1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế

79 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 814,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế [Type text] Page 7 1CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. KHÁI NIỆM DNVVN Trên thế giới hiện nay, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động. Mặt khác việc lượng hoá các tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào những yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và những quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.  Sau đây là khái niệm DNVVN: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Small and medium enterprises - SMEs) là đối tượng doanh nghiệp đặc trưng của nền kinh tế. Việc định nghĩa rõ doanh nghiệp nào là vừa và nhỏ là rất linh hoạt và tùy thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực kinh tế. Thông thường sẽ có những mứ c giới hạn cho một doanh nghiệp để được coi là vừa và nhỏ. Khi vượt qua rào đó, doanh nghiệp vượt cấp trở thành doanh nghiệp lớn, thành các tập đoàn.  Nhận biết DNVVN: Hiện nay, ở Việt Nam nói riêng và toàn bộ thế giới nói chung, xét cả về phương diện thực tế và lý luận chưa có một sự thống nhất các chỉ tiêu nhằm xác định loại hình (DNVVN). Có quan điểm gắn việc phân loại quy mô doanh nghiệp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành và dựa trên cơ sở hai tiêu thức vốn và lao động. Các nước có quan điểm đánh giá quy mô doanh nghiệp theo các tiêu thức vốn và lao động dựa trên cơ sở đặc tính kinh tế kỹ thuật của từng ngành Nhật Bản, Malayxia, Thailan . . Chẳng hạn, ở Nhật Bản, theo quy định của Bộ luật cơ bản về DNVVN, trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và

Trang 1

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 KHÁI NIỆM DNVVN 7

1.2 KHÁI NIỆM VỀ NLCT 11

1.2.1 Khái niệm cạnh tranh 11

1.2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh 12

1.2.3 Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 13

1.3 VAI TRÒ CỦA NLCT ĐỐI VỚI DNVVN TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 16

1.4 NLCT CỦA DNVVN VỚI THƯỚC ĐO LÀ SẢN PHẨM MỚI VÀ CẢI TIẾN SẢN PHẨM 18

1.4.1 Sản phẩm mới 18

1.4.2 Cải tiến sản phẩm 20

1.4.3 Các yếu tố tác động đến việc tạo sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm 20

1.4.3.1 Nhóm quản lý doanh nghiệp 20

1.4.3.2 Tình trạng doanh nghiệp 21

1.4.3.3 Môi trường doanh nghiệp 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NLCT CỦA CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2011 24

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 24

2.1.1 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam 24 2.1.2 Ưu thế của DNVVN của Việt Nam 29

2.1.3 Hạn chế của DNVVN của Việt Nam 31

Trang 2

2.2 BỐI CẢNH CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TỚI CÁC DNVVN

Ở VIỆT NAM 32

2.2.1 Nội dung cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 33

2.2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 tới các DNVVN ở Việt Nam 39

2.2.3 Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế tới các DNVVN ở Việt Nam 50

2.3 THỰC TRẠNG NLCT CỦA CÁC DNVVN TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2011 53

2.3.1 Thực trạng nhóm quản lý doanh nghiệp 53

2.3.2 Tình trạng doanh nghiệp 55

2.3.3 Tình hình tài chính doanh nghiệp 58

2.3.4 Môi trường doanh nghiệp 59

2.3.5 Nhóm biến phụ thuộc 60

CHƯƠNG 3: : SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NLCT CỦA DNVVN Ở VIỆT NAM 62

3.1 PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG 62

3.1.1 Mô hình logit thường 62

3.1.2 Mô hình logit dạng mảng 62

3.1.3 Số liệu và các biến số 62

3.1.3.1 Số liệu 62

3.1.3.2 Bảng biến số 63

3.2 KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH 65

3.2.1 Kết quả mô hình từ phương pháp logit thường 65

3.2.1.1 Kết quả mô hình với biến khả năng sáng tạo sản phẩm mới 65 3.2.1.2 Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm 71

Trang 3

3.2.2 Kết quả mô hình từ phương pháp logit dạng mảng 72

3.2.2.1 Kết quả mô hình ước lượng sáng tạo sản phẩm mới với mô hình logit mảng 72

3.2.2.2 Kết quả mô hình ước lượng cải tiến sản phẩm mới với mô hình logit mảng 73

3.3 KẾT LUẬN 73

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ 9 Bảng 2: Bảng mô tả các yếu tố chịu tác động của khủng hoảng đối với

DNVVN 52 Bảng 3: Bảng mô tả trình độ văn hóa của chủ doanh nghiệp trong ba năm

2007, 2009, 2011 55 Bảng 4: Bảng phản ánh tình trạng xuất khẩu của các DNVVN ở Việt Nam 56 Bảng 5: Tình trạng doanh nghiệp có thể tăng sản lượng 57 Bảng 6: Bảng phản ánh tỷ lệ số doanh nghiệp sử dụng quảng cáo sản phẩm các năm 2007, 2009, 2011 59 Bảng 7: Các biến phụ thuộc được sử dụng trong mô hình 63 Bảng 8: Các biến độc lập được sử dụng trong mô hình 64 Bảng 9: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới được vói những biến đã lựa chọn năm 2007 66 Bảng 10: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới sau khi đã

bỏ biến năm 2007 67 Bảng 11: Kết quả mô hình ước lượng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới ba năm

2007, 2009, 2011 69 Bảng 12: Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm trong ba năm

2007, 2009, 2011 71 Bảng 13: Kết quả mô hình ước lượng sáng tạo sản phẩm mới với mô hình logit mảng 72 Bảng 14: Kết quả mô hình ước lượng cải tiến sản phẩm mới với mô hình logit mảng 73

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu trên thế giới hiện nay, việc hội nhập mang lại cho mỗi quốc gia rất nhiều cơ hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường, huy động nguồn vốn nước ngoài, phát triển công nghệ mới và đưa sản phẩm đến người tiêu dùng quốc tế Đồng thời cũng mang đến không ít khó khăn và thách thức cho mỗi quốc gia, đặc biệt là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam Trong đó khó khăn lớn nhất chính là vấn đề cạnh tranh trong điều kiện không cân sức Tham gia vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với các công ty, tập đoàn kinh tế hàng đầu với tiềm lực tài chính lớn và công nghệ hiện đại Điều đó đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp phải khẩn trương tạo thế lực nâng cao năng lực cạnh tranh của mình khẳng định đẳng cấp doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế

Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì DNVVN đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: phần lớn giải quyết được việc làm cho lao động cả nước, hiệu quả làm việc cao, đặc biệt rất linh hoạt đối với sự thay đổi, sốc kinh tế và đang đóng góp ngày càng nhiều vào GDP của quốc gia Đây chính là nguồn phát triển để trở thành doanh nghiệp lớn của đất nước

Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Năng lực cạnh tranh có thể đo bằng nhiều khía cạnh nhưng đối với các nước đang phát triển như Việt Nam và đang định hướng xuất khẩu thì có thể đo bằng khả năng sáng tạo sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm Điều đó là cần thiết để nền kinh tế Việt Nam có thể hội nhập kinh tế quốc tế

Vì những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế”

Trang 6

Mục đích nghiên cứu: Đề tài nhằm mục đích đưa ra được bức tranh toàn

cảnh về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở Việt Nam; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của DNVVN, và từ đó đưa ra các khuyến nghị về mặt chính sách nhằm nâng cao năng lực của các DNVVN ở Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu : là các DNVVN ở Việt Nam, NLCT của các

DNVVN ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu số liệu năm 2007, 2009 và 2011 của các

DNVVN ở Việt Nam

Bộ số liệu sử dụng : là 3 bộ số liệu SME_2007, SME_2009, SME_2011

Phương pháp nghiên cứu: chúng tôi sử dụng các phương pháp: phân tích

tổng hợp-so sánh; phương pháp thống kê mô tả, thống kê suy diễn và các mô hình định lượng

Cấu trúc đề tài: đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này chúng tôi sẽ nêu ra những khái niệm, cơ sở lý thuyết để thực hiện đề tài

Chương 2: Thực trạng NLCT của các DNVVN ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2011

Trong chương này chúng tôi có thực hiện một số so sánh thực trạng phát triển của DNVVN ở Việt Nam trước và trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Chương 3: Sử dụng mô hình kinh tế lượng đánh giá các yếu tố tác động tới NLCT của DNVVN ở Việt Nam

Trong chương này chúng tôi sẽ xây dựng các mô hình logit nhằm đánh giá khả năng sáng tạo sản phẩm và cải tiến sản phẩm của DNVVN ở Việt Nam

Chương 4: Kết luận và khuyến nghị

Chương này chúng tôi sẽ đưa ra kết chung của đề tài và từ đó đề xuất một

số khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT của DNVVN ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trang 7

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 KHÁI NIỆM DNVVN

Trên thế giới hiện nay, các nước có quan niệm rất khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động

Mặt khác việc lượng hoá các tiêu thức để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tuỳ thuộc vào những yếu tố như:

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và những quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn

Trong ngành nghề khác nhau thì chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau

 Sau đây là khái niệm DNVVN: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Small and medium enterprises - SMEs) là đối tượng doanh nghiệp đặc trưng của nền kinh tế Việc định nghĩa rõ doanh nghiệp nào là vừa và nhỏ là rất linh hoạt và tùy thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực kinh tế Thông thường sẽ có những mức giới hạn cho một doanh nghiệp để được coi là vừa và nhỏ Khi vượt qua rào đó, doanh nghiệp vượt cấp trở thành doanh nghiệp lớn, thành các tập đoàn

 Nhận biết DNVVN:

Hiện nay, ở Việt Nam nói riêng và toàn bộ thế giới nói chung, xét cả về phương diện thực tế và lý luận chưa có một sự thống nhất các chỉ tiêu nhằm xác định loại hình (DNVVN) Có quan điểm gắn việc phân loại quy mô doanh nghiệp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành và dựa trên cơ sở hai tiêu thức vốn và lao động Các nước có quan điểm đánh giá quy mô doanh nghiệp theo các tiêu thức vốn và lao động dựa trên cơ sở đặc tính kinh tế kỹ thuật của từng ngành Nhật Bản, Malayxia, Thailan Chẳng hạn, ở Nhật Bản, theo quy định của Bộ luật cơ bản về DNVVN, trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và

Trang 8

khai thác thì doanh nghiệp sử dụng dưới 300 lao động, có số vốn sản xuất kinh doanh dưới 100 triệu yên thuộc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, còn ở Malayxia, doanh nghiệp có số vốn nhỏ hơn 500 Ringit và sử dụng dưới 50 lao động là DNVVN

- Trong năm 2013, theo thông tư số 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2013 thì doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã ( sử dụng dưới

200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu không quá 20 tỷ đồng ) gọi chung là doanh nghiệp vừa và nhỏ Còn theo điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành vào ngày 30 tháng 6 năm 2009 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp ) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng

nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên ), cụ thể như sau:

Trang 9

Bảng 1: Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

300 người III Thương

mại và dịch

vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ

 Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế về tính linh hoạt Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả

Trang 10

năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Về nguồn lực vật chất

Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và nguồn gốc hình thành doanh nghiệp Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức hỗ trợ để khắc phục sự hạn hẹp này

Về năng lực quản lý điều hành

Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô các quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh Thông thường họ được coi là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản

lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất thấp so với yêu cầu

Về tính phụ thuộc hay bị động

Do các đặc trưng kể trên nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị thụ động nhiều hơn ở thị trường Cơ hội “đánh thức”, “dẫn dắt” thị trường của họ rất nhỏ Nguy cơ “bị bỏ rơi”, phó mặc được minh chứng bằng con số doanh nghiệp vừa

và nhỏ bị phá sản ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Chẳng hạn ở

Mỹ, bình quân mỗi ngày có tới 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản (đương nhiên lại có số doanh nghiệp tương ứng phù hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới xuất hiện), nói cách khác các doanh nghiệp vừa và nhỏ có “tuổi thọ” trung bình thấp

Trang 11

1.2 KHÁI NIỆM VỀ NLCT

1.2.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm

có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia.vv điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc

tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân.vv

Vậy cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế

có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…

Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn.Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược Giống như bất kỳ sự vật hiện tượng nào khác, cạnh tranh cũng luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề: mặt tích cực và mặt tiêu cực Ở khía cạnh tích cực, cạnh tranh là nhân

tố quan trọng góp phần phân bổ các nguồn lực có hạn của xã hội một cách hợp

lý, trên cơ sở đó giúp nền kinh tế tạo lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và hoạt động

có hiệu quả Bên cạnh đó, cạnh tranh góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ, dẫn đến gia tăng năng suất sản xuất xã hội, sử dụng hiệu quả các yếu

tố sản xuất đầu vào nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội thông qua các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đa dạng… Ở góc độ tiêu cực, nếu cạnh tranh chỉ nhằm mục đích chạy theo lợi nhuận mà bất chấp tất cả

Trang 12

thì song song với lợi nhuận được tạo ra, có thể xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như môi trường sinh thái bị hủy hoại, nguy hại cho sức khỏe con người, đạo đức xã hội bị xuống cấp, nhân cách con người bị tha hóa Nếu xảy ra tình trạng này, nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển một cách lệch lạc và không vì lợi ích của số đông

1.2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp” Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động và là một quá trình Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một

số vấn đề sau đây:

Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối

đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần Còn

Trang 13

trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng

“không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản

Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới

Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút

và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp

1.2.3 Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau như điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố(nguồn lực đầu vào), các ngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các sản phẩm mới và sự cải tiến sản phẩm , dịch vụ mới của

Trang 14

doanh nghiệp, các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố nhà nước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp

Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản

lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình, phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi

- Trình độ lao động trong doanh nghiệp

Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sáng tạo trong mọi tổ chức Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất lượng

và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, nhiều sản phẩm mới của doanh nghiệp sẽ được mở rộng ra thị trường, tạo được vị trí vững chắc của doanh nghiệp trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự phát triển bền vững

- Năng lực tài chính của doanh nghiệp

Bên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính xác

- Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 15

Một doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan trong môi trường kinh doanh Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh một cách có kết quả và đạt hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đặt ra

- Trình độ thiết bị, công nghệ và sự cải tiến sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cùng với nguồn nhân lực dồi dào, trình độ cao giúp rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm của doanh nghiệp

- Trình độ năng lực marketing

Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, có thể chia thành 4 nhóm yếu tố:

- Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tài chính

- Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật

về

tiêu dùng, về công nghệ thông tin…

Trang 16

- Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng các nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ kiện máy móc

- Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền)

1.3 VAI TRÒ CỦA NLCT ĐỐI VỚI DNVVN TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách quan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị

trường luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội

nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi trên thị

trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm

lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thị trường Nâng cao

năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp

đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường Không những thế, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện ngay, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp Bởi lẽ suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem như là một chiến lược không thể thiếu trong định hướng phát triển và

Trang 17

nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho doanh nghiệp,

mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả quốc gia

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng nhận được sự cạnh tranh trong nước và quốc tế Họ đặc biệt cần có thông tin về thị trường, người mua, người bán, giá cả, các quy định thương mại và cách thức buôn bán trên thị trường mục tiêu Vậy năng lực cạnh tranh có vai trò như thế nào trong thời kỳ hiện nay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay?

Thứ nhất, năng lực cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ nỗ lực nhằm khác biệt hoá sản phẩm, tạo ra hình ảnh hay đáp ứng sở thích của người tiêu dùng, phát triển sản phẩm, thiết kế lại hay sửa lại Điều này đòi hỏi phải có chuyên môn cao mà ở những nước đang phát triển thì việc này rất khó Thứ hai, hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất, muốn thực hiện được điều này các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải xác định được tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh trong tổ chức của mình Thứ ba, chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường

Thứ tư, trên thị trường có sự cạnh tranh rất khốc liệt đối với những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt sẽ thể hiện được khả năng “ bản lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh

và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường

Trang 18

Thứ năm, năng lực cạnh tranh cao giúp các doanh nghiệp có khả năng hội nhập với quốc tế, tăng năng suất lao động và sử dụng tốt các nguồn lực của doanh nghiệp, vượt qua được các khó khăn trong quá trình kinh doanh và sản xuất Dựa trên năng lực cạnh tranh, các nhà đầu tư cũng có thể đánh giá và quyết định đầu tư vào các doanh nghiệp trong thời kì khó khăn như hiện nay Tóm lại, kinh tế thế giới phát triển, quốc tế hóa thương mại đòi hỏi các nước phải xóa bỏ rào cản, chấp nhận tự do buôn bán, vì thế mỗi nước phải mở cửa thị trường trong nước, điều đó cũng đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh của nước đó phù hợp với sự phát triển của thế giới Do đó, năng lực cạnh tranh có vai trò khá quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay

1.4 NLCT CỦA DNVVN VỚI THƯỚC ĐO LÀ SẢN PHẨM MỚI VÀ CẢI TIẾN SẢN PHẨM

Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các DNVVN gặp phải rất nhiều khó khăn như lao động ít, trình độ còn thấp, nguồn vốn đầu tư hạn hẹp…

Do vậy, các DNVVN cần có giải pháp để tăng năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ khác Để tăng năng lực canh tranh của mình, các doanh nghiệp cần khác biệt hóa sản phẩm, cải tiến sản phẩm, và không ngừng sáng tạo tạo ra sản phẩm mới, hình ảnh mới đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng Vì những

lý do trên mà chúng tôi quyết định chọn yếu tố doanh nghiệp có sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩm hay không để đánh giá năng lực cạnh tranh của DNVVN

1.4.1 Sản phẩm mới

Khái niệm sản phẩm theo quan niệm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp đặc tính vật lý học, hóa học, sinh học có thể quan sát được, dùng để thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất và đời sống

Khái niệm sản phẩm theo quan niệm của Maketing: Sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú

Trang 19

ý mua sắm và tiêu dùng Theo đó sản phẩm được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là: yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất

Theo quan niệm này, sản phẩm vừa là cái đã có vừa là cái đang và tiếp tục phát sinh trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu Ngày nay người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất mà còn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cả các yếu tố vô hình của sản phẩm

Vậy sản phẩm mới là gì? Có phải những sản phẩm các doanh nghiệp đưa

ra thị trường đều được gọi là sản phẩm mới hay không? Nếu doanh nghiệp chỉ thêm một vài thành phần mới, vài chi tiết mới của sản phẩm thì đấy có phải là một sản phẩm mới hay không? Hay chỉ những sản phẩm hoàn toàn mới về mặt quan niệm mới được coi là một sản phẩm mới?

Đứng trên góc độ của các doanh nghiệp để đánh giá, người ta chia sản phẩm mới thành hai loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối Sản phẩm mới tương đối là sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới Chi phí để phát triển loại sản phẩm này thường thấp, nhưng khó xác định vị trí của sản phẩm trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thế thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn

Sản phẩm mới tuyệt đối là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị trường doanh nghiệp giống như ngươi “tiên phong” đi đầu trong sản xuất sản phẩm này Sản phẩm này ra mắt nguời tiêu dùng lần đầu tiên Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả trong giai đoạn sản xuất và bán hàng) Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao Vậy liệu một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc vào cách mà thị trường nhận thức về nó Nếu người tiêu dùng đánh giá sản phẩm này khác đáng kể so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh

về hình thức, chất lượng, mẫu mã thì sản phẩm đó được coi là sản phẩm mới

Trang 20

1.4.2 Cải tiến sản phẩm

Sự cải tiến là điều kiện cần thiết và quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế canh tranh và phát triển bền vững Theo Schrumpter (Xem Rogers 1998:6) có năm loại cải tiến, bao gồm cải tiến sản phẩm mới hoặc thay đổi sản phẩm cũ; phương pháp sản xuất mới; mở cửa thị trường mới; nguồn lực đầu vào mới; đổi mới tổ chức Gần đây Porter and Stern đưa ra khái niệm cải tiến “Sự cải tiến – là phép biến đổi trí thức trong sản phẩm mới, quy trình mới, và dịch

vụ mới - chứa đựng nhiều hàm lượng công nghệ và khoa học hơn để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng”

Cải tiến sản phẩm tức là sử dụng thông tin có được từ việc sử dụng các công cụ như thiết kế thử nghiệm và đánh giá vòng đời sản phẩm để tiến hành sự điều chỉnh sản phẩm Sự điều chỉnh này sẽ cải tiến năng suất, chất lượng sản phẩm giúp cho sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường

Những sản phẩm cải tiến thường khai thác các đặc điểm hay công nghệ hiện đại để phục vụ một mục đích khác Theo nghĩa này, cải tiến sản phẩm chỉ đại diện cho hình thức đổi mới không triệt để

So với các sản phẩm đột phá, cải tiến sản phẩm mất ít thời gian và chi phí

để phát triển hơn, vì phần cốt lõi của sản phẩm vẫn giữ nguyên, chỉ một vài tính năng được thay đổi để cải thiện hiệu suất hoặc làm cho sản phẩm có sức thu hút hơn với khách hàng

1.4.3 Các yếu tố tác động đến việc tạo sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm

1.4.3.1 Nhóm quản lý doanh nghiệp

Nhóm quản lý doanh nghiệp gồm có tuổi chủ doanh nghiệp, trình độ chủ doanh nghiệp

Chủ doanh nghiệp có trình độ càng cao, độ tuổi cao thì sẽ có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý doanh nghiệp, đưa ra các chiến lược sản phẩm phù hợp với tình trạng doanh nghiệp cũng như trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu Người quản lý giữ vai trò quan trọng trong việc doanh nghiệp phát triển hay đi xuống, mỗi quyết định của họ cần phải chính xác, đúng thời điểm

Trang 21

Chủ doanh nghiệp có kinh nghiệm quản lý sẽ biết khi nào đưa ra sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩm để phát triển doanh nghiệp

1.4.3.2 Tình trạng doanh nghiệp

Tình trạng doanh nghiệp gồm có hình thức sở hữu, ngành sản xuất chính, loại máy móc đang sử dụng, mức tăng sản lượng số lượng khách hàng, doanh nghiệp có hàng tồn kho hay không và xuất khẩu

Hình thức sở hữu là loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty TNHH,…

Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế

Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ

Để đưa ra sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm doanh nghiệp cần nắm rõ tình trạng của mình Thời gian dự trữ hàng hóa càng lâu chứng tỏ hàng hóa càng lâu thì hàng hóa dễ bị lỗi thời, không đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng Việc xuất khẩu cũng tạo động lực cho các doanh nghiệp ưu việt hóa sản phẩm để đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng quốc tế Máy móc sử dụng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm Nếu như doanh nghiệp có lượng hàng tồn kