuật công nghệ mới…đây là hành trang cần thiết khi họ trở vềxây dựng quê hương.
Hiện có khoảng 30 doanh nghiệp đang tham gia hoạt động XKLĐ trênđịa bàn tỉnh Phần lớn lao động trên địa bàn tỉnh đi xuất khẩu lao động chưa cóviệc làm, lại khá “kén chọn” thị trường lao động Với người lao động, được đilàm việc ở một số thị trường như Nhật Bản, Úc…là “mơ ước” vì lương cao,chế độ đãi ngộ tốt và học hỏi được nhiều kinh nghiệm Đây cũng là những thịtrường được lựa chọn đầu tiên của người có nhu cầu đi XKLĐ, thậm chí nhiềungười có mong muốn “phải đi bằng được” những thị trường thu nhập cao
Tỉnh Thái Bình
Thái Bình là địa phương mà chúng ta cần phải kể tới bởi đây là mộttrong những tỉnh tham gia vào XKLĐ đầu tiên ở nước ta và có số lao động làmviệc ở nước ngoài nhiều nhất cả nước
Nghiên cứu “Tác động của XKLĐ tới cuộc sống gia đình ở tỉnh Thái Bình” của trung tâm nghiên cứu phụ nữ cho thấy XKLĐ đã trở thành một giảipháp hữu hiệu đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm vànâng cao đời sống cho người lao động, đặc biệt là ở khu vực nông thôn Nguồnlợi về kinh tế từ hoạt động xuất khẩu lao động là rất lớn đã tạo ra nhữngchuyển biến đáng kể làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện cuộc sống chonhiều hộ nông dân
Bên cạnh những mặt tích cực, xuất khẩu lao động cũng làm nảy sinhnhiều vấn đề bất cập không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người lao động màcòn chịu ảnh hưởng đến cả gia đình và cộng đồng nơi có người đi xuất khẩu
Trang 36lao động như: Mối quan hệ gia đình trở nên lỏng lẻo, tha hóa về đạo đức, tệnạn xã hội…
2.2.2 Kinh nghiệm về xuất khẩu lao động ở một số nước trên Thế giới
Philippines
Hiện nay, Philippines là quốc gia có số kiều hối chuyển về nước cao thứ
tư thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico Theo Ngân hàng Thế giới(WB), lĩnh vực xuất khẩu lao động đang đóng góp tới 12% GDP củaPhilippines với khoảng 20 tỷ USD do lao động làm việc ở nước ngoài gửi về.Philippines hiện có khoảng một triệu người ra nước ngoài lao động theo hợpđồng trong ngành công nghiệp dịch vụ
Đây là kết quả của gần 4 thập kỷ phát triển lĩnh vực hợp tác lao độngquốc tế của đất nước Đông Nam Á này Ngay từ năm 1974, Tổng thốngPhilippines Ferdinand Marcos lúc đó đã bắt đầu xúc tiến xuất khẩu lao độngkhi ông nhìn thấy cơ hội phát triển nhanh chóng của các quốc gia vùng Vịnhsau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 Trong năm 1974, đã có 35.000 ngườiPhilippines ra nước ngoài làm việc Điều này thật có ý nghĩa trong bối cảnhkinh tế của Philippines khi đó Và 35 năm sau, con số lao động Philippines làmviệc ở nước ngoài đã lên đến hơn 8,5 triệu người, chủ yếu là phụ nữ, gần bằng10% dân số và 22% dân số trong độ tuổi lao động của nước này Người laođộng xuất khẩu Philippines được đón nhận nồng nhiệt ở khắp nơi trên thế giới
vì đức tính chăm chỉ, có kỷ luật, tôn trọng hợp đồng lao động Những quốc giatiếp nhận nhiều lao động từ Philippines nhất là: Mỹ, Canada và Trung Đông ỞSaudi Arabia hiện có khoảng một triệu người lao động Philippines
Cơ quan Quản lý lao động Philippines ở nước ngoài cho biết, thị trườngnước ngoài hiện vẫn còn nhu cầu rất lớn về lao động Philippines Các cuộcđàm phán song phương với các nước tuyển dụng lao động đang tiếp tục mở ranhững cơ hội việc làm mới cho người lao động nước này Một thị trường xuấtkhẩu lao động mới mà Philippines đang hướng đến là Nga
Trang 37Theo WB, hiện nay có hơn 1/4 dân số Philippines sống dưới ngưỡngnghèo đói chính thức và một nửa dân số sát cận đói nghèo Những lao độngPhilippines làm việc ở nước ngoài đem lại một nguồn thu nhập rất quan trọngcho gia đình họ và đất nước qua các khoản kiều hối và thuế đóng cho chínhphủ nước này Ngoài việc giúp cải thiện đói nghèo, nguồn thu của lao độngxuất khẩu Philippines còn có vai trò thúc đẩy đầu tư, giảm bớt sự lệ thuộc vàocác khoản vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, cũng như viện trợ của các nướcphát triển Chính nguồn kiều hối này đang góp phần quan trọng trong việcgiảm nhẹ ảnh hưởng từ việc giá dầu tăng cao và tình hình khó khăn của kinh tếthế giới với nền kinh tế Philippines hiện nay.
