1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây

52 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 6,62 MB
File đính kèm Nghien cuu anh huong du lich den moi truong.rar (6 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu Chương1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Các khái niệm, các nghiên cứu trên thế giới, các nghiên cứu tại Việt Nam Chương 2 Mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái tại khu du lịch Chùa Hương. 3.2. Hiện trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch Chùa Hương 3.3. Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương. 3.4. Giải pháp Kết luận, tồn tại, kiến nghị

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một quốc gia có tài nguyên thiên nhiên phong phú và hệ sinhthái đa dạng điển hình Đây chính là tiềm năng và thế mạnh để phát triển dulịch sinh thái Tuy nhiên du lịch ở nước ta mới chỉ dừng lại ở du lịch đại chúng

Do đó, vấn đề đặt ra là hướng hoạt động du lịch theo hình thức du lịch sinhthái, phát triển du lịch gắn với bảo vệ tài nguyên và góp phần cải thiện chấtlượng cuộc sống của cộng đồng

Khu du lịch Chùa Hương là một vùng non nước cẩm tú, sơn thuỷ hữu tình,

có cảnh đẹp nhất trời Nam Chùa Hương cũng được coi là miền đất của đạoPhật với những truyền thuyết mang ý nghĩa đặc thù, đặc biệt lễ hội ChùaHương là lễ hội dài nhất Việt Nam (bắt đầu từ tháng giêng đến tháng ba âmlịch) và thu hút được lượng khách đông nhất, lượng khách du lịch tính đến ngày06/4/2008 là 1.024.342 người Sự có mặt của du khách cùng với những hoạtđộng du lịch đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nơi đây Cần phải

có những đánh giá về hiện trạng những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đếnmôi trường để đưa ra các giải pháp khắc phục những tác động tiêu cực đến khu

Trang 2

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), 1994: “Du lịch là một tập hợp cáchoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của conngười ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi,văn hoá, dưỡng sức,…và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếmsống”

Kể từ khi được nhận ra như một hiện tượng du lịch vào những năm đầu củathập kỷ 80 (1980), du lịch sinh thái đã phát triển nhanh chóng trở thành hiệntượng có tính toàn cầu bởi nó là loại hình du lịch tự nhiên có trách nhiệm bổ trợcho các mục tiêu bảo tồn thiên nhiên

Theo Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế: “Du lịch sinh thái là du lịch đếnnhững khu thiên nhiên với trách nhiệm góp phần vào công tác bảo tồn môitrường và cải thiện đời sống của người dân địa phương”

Ở Việt Nam, theo các chuyên gia ở Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịchthì: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao

về sinh thái và môi trường, có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường vàvăn hoá, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương

Trang 3

1.2 Lược sử vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Trên thế giới

Sự phát triển của du lịch đã có tác động tích cực đến đời sống kinh tế - xãhội và nâng cao chất lượng sống của người dân ở nhiều quốc gia trên thế giới.Đặc biệt, du lịch còn được xem là cầu nối giữa các quốc gia, mang đến cho xãhội tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, và hoà bình giữa các dân tộc Tuynhiên với con số khoảng 600 triệu người đi du lịch mỗi năm đã tạo ra nhữngthách thức đáng kể cả về mặt sinh thái, kinh tế và xã hội

Về sinh thái, du lịch thiên nhiên sau đó đã để lại những quang cảnh hoangtàn Các loài thú hoang bị quấy nhiễu buộc phải rời bỏ nơi ở hoặc bị tiêu diệtdần, các cánh rừng bị tàn phá để lấy không gian cắm trại, lấy củi đốt hoặc cungcấp hàng lưu niệm…Ngày nay có nhiều du khách và chính quyền địa phươngnhận thấy tác hại của du lịch thiên nhiên đến giá trị của thiên nhiên và mốiquan tâm của nhân dân địa phương Du lịch thiên nhiên càng phát triển thìnhững rủi ro nó mang lại cho thiên nhiên và đời sống xã hội càng lớn Việc xácđịnh sức chứa của một khu du lịch vẫn đang là một thách thức lớn đối vớinhững nhà quản lý và lập kế hoạch Xác định giới hạn có thể cảm nhận sự thayđổi môi trường sống gây ra bởi hoạt động du lịch, đảm bảo tính bền vững củakhu vực…Du lịch tự nhiên phát triển đã như một loại hình du lịch đến rồi lạichạy xa vô trách nhiệm Một sự tràn vào của dòng người yêu mến thiên nhiên ởnhững điểm mới nhất, sau đó lại bỏ rơi sau khi đã khàm phá và làm suy thoái.(David Western, 1999)

Về kinh tế, các nhà quản lý du lịch, quản lý các khu bảo tồn và chính quyềnđịa phương đều có chung một điểm là họ thường xuyên tìm kiếm lợi nhuậnkinh tế từ du lịch sinh thái Tuy nhiên, trong trong những vấn đề này họ phảiđối diện với hai khái niệm: giá trị kinh tế và lợi ích kinh tế Thực tế cho thấy dulịch sinh thái đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho những người quản lý, nhữngnhà chức trách địa phương, song lại làm mất đi nguồn lợi thường nhật của

Trang 4

khai thác và cạn kiệt hơn Du lịch sinh thái đã phát triển như một loại hình cóảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng địa phương, loạihình sản xuất mà người dân luôn chịu “thiệt thòi” từ quá trình khai thác tàinguyên sinh thái.

Về xã hội, các ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá - xã hội bản địa đã trởnên khá phổ biến ở nhiều quốc gia Sự phát triển du lịch quá mức gây ảnhhưởng đến lối sống của người dân địa phương Du lịch thiên nhiên đã phát triểnnhư một nhân tố gây bất hoà trong nhân dân địa phương Nó như một nhân tố

có thể phá hoại văn hoá cổ đại và làm hỏng nền kinh tế bản địa

Du lịch sinh thái đang phát triển đã tạo ra những nguy hiểm tiềm tàng chobảo tồn nếu không có những chính sách, luật lệ và thể chế nhất định cho quản lý.Những nghiên cứu cũng chỉ ra về mặt lý thuyết những tác động của du lịchsinh thái tương đối rõ ràng Lợi ích tiềm tàng của du lịch sinh thái là tạo ranguồn kinh phí cho các khu bảo tồn thiên nhiên, thúc đẩy giáo dục môi trường

và nâng cao nhận thức về bảo tồn Nhưng cái giá trị tiềm năng phải trả là sựthoái hoá môi trường; sự không công bằng, không ổn định về kinh tế và nhữngthay đổi tiêu cực về văn hoá xã hội Điều đó làm xuất hiện những ý kiến lẫn lộn về

du lịch sinh thái Người ta cho rằng nhiệm vụ của các nhà bảo tồn là phải nhìnnhận du lịch sinh thái như một cơ hội cho bảo tồn và phát triển, và tìm ra côngnghệ quản lý nó nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực,tăng tối đa những lợi ích của du lịch sinh thái (Hector caballos - Lascurain, 1999).Những con đường thường được sử dụng để giảm thiểu tác động tiêu cựcđến môi trường của du lịch sinh thái là: giáo dục môi trường cho du khách,thiết lập những nguyên tắc chỉ đạo, thiết lập cơ chế giám sát môi trường, quyhoạch du lịch sinh thái và mở rộng sự tham gia của cộng đồng địa phương vàtăng cường vai trò của cơ quan quyền lực với quản lý du lịch sinh thái

1.2.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu về lĩnh vực du lịch ở Việt Nam đã được quan tâm nhiều từ thập

kỷ 90 của thế kỷ 20 Ngày nay, nó càng được quan tâm, trăn trở của các cấp,

Trang 5

các ngành với mục đích phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũinhọn và càng trở nên quan trọng hơn khi nó trở thành chiến lược của Quốc gia

và được nhiều người biết đến Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnhvực du lịch như: Đề tài tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam; Quy hoạch tổng thểphát triển du lịch Việt Nam; Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch ViệtNam; Tổ chức lãnh thổ du lịch; Quy hoạch du lịch Quốc Gia và vùng Nam.Những nội dung chính của quy hoạch phát triển du lịch cùng với nhiều côngtrình khác tập trung nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn của du lịch với quy

Trang 6

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

Nghiên cứu những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu

du lịch Chùa Hương, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần vào quá trình xâydựng và phát triển du lịch bền vững tại Chùa Hương

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực củahoạt động du lịch tới môi trường tại khu du lịch Chùa Hương

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu ra, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung sau:

2.3.1 Tiềm năng du lịch tại khu du lịch Chùa Hương

- Tiến hành đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên

- Tìm hiểu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn

- Các tuyến điểm du lịch

2.3.2 Hiện trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch Chùa Hương

- Cơ cấu tổ chức, tình hình nhân sự của khu du lịch Chùa Hương

- Cơ sở vật chật, kỹ thuật phục vụ du lịch

- Hiện trạng nguồn khách và doanh thu từ hoạt động du lịch

2.3.3 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương

- Ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, cụ thể là những ảnh hưởng lên cácthành phần của môi trường như: đất, nước, không khí, cảnh quan…

- Ảnh hưởng đến môi trường kinh tế, văn hoá – xã hội

2.3.4 Bước đầu đề xuất các giải pháp cho việc phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Chùa Hương

- Giải pháp kinh tế

- Giải pháp xã hội

Trang 7

- Giải pháp khoa học công nghệ.

- Giải pháp tổ chức - quản lý

- Giải pháp thể chế - chính sách

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nội dung nghiên cứu tác giả đã sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau:

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp

a Phương pháp thống kê kế thừa tài liệu

Các số liệu thống kê được khai thác từ nhiều nguồn gồm: Ban quản lý khu

du lịch Chùa Hương, Uỷ ban nhân dân xã Hương Sơn, các đề tài nghiên cứukhoa học, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài Trên cơ sở đó chọn lọc, cậpnhập thông tin tiến hành đánh giá và xử lý các vấn đề phù hợp với mục tiêunghiên cứu của đề tài

b Phương pháp điều tra thực địa

Tác giả tiến hành điều tra thực địa trên hai tuyến du lịch tiêu biểu là: tuyếnHương Tích và tuyến Tuyết Sơn nhằm nắm được đặc trưng lãnh thổ một cách

rõ ràng, đánh giá được các tác động của hoạt động du lịch đến với môi trườngtại khu vực thông qua:

* Quan sát trực tiếp: Trong quá trình điều tra, tác giả đã luôn quan sát cảnhquan thiên nhiên như các chỉ thị sinh học,…; điều kiện cơ sở hạ tầng như: hệthống giao thông, điện lưới, cấp thoát nước, cơ sở lưu trú,…trong khu vực

* Phỏng vấn:

+ Đối tượng phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn, thăm dò ý kiến từ nhiều đốitượng khác nhau như: khách du lịch, cán bộ nhân viên trong khu du lịch ChùaHương, cộng đồng dân cư địa phương

+ Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn thông qua trao đổi trò chuyện

Trang 8

+ Mẫu điều tra là khác nhau đối với các đối tượng khác nhau:

Khách trong nước: 50 mẫu

Khách nước ngoài: 30 mẫu

Người dân địa phương, nhà quản lý: 30 mẫu

+ Thời gian điều tra: Đề tài tiến hành điều tra trong thời gian một thángthực tế tại khu vực tuyến Hương Tích, tuyến Tuyết Sơn, các quầy dịch vụ, địabàn dân cư xã Hương Sơn; mẫu biểu điều tra ở phần phụ lục

* Xác định khối lượng cụ thể của từng loại rác thải sau khi đã tiến hànhphân loại rác thành rác thải vô cơ và rác thải hữu cơ tại điểm tập trung rác củacác điểm du lịch chính là: Đền Trình, Chùa Thiên Trù, Động Hương Tích

* Lấy mẫu nước suối phân tích

+ Mục đích: Lấy mẫu nước phân tích để xác định tính thích hợp của suốicho hoạt động du lịch sinh thái

+ Vật liệu lấy mẫu là: bình polyetylen, dung tích 500ml

+ Phương pháp lấy mẫu: lấy mẫu dưới bề mặt, nhúng trực tiếp bình chứamẫu xuông suối cách mặt nước 30cm

+ Thời gian và địa điểm lấy mẫu: Tác giả tiến hành lấy mẫu làm 2 lần trên

2 suối tại khu du lịch Chùa Hương là: suối Yến vào các ngày 02/3/2008

Vì 2 suối trên có chiều dài khoảng 3 km nên tại mỗi suối lấy 9 mẫu tại 3 điểm.+ Bảo quản mẫu: mẫu sau khi lấy xong được bảo quản trong bình đựng đá

ở nhiệt độ 4ºC Sau đó mẫu được vận chuyển về phòng phân tích của trườngĐại học Lâm nghiệp để tiến hành phân tích

d Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA)

PRA là tập hợp các kỹ thuật và cách tiếp cận cho phép cộng đồng chia sẻ

và nâng cao và phân tích kiến thức của họ về cuộc sống và môi trường xungquanh đồng thời tự lập kế hoạch và hành động

Trang 9

Trong phương pháp PRA, sự hiểu biết của người trong cuộc được lấy làmđiểm khởi đầu Vì vậy, người điều tra phải có phương pháp tiếp cận khôn khéo

để những hiểu biết này được trình bày một cách tự nguyện không áp đặt

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp

a Phương pháp phân tích, tổng hợp các thông tin

Phương pháp này được thực hiện thông qua tổng hợp các nguồn tài liệu, số liệu,kết quả điều tra xã hội học, điều tra thực địa, phân tích để thấy được mức độ phứctạp của lãnh thổ từ đó xác định được tính toàn vẹn để thấy được sự ảnh hưởng của

du lịch đến tài nguyên môi trường, cộng đồng dân cư tại khu du lịch Chùa Hương

b Phương pháp tính điểm cho các tác động dựa theo thang điểm của Likert.Tác động của du lịch sẽ được là rõ bằng cách tính điểm trung bình cho cáccâu trả lời của người dân về tác động của du lịch đến từng yếu tố theo thang điểmLikert Các câu trả lời cho các tác động của du lịch đến từng yếu tố sẽ tương ứngvới thang điểm 5 của Likert với điểm thấp nhất là -5 và cao nhất là +5 Theo đó,tác động rất xấu ứng với -5 điểm, tác động xấu tương ứng với -2,5 điểm, không cótác động gì (không ảnh hưởng) ứng với điểm 0, tác động tốt ứng với 2,5 điểm vàtác động rất tốt ứng với 5 điểm Các câu trả lời không biết (không có câu trảlời) không được tính trong phần điểm trung bình

Dựa vào điểm trung bình của mỗi yếu tố có thể biết được tác động của dulịch đến yếu tố ấy ở mức độ nào, theo hướng tích cực hay tiêu cực Giá trị tuyệtđối của điểm trung bình càng lớn chứng tỏ tác động của du lịch tới yếu tố đócàng lớn Điểm trung bình là số dương chứng tỏ tác động của du lịch là tích cực

và ngược lại là tiêu cực

Trang 10

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tài nguyên du lịch sinh thái tại khu du lịch Chùa Hương.

Cái đẹp của quần thể di tích Hương Sơn được tác thành bởi nhiều yếu tố:

Khu du lịch Chùa Hương lại nằm trong một vùng có nhiều điểm du lịchhấp dẫn của tỉnh Hà Tây như: Chùa Thầy, Chùa Tây Phương, Vườn Quốc gia

Ba vì, khu du lịch sinh thái Quan Sơn,…

Với vị trí này, Chùa Hương có điều kiện rất thuận lợi để thu hút kháchtham quan, đặc biệt là nguồn khách từ Hà Nội Ngoài ra có thể kết hợp với cácđiểm du lịch lân cận tạo thành các tua du lịch hấp dẫn

b Địa hình, địa mạo

Khu du lịch Chùa Hương là phần cuối của hệ thống núi đá vôi Sơn La - MộcChâu Độ cao khu vực dao động từ 20m đến 381m (đỉnh núi Cái Bà Lồ) Sự chiacắt mạnh mẽ cùng với những vách núi dựng đứng của các núi đá vôi tạo nên một

ấn tượng núi non hùng vĩ Mật độ chia cắt ngang dày đặc và khá sâu, tạo nên trongbản thân khối núi những dãy chuỗi và các khối nhỏ riêng biệt dạng tháp và thápcụt liên kết với nhau trên nền cánh đồng phù sa có giá trị thắng cảnh hấp dẫn.Địa hình địa mạo Hương Sơn được tạo nên do 2 nhóm yếu tố chủ yếu baogồm: nhóm địa hình Kaster là quá trình hoà tan của đá vôi cùng với các quátrình cơ học khác sự đổ vỡ, sự xâm thực và xói mòn Nhóm địa hình có nguồngốc sông là đồng bằng Aluvi tưởng bãi bồi bằng phẳng, thành phần trầm tíchchủ yếu là sét, sét pha và cát pha Đây là khu vực hình thành những loại đất có

Trang 11

độ phì cao thích hợp với nhiều loại cây trồng trong khu vực Hai nhóm yếu tốtạo trên liên quan trực tiếp tới sự hình thành khối núi Hương Sơn Bao gồm cácKaster mặt và ngầm Vì vậy đã tạo nên các cụm hang động như: Hương Tích,Long Vân Các hang động vùng Hương Sơn chủ yếu là hang động ngắn theodạng mái đá phát triển trên bề mặt và dọc khe nứt, tạo thành các hang hìnhvòm Trầm tích hang động ở đây chủ yếu là các thành phần tạo nhũ đá, măng

đá, cốt đá Do vậy tạo thành nhiều hình thù kỳ dị có giá trị trang trí cho cáchang động, làm cho chúng trở nên vô cùng hấp dẫn Ngoài ra vùng giáp ranhđồng bằng phù sa còn có các hang động thành tạo do cát, sét, sỏi sạn Phần nềnhang đá được tạo dựng lâu đời vào giai đoạn người cổ đại sinh sống

c Địa chất, thổ nhưỡng

Theo những kết quả nghiên cứu địa chất cho thấy cấu trúc địa chất HươngSơn được xếp vào đời cấu trúc kiến tạo Ninh Bình (Dovjikov, 1965) Toàn bộkhối núi được cấu tạo bởi đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao, được xếp vào bậcAnizi Phần dưới mặt cắt gần đá vôi phân lớp mỏng đến rất mỏng, phần giữa làlớp đá vôi dày, khối tảng lớn màu xám loang lổ, xám sẫm đến vàng ngà Đá giòn,

dễ vỡ Tổng chiều dày của đá vôi này tới 1800 - 2000 m (Trần Văn Trị, 1977).Đất ở Hương Sơn có nguồn gốc chính từ núi đá vôi và phù sa sông Đáy.Các quá trình ảnh hưởng trực tiếp lên bề mặt thổ nhưỡng hiện tại là quá trìnhrửa lũ, xói mòn, sụt lở, tích tụ ở núi đá vôi và quá trình bồi đắp cửa sông Cácsản phẩm phong hoá của đá vôi thông qua quá trình feralitic và quá trình ngoạisinh tạo nên sự đa dạng của các loại đất trong khu vực: đất phù sa không đượcbồi, đất phù sa glây, đất phù sa úng nước, đất than bùn, đất đen trên sản phẩmbồi tụ của cacbonat, đất đỏ nâu trên đá vôi

Các loại đất trên phân bố ở hai dạng địa hình núi và đồng bằng, đó là điềukiện tốt để phát triển nhiều loại cây ăn quả, cây đặc sản và thực vật tự nhiênkhác nhau, nó góp phần tạo nên sự đa dạng cảnh quan địa lý khu vực

Trang 12

- Lượng mưa bình quân năm là 1.520,7 mm, phân bố trong năm không đều,mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm.Lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1 mm Mùa khô từ cuối tháng 10, đầutháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng ít mưa nhất trong năm là tháng 12, tháng 1

và tháng 2 chỉ có 17,5 - 23,2 mm

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.630,6 giờ

- Lượng bốc hơi bình quân năm là 859 mm Lượng bốc trong các tháng mưa ítcao, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu hơn, tuy nhiên do hệ thống thuỷlợi tương đối tốt nên ảnh hưởng không lớn lắm đến cây trồng vụ đông xuân

- Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%, giữa các tháng trong năm biếnthiên từ 80 - 89%

- Gió: Hướng gió thịnh hành về mùa khô là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11đến tháng 3 năm sau, còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Nam, gió TâyNam và gió Đông Nam

Bảng 01: Các chỉ tiêu khí hậu tại khu du lịch Chùa Hương

Thông số Kết quả đo Chỉ tiêu khí hậu sinh

học đối với con người Ý nghĩaNhiệt độ TB năm

Thích nghi Nhiệt độ TB tháng nóng nhất

Trang 13

Qua bảng trên ta thấy khí hậu của khu du lịch Chùa Hương rất thuận lợi để

tổ chức hoạt động du lịch

e Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt chính của Hương Sơn là sông Đáy ở Đông Bắc xã và các hồ,suối ven núi Hệ thống kênh mương và các trạm bơm cũng góp phần giúp xã cónguồn nước mặt phong phú quanh năm phục vụ sản xuất, sinh hoạt, du lịch

Ước tính hàng năm tổng lượng nước mưa thu được ở Hương Sơn chừng 8,4triệu m3 nước (không kể dòng chảy vào từ ngoài lưu vực) Trong đó lượg nướcbốc hơi từ mặt đất và từ thực vật trở lại khí quyển chừng 4 triệu m3, còn 4,4 triệu

m3 hoặc tràn trên bề mặt hoặc chuyển xuống thành dòng chảy ngầm đều dồn vềsuối Yến Đây là lượng nước ngọt không lớn nhưng nó rất có ý nghĩa đối với sựphát triển khu vực Chúng được sử dụng cho tưới ruộng vườn, nuôi trồng thuỷsản, cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ vận tải thuỷ và dịch vụ du lịch sinh thái…Theo thống kê của Ban tổ chức Chùa Hương, hàng năm tài nguyên nướcđem lại cho người dân Hương Sơn hàng tỷ đồng nhờ phát triển vận tải thuỷ và

có thể khai thác được một số loài phổ biến sau:

+ Cây quý hiếm: Và (Fraxinus chinensis), Vành Vạch (Tapiscia sinuensis), Sưa (Dalbergia tonkinensis), Nhò Vàng (Dimerocapus brenieri), Lát Hoa (Chukrasia tabularis).

Trang 14

+ Cây làm thuốc: Thạc Hộc (Đernobium SP), Thạc xương bồ (Acorusgramincus

Soland), Dứa dại (Pandanus tec-torius), Cẩu tích (cây lông cu li) (Cibotium Bermetz), Lá

lốt (Piperlotot CDC), Cây xộp (Fucus pimula)

+ Cây làm cảnh: Đùng đình Bắc sơn (Cryota bacsonensis), Gạo, Chua me hoa tím (Oxalis martiana)…

+ Cây đặc sản: Mơ (Prunus mune), Rau Sắng (Melientho navifierre), Củ mài,

Kim ngân…

* Hệ động vật

Kết quả điều tra khảo sát ở Hương Sơn đã phát hiện có 88 loài chim thuộc

37 họ và 15 bộ, có 35 loài bò sát thuộc 16 họ và 3 bộ, 32 loài thú thuộc 17 họ

và 7 bộ Nhìn chung khu hệ động vật Hương Sơn là nghèo nàn về số loài và sốlượng cá thể loài do khu vực này có ranh giới nhỏ hẹp, lại là sinh cảnh củavùng núi đá bị cách biệt và bao bọc dân cư Tuy nhiên xét về tài nguyên độngvật vùng Hương Sơn lại có ý nghĩa khá độc đáo

Những loài động vật quý hiếm: Về chim, hiện nay Hương Sơn chỉ còn sótlại 1 loài động vật quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới là

Gà lôi trắng (Lophura nyethemra) Trước kia nhân dân còn cho biết trong vùngcòn có Công, Trĩ sao, Gà tiền Về lưỡng cư, bò sát có 10 loài quý hiếm, gồm:Trăn đất, Tắc kè, Kỳ đà nước, rắn ráo, rắn cạp nong, rắn hổ mang trâu Về các

loài thú có 8 loài được đưa vào sách đỏ như: Báo hoa mai (Panthera Pardus), Báo gấm (Neoflis nebulosa), Beo (Felis temmicki), Vượn đen (Hylobates

concolor), Voọc quần đùi trắng, Rái cá (Luta luta), Hổ (Pathera tigris).

Những loài động, thực vật tại khu du lịch Chùa Hương là yếu tố quan trọng

để hấp dẫn du khách đến du lịch tuy nhiên hiện nay các loài đang đứng trướcnguy cơ tuyệt chủng, rừng Hương Sơn đang bị suy thoái sinh học

3.1.2 Văn hoá

Hương Sơn với tư cách là một quần thể các di tích lịch sử văn hoá bao gồmnhiều loại di tích khác nhau mà chính sức lao động sáng tạo của người bao đời nay

Trang 15

đã làm cho thiên nhiên ở vùng Hương Sơn có thêm sinh lực, mang sức sống củacon người, tạo nên giá trị trường cửu cho quần thể thắng cảnh di tích này.

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các di tích khảo cổ học thuộc giai đoạnvăn hoá Hoà Bình nổi tiếng của thời đồ đá Đông Nam Á như hang Sũng Sàm,hang Sập Bom, hang Chùa Mới…Bên cạnh các di tích thời đồ đá, các nhà khảo

cổ học còn phát hiện được các di tích và di vật thời đồ đồng, đồ sắt - nhữngbằng cớ xác đáng chứng minh sự tồn tại và phát triển liên tục của con người ởvùng đất này

Đó là tổ tiên của người Mường ở vùng Hương Sơn, Mỹ Đức giáp với LạcThuỷ - Hoà Bình hiện nay

Sau khi đạo Phật truyền bá và phổ cập vào Việt Nam, Hương Sơn dần dầntrở thành một trong những trung tâm Phật giáo và không ngừng được tu bổthành quần thể kiến trúc tôn giáo Theo tâm thức dân gian đây là nơi tu hànhđắc đạo của Bà Chúa Ba, hoá thân Phật Bà Quan Âm, một biểu tượng đẹpmang bản sắc về truyền thống văn hoá Việt Nam

Một khi tâm thức của con người càng cao thì nhu cầu và hứng thú văn hoá dulịch càng lớn Phát triển tiềm năng văn hoá cho du lịch đã khó, song biến tiềmnăng đó trở thành sản phẩm của văn hoá du lịch còn khó hơn Hương Sơn đã chochúng ta khả năng đó do vậy các nhà quản lý du lịch Hà Tây nói chung và khu dulịch Chùa Hương nói riêng cần sớm có quy hoạch phát triển khu văn hoá nàynhằm bảo vệ và khai thác tốt nhất tiềm năng du lịch tự nhiên và văn hoá nơi đây

3.1.3 Các tuyến điểm du lịch.

Quần thể thắng cảnh Chùa Hương bao gồm 18 đền, chùa, hang động nằmrải rác ở 4 thôn: Yến Vỹ, Đục Khê, Hội Xá và Phù Yên thuộc địa phận xãHương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây Các chùa động ở đây phần lớn đượcphát hiện và xây dựng vào các thế kỷ XVII, XVIII và XIX Đa số dựa vào sườnnúi hoặc nằm dưới thung lũng, những nơi có địa thế đẹp để kiến tạo

Trang 16

Ảnh 01: Sơ đồ thắng cảnh khu du lịch Chùa Hương

(Nguồn: Ban quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn)

Mười tám điểm được chia thành bốn tuyến như sau:

1 Tuyến Hương Tích có 8 di tích là: Động Hương Tích, chùa Thiên Trù,đền Trình Ngũ Nhạc, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng, chùa Tiên Sơn,chùa Hinh Bồng và động Đại Binh

2 Tuyến Thanh Hương gồm: chùa Thanh Sơn và động Hương Đài

3 Tuyến Long Vân gồm: chùa Long Vân, động Long Vân, động Cây Khế,hang Thánh Hoà

4 Tuyến Tuyết Sơn gồm: chùa Bảo Đại, động Ngọc Long, chùa Ngự Trì(chùa Cá), đền Trình Phú Yên

*Động Hương Tích

Động này vốn có từ thời kỳ vận động tạo sơn, được phát hiện vào thế kỷ XI

và đưa vào thờ phật năm 1687 Phật thoại truyền rằng: Đức Quán Thế Âm Bồtát ứng thân làm công chúa Diệu Thiện, con vua Diệu Trang Vương ở nướcHương Lâm, tu hành 9 năm và thành đạo quả ở động này nên đặt tên là HươngTích Đặc biệt ở đây có pho tượng Phật bà Quan Âm bằng đá xanh tạc thời TâySơn và hàng vạn nhũ đá nhấp nhô với biết bao hình thù kỳ lạ Thuyết phong

Trang 17

thuỷ cho rằng: Động Hương Tích là con rồng chúa đang há miệng vờn ngọc.Đây là điểm chính của khu thắng cảnh, thu hút 100% du khách đến thăm quan,thường gọi là chùa chính.

* Chùa Thiên Trù

Được khởi dựng từ thời Lê Thánh Tông, năm Đinh Hợi (1467) niên hiệuQuang Thuận, thứ 8 Đến niên hiệu Chính Hoà năm thứ 7 (1686), Hoà thượngTrần Đạo Viên Quang tái thiết Đến năm 1942 thì toàn bộ công trình hoànchỉnh trở thành một lâu đài tráng lệ “Biệt chiếm nhất nam thiên”

Hiện nay, với quần thể kiến trúc nguy nga, hoành tráng, khiến Thiên Trùtrở thành trung tâm của thắng cảnh Hương Sơn

* Chùa Thanh Sơn - Động Hương Đài

Chùa Thanh Sơn nằm bên suối Yến Trong động có rất nhiều nhũ đá đẹp ChùaThanh Sơn được hình thành từ năm Canh Thân (1860) trên đất mà theo truyềnthuyết phong thuỷ là thế đất phượng hoàng ẩm thuỷ Chùa Thanh Sơn - ĐộngHương Đài là một thắng cảnh đẹp trong khu danh thắng Chùa Hương

* Chùa - Động Long Vân.

Chùa Long Vân ở lưng chừng núi với ngọn tháp, mái chùa ẩn hiện trong cảnh

“sương mây” Hương Sơn kỳ ảo Qua eo núi chùa Long Vân thì đến Động Long Vân,động có một hang sâu gọi là động âm dưới hang này có nhiều nhũ đá hình thù rất lạ

* Chùa Bảo Đại - Động Tuyết Sơn

Động Tuyết Sơn ở trên thế cao lưng chừng núi cửa động có khắc ba chữ

“Ngọc long Động” Mùa xuân năm Canh Dần (1770) chúa Trịnh Sâm tuần duphương nam trẩy hội Chùa Hương qua chùa Bảo Đại có đề khắc những chữ

“Kỳ sơn tú thuỷ”, “Bạch tuyết môn”, “Ngọc long động”

3.2 Hiện trạng hoạt động du lịch tại khu du lịch Chùa Hương

3.2.1 Tình hình nhân sự và cơ cấu tổ chức tại khu du lịch Chùa Hương.

Ban quản lý khu du lịch Chùa Hương trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện

Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức biên chế của Uỷ ban

Trang 18

nhân dân huyện Đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên ngành của Sở Vănhoá thông tin và Sở Du lịch tỉnh Hà Tây.

Tổng số lao động trong Ban quản lý gồm 48 người, trong đó biên chế chínhthức là 10 người và 38 cán bộ hợp đồng dài hạn

Ban quản lý khu du lịch Chùa Hương có 1 Trưởng ban và 2 Phó trưởngban, bộ máy giúp việc được thành lập theo mô hình các Tổ công tác

Hìn

h 01: Cơ cấu tổ chức quản lý của Ban quản lý khu du lịch Chùa Hương

Nhân viên hợp đồng trong Ban quản lý chỉ học qua nghiệp vụ du lịch hoặc làlao động phổ thông Trong 4 hướng dẫn viên du lịch của Ban quản lý chỉ có 1 ngườiđược đào tạo chính quy Trình độ nhân viên trong Bản quản lý gần như không cókhả năng giao tiếp đây là yếu tố hạn chế việc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

3.2.2 Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ du lịch.

a Hệ thống giao thông

Hương Sơn là trung tâm giao lưu kinh tế giữa miền núi và đồng bằng, có hệthống giao thông thuận lợi, có đường bộ, đường sông Đường sông có 8 km sôngĐáy chảy bao quanh, đường bộ từ Hà Nội qua Hà Đông đến tận Yến Vỹ khoảng60km với mật độ đường đạt 10,7 km/km2, khá thuận lợi cho đi lại và giao lưu hànghoá

b Hệ thống cấp thoát nước

Hiện nay nước dùng cho sinh hoạt tại các khu nhà nghỉ và dịch vụ ở ngoài bếnYến là nước ngầm được các hộ kinh doanh khai thác, chất lượng nước ở đâytương đối tốt Tuy nhiên nước thải sau quá trình sử dụng được thải trực tiếpxuống suối Yến, điều này gây ô nhiễm nguồn nước mặt Tại các điểm du lịch,

- Tuyết Sơn

Tổ nghiệp

vụ kiểm tra

Tổ quản

lý khách

Tổ hành chính

lễ hội

Trang 19

nước được lấy từ suối ven núi theo đường ống dẫn cung cấp cho các hàng quánkinh doanh, nước ở đây bị ô nhiễm về mặt sinh học Nước thải cũng không qua

xử lý được thải trực tiếp ra môi trường

c Hệ thống cấp điện và mạng lưới thông tin liên lạc

Hệ thống cấp điện của khu du lịch Chùa Hương được cung cấp bởi hệ thốngđiện lưới quốc gia, đảm bảo thuận tiện cho nhu cầu phục vụ các hoạt động du lịch

Do sự phát triển của của ngành bưu chính nên ở đây hệ thống liên lạc tươngđối dễ dàng Đây là một thuận lợi cho phát triển du lịch, liên kết các ngành, cácdoanh nghiệp kinh doanh du lịch và quảng bá về khu du lịch

d Cơ sở lưu trú

Theo thống kê của Uỷ ban nhân dân xã Hương Sơn, hiện nay có khoảng 70

cơ sở lưu trú, trong đó có 8 cơ sở của nhà nước còn lại của tư nhân Nhìn chungchất lượng phòng của các khách sạn, nhà nghỉ chưa cao, xây dựng không cóquy hoạch, kiến trúc tự do tuỳ tiện không hài hoà với cảnh quan thiên nhiên.Vào mùa lễ hội, lượng khách du lịch quá lớn đã xảy ra tình trạng quá tải

e Cơ sở dịch vụ ăn uống và bán hàng

Dịch vụ ăn uống bước đầu đã đáp ứng yêu cầu của khách, ban tổ chức yêucầu các chủ cửa hàng phải có đăng ký trước và cam kết bảo đảm an toàn thựcphẩm, các hàng ăn đều phải có tủ kính đựng thức ăn

Các điểm bán hàng nhiều nhưng qua khảo sát có rất ít hàng bán đồ lưuniệm, sách giới thiệu về khu du lịch Chùa Hương

f Y tế

Trong vùng có 1 trạm xá, cơ sở vật chất tương đối khang trang Tại cácđiểm du lịch có bố trí lực lượng các bác sĩ thường trực tại: động Hương Tích,Thiên Trù, chùa Thanh Sơn, Long Vân, Tuyết Sơn, sẵn sàng cấp cứu bệnh nhântại chỗ Chuẩn bị xuồng cấp cứu khi có bệnh nhân cần chuyển ra tuyến ngoài

3.2.3 Hiện trạng nguồn khách và doanh thu từ hoạt động du lịch.

a Khách du lịch

Trang 20

Lễ hội Chùa Hương là mùa lễ hội dài nhất trong năm và thu hút được lượngkhách đông nhất cả nước Theo thống kê của Ban quản lý Chùa Hương cho thấy:

Bảng 02: Số lượng khách du lịch đến khu du lịch Chùa Hương

Biểu đồ 01: Số lượng khách đến khu du lịch Chùa Hương

Qua biểu đồ ta thấy năm 2007, số lượng khách nội địa đến khu du lịch tăngđột biến do một số nguyên nhân sau:

+ Giao thông thuận tiện, tình trạng ách tắc giao thông giảm

+ Du lịch văn hoá lễ hội đã trở thành nhu cầu lớn của con người

Bạn bè/

Người thân

Quảng cáo/ Sách hướng dẫn du lịch

Trang 21

Điều này cho thấy công tác quảng bá du lịch của khu du lịch còn nhiều hạnchế.

Hoạt động du lịch ở khu du lịch Chùa Hương có tính mùa vụ rõ rệt, tậptrung chủ yếu vào 3 tháng đầu năm Qua quá trình điều tra phân tích và thống

kê cho thấy rằng du lịch sinh thái chưa thực sự phát triển tại Chùa Hương Phầnlớn du khách đến đây để hành hương lễ phật (chiếm 82%) Các hoạt động tìmhiểu thiên nhiên, môi trường, nền văn hoá bản địa lại chưa thực sự phát triển.Đây là thiếu sót lớn của hoạt động quản lý du lịch Chùa Hương, bởi tiềm năngtài nguyên thiên nhiên và nhân văn ở đây là rất phong phú và độc đáo

b Doanh thu từ hoạt động du lịch

Bao gồm tất cả các khoản thu mà du khách đã chi trả như: doanh thu từ lưutrú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm, vé thắng cảnh, bưu điiện, y tế,…Thể hiện ởbiểu sau:

Bảng 04: Doanh thu của hoạt động du lịch tại khu du lịch Chùa Hương

Tổng doanh thu

(Triệu đồng)

(Nguồn: Bản quản lý khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn)

3.3 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương.

Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, sự tồn tại vàphát triển của nó gắn chặt với tài nguyên và môi trường Môi trường, tài nguyênthiên nhiên, nhân văn phong phú là yếu tố cơ bản để thu hút khách du lịch, tạo điềukiện cho du lịch phát triển Hoạt động phát triển du lịch gây ảnh hưởng đến môitrường, bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên và các yếu tố môi trường xã hội

3.3.1 Ảnh hưởng lên môi trường tự nhiên.

a Ảnh hưởng tích cực

Trong điều kiện đô thị hoá ngày càng cao, công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 22

ham muốn tìm đến những nơi môi trường tự nhiên còn nguyên sơ và nền vănhoá còn nguyên bản

Bảng 05: Điểm trung bình cho các câu trả lời của người dân về tác động tích cực của du lịch đến môi trường tự nhiên tại khu du lịch Chùa Hương

Yếu tố

Rất xấu (Số phiếu)

Xấu (Số phiếu)

Không ảnh hưởng (Số phiếu)

Tốt (Số phiếu)

Rất tốt (Số phiếu)

Không biết (Số phiếu)

Điểm trung bình

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, đề tài thực hiện năm 2008)

Việc tiếp xúc thường xuyên với khách du lịch, mở các lớp tập huấn vềLuật Bảo vệ di sản văn hóa cho cán bộ và nhân dân trong xã, tập huấn vềnghiệp vụ du lịch, thái độ đón tiếp phục vụ khách trong mùa lễ hội đã tạo chongười dân địa phương học hỏi và nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của môitrường từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân (+3,08)

Sự đa dạng về các loài động thực vật trong hệ sinh thái rừng Hương Sơn đãgiúp con người gần gũi với thiên nhiên, với các loài động thực vật, từ đó họnhận ra giá trị to lớn của hệ sinh thái rừng, ý thức được trách nhiệm bảo tồnthiên nhiên và bảo vệ các loài động vật hoang dã (+1,29)

Qua đây, có thể thấy nếu ta khai thác du lịch một cách hợp lý thì nhữngđóng góp từ hoạt động du lịch để giữ gìn và cải thiện môi trường sinh thái khu

du lịch Chùa Hương là đáng kể

Trang 23

b Ảnh hưởng tiêu cực

* Ảnh hưởng đến môi trường đất, cảnh quan

Hình 02: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường đất

Lượng khách du lịch gia tăng dẫn đến tăng áp lực về chất thải sinh hoạt.Thực tế hiện nay, chỉ khoảng 70% lượng rác thải được thu gom xử lý Số cònlại được thải ra các thung lũng gây ảnh hưởng đến kết cấu đất, làm ô nhiễm đất

Do địa hình vận chuyển khó khăn nên biện pháp xử lý chủ yếu ở đây là đốt tậptrung tại các đền Việc xử lý này thường xuyên với lượng rác lớn, thời gian đốtlâu sẽ làm cho đất bị ô nhiễm nhiệt, thoái hoá…Các hoạt động nướng thịt thúrừng hai bên đường dọc các tuyến du lịch cũng tương tự

Hiện tượng một số người dân kém hiểu biết đã tự ý nổ mìn, phá đá nhằm tạo racác hang mới để thu phí của du khách làm phá vỡ kết cấu đất, cảnh quan nơi đây.Vào mùa lễ hội, tình trạng quá tải thường xuyên xảy ra đã hình thành cáccon đường mòn ven đường đi trên núi gây hiện tượng đất bị nén chặt, gây nênxói mòn, rửa trôi phá vỡ các bậc đá Tác động này biểu hiện rõ ở tuyến TuyếtSơn nơi có độ dốc cao

Phát triển du lịch kéo theo việc xây dựng kết cấu hạ tầng, khách sạn, nhànghỉ và các công trình dịch vụ du lịch Điều này đã dẫn đến việc xâm lấn cácdiện tích đất trước đây là những cảnh quan thiên nhiên, những khu đất canhtác…để chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác làm cho đất đai bị khô cằn đi

Đất bị suy thoái

Xói mòn Sụt lở Kết cấu đất bị thay đổi Ô nhiễm đất

Trang 24

Nước bị suy thoái

khai thác lâm sản cũng là nguyên nhân làm cho diện tích rừng giảm, tốc độdòng chảy mặt lớn gây nên hiện tượng sụt lở đất, xói mòn về mùa mưa lũ…Qua khảo sát thực tế kết hợp với phỏng vấn cán bộ trong ban quản lý khu

du lịch Chùa Hương thì lượng nước thải ra không qua bất cứ biện pháp xử lýnào mà được ngấm trực tiếp xuống đất là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm đất

* Ảnh hưởng đến môi trường nước

Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường nước thể hiện ở việc làmgiảm trữ lượng nước và ô nhiễm nguồn nước

Hình 03: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường nước

Do các tuyến điểm du lịch trong khu du lịch Chùa Hương chủ yếu là ởnhững nơi có địa hình núi cao, lượng nước phân bố không đếu so với vùngchân núi nên vào mùa lễ hội, lượng khách đông, nhu cầu sử dụng nước khoảng

145 lit/khách/ngày nên nguồn nước phục vụ cho du lịch còn hạn chế Một phầndiện tích rừng bị mất đi do phát triển các cơ sở vật chất phục vụ du lịch như:xây dựng nhà hàng, khách sạn, tạo ra các tuyến đường…và lấy gỗ làm các đồlưu niệm, chặt cây để làm gậy, đốt củi,…làm giảm khả năng giữ nước bề mặt,điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến trữ lượng nước của khu vực

Hoạt động du lịch còn tạo ra lượng nước thải lớn Theo Ban quản lý khu dulịch Chùa Hương thì nước thải từ hoạt động du lịch: từ nhà hàng, khách sạn, từcông trình vệ sinh được thải trực tiếp ra môi trường không qua biện pháp xử lý.Nước thải ra sẽ ngấm xuống tầng nước ngầm và các thuỷ vực lân cận, đây lànguồn chính gây ô nhiễm nguồn nước

Trang 25

Ảnh 02: Nước thải tại Đền Trình Ảnh 03: Rác trên suối Yến

(Nguồn: Tác giả chụp, 2008)

Dọc suối Yến (từ bến Yến vào bến Đục) cứ 500 m lại có biển báo nhắc nhở

du khách cùng bảo vệ môi trường, có 4 thuyền chuyên làm nhiệm vụ vớt rác, mỗithuyền chở khách đều có sọt đựng rác nhưng hiện tượng rác thải trên thuyền vàtrên mặt suối vẫn còn, đây cũng là nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn nước mặt

Ảnh 04: Thuyền vớt rác trên suối Yến Ảnh 05: Rác thải trên thuyền

(Nguồn: Tác giả chụp, 2008)

Bảng 06: Kết quả phân tích nước suối Yến ngày 02/3/2008

TT Thôngsố Đơnvị Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3 Quy chế bảo vệ môitrường du lịch

Trang 26

Ghi chú: Điểm 1: 20º36’32N; 105º46’45E

Điểm 2: 20º36’17N; 105º45’53E

Điểm 3: 20º37’02N; 105º45’05E

Bảng 07: Kết quả phân tích nước suối Tuyết Sơn ngày 09/3/2008

TT Thôngsố Đơnvị Điểm 1 Điểm 1 Điểm 3 Quy chế bảo vệ môitrường du lịch

(Nguồn: Phòng phân tích môi trường - Đại học Lâm Nghiệp, 2008)

Ghi chú: Điểm 1: 20º36’33N; 105º47’11E

vụ của các hộ trên địa bàn đã thải trực tiếp xuống lòng suối gây mùi khó chịu, nước

có màu xanh, đặc biệt có vi sinh vật sống trong nước Một khảo sát của Sở Khoahọc công nghệ và Môi trường Hà Tây cho thấy: Các nguồn nước ở Chùa Hươnghầu hết bị ô nhiễm sinh học Nước bán ở những quán ven đường có lượng vi khuẩnđường ruột vượt quá nhiều lần cho phép của nước sinh hoạt ô nhiễm nặng

*Ảnh hưởng đến môi trường không khí

Không khí

Giao thông

Công trình

vệ sinh

Rác thảiXây

dựng

Ngày đăng: 31/01/2016, 23:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Các chỉ tiêu khí hậu tại khu du lịch Chùa Hương - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 01 Các chỉ tiêu khí hậu tại khu du lịch Chùa Hương (Trang 12)
Ảnh 01: Sơ đồ thắng cảnh khu du lịch Chùa Hương - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
nh 01: Sơ đồ thắng cảnh khu du lịch Chùa Hương (Trang 16)
Bảng 02: Số lượng khách du lịch đến khu du lịch Chùa Hương - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 02 Số lượng khách du lịch đến khu du lịch Chùa Hương (Trang 20)
Hình 02: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 02 Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường đất (Trang 23)
Hình 04: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường không khí - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 04 Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến môi trường không khí (Trang 27)
Hình 05: Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến rác thải - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 05 Cây vấn đề các tác động tiêu cực đến rác thải (Trang 28)
Bảng 10: Thống kê lượng rác theo thành phần - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 10 Thống kê lượng rác theo thành phần (Trang 29)
Bảng 12: Điểm trung bình cho các câu trả lời của người dân về tác  động của du lịch đến kinh tế tại khu du lịch Chùa Hương - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 12 Điểm trung bình cho các câu trả lời của người dân về tác động của du lịch đến kinh tế tại khu du lịch Chùa Hương (Trang 34)
Bảng 14: Điểm trung bình cho các câu trả lời về tác động của du lịch đến - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Bảng 14 Điểm trung bình cho các câu trả lời về tác động của du lịch đến (Trang 37)
Hình 06: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Chùa Hương - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 06 Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Chùa Hương (Trang 40)
Hình 07: Mô hình xử lý nước thải - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 07 Mô hình xử lý nước thải (Trang 44)
Hình 08: Hệ thống thu gom rác kiểu xe thùng cố định - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 08 Hệ thống thu gom rác kiểu xe thùng cố định (Trang 45)
Hình 09: Thùng phân loại rác - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 09 Thùng phân loại rác (Trang 45)
Hình 11: Phương thức xử lý rác thải trong hẻm núi - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 11 Phương thức xử lý rác thải trong hẻm núi (Trang 46)
Hình 10: Mô hình xử lý rác - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tại khu du lịch Chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây
Hình 10 Mô hình xử lý rác (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w