Nepan
Nguồn nhân lực Nepal khoảng 10 triệu người và đang gặp phải vấn đềthiếu lao động có tay nghề Nông nghiệp sử dụng 81% nguồn nhân lực, côngnghiệp và dịch vụ 16% và chế tạo/công nghiệp thủ công 3% Các sản phẩmnông nghiệp chủ yếu tập trung tại vùng Terrai giáp biên giới với Ấn Độ gồmgạo, ngô, bột mì, mía, cây lấy rễ, sữa và thịt trâu nước Các ngành công nghiệpchủ yếu là chế biến sản phẩm nông nghiệp, gồm đay, mía, thuốc lá và ngũ cốc.Phong cảnh hùng vĩ và bí ẩn, nền văn hóa đẹp đẽ của Nepal chính là tiềm năng
du lịch to lớn, nhưng tăng trưởng trong lĩnh vực này đã gặp trở ngại bởi tìnhtrạng chính trị bất ổn gần đây Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm chiếm gầnmột nửa số dân cư ở tuổi lao động Vì thế nhiều người Nepal đã phải tới Ấn
Độ tìm việc làm, các quốc gia Vùng Vịnh và Malaysia hiện cũng là những thịtrường mới Tình trạng nghèo đói gay gắt Nepal nhận mỗi năm 50 triệu dollar
từ các binh lính người Gurkha phục vụ trong Quân đội Ấn Độ và Quân độiAnh, họ được đánh giá cao về khả năng và lòng dũng cảm Tổng số tiền gửi vềnước đạt khoảng 1 tỷ đô la Mỹ, gồm cả từ các quốc gia Vùng Vịnh vàMalaysia, tổng số người Nepal làm việc ở nước ngoài khoảng 700.000 người.Song bên cạnh đó có khoảng 15% lao động Nepal lao động và cư trú bất hợp
Trang 38pháp ở nước ngoài Lao động con người ở Nepal là mặt hàng xuất khẩu lớnnhất của nước này Công nhân Nepal thông thường ký hợp đồng hai hoặc 3năm với chủ lao động nước ngoài Số tiền mà lao động Nepal ở nước ngoài gửi
về nhà chiếm gần 25% GDP của nước này
2.2.3 Bài học kinh nghiệm
Hầu hết các nước xuất khẩu lao động mạnh ở châu Á đều có quá trìnhxuất khẩu lao động từ rất lâu đời, mà thị trường lao động có sức hút lớn là cácnước Trung Đông và gần đây là thị trường Đông Bắc Á, Đông Nam Á nơi cónhiều nước có sự tăng trưởng kinh tế cao Qua thực tiễn XKLĐ của các nước trên có thể rút ra bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất là XKLĐ cần được chính phủ đặt lên hàng đầu tập trung chỉđạo và hỗ trợ cho chương trình XKLĐ thực hiện có hiệu quả, đặc biệt trongcông tác mở rộng thị trường Đặc biệt là các thị trường mới như liên minhchâu âu EU
Thứ hai là Chính phủ khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho mọi thànhphần kinh tế (Nhà nước, tư nhân) tham gia tìm việc làm ở nước ngoài
Thứ ba là các ngành chức năng có trách nhiệm tạo mọi điều kiện chomọi tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả chương trình làm việc ở nướcngoài của mình Với chủ trương này, các doanh nghiệp XKLĐ cần phát huy
sự ủng hộ của nhà nước để tạo điều kiện cho cán bộ và người lao động thamgia vào hoạt động XKLĐ đặc biệt là công tác khai thác thị trường
Thứ tư là thúc đẩy công tác đào tạo nghề và kiến thức pháp luật chongười lao động trước khi làm việc ở nước ngoài Điều này sẽ giúp nâng caotrình độ người lao động và tăng sức cạnh tranh của nguồn lực lao động trên thịtrường thế giới
Thứ năm là Nhà nước trước hết cần có các thỏa thuận song phương vềtiếp nhận lao động với các quốc gia khác và phải xây dựng được cơ quan đại
Trang 39diện và quản lý lao động ở nước ngoài, nhằm bảo vệ người lao động và xử lýkịp thời các trường hợp xấu xảy ra thì hoạt động XKLĐ mới phát triển bềnvững và có hiệu quả.
Trang 40PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nam Cát là một xã nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Trung Bộ, vì vậycũng giống như đặc điểm chung của vùng Xã có địa hình tương đối bằngphẳng, một số ít vùng đồi núi thấp xen kẽ ruộng và các bãi bằng phẳng cùngvới sự đa dạng của khí hậu
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Nam Cát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt:xuân, hạ, thu, đông.Thời tiết và khí hậu đối khắc nghiệt Hằng năm mùa hanhkhô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng
12 Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt
Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 chiếm 70%lượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình: 25,2 °C, số giờ nắng trong năm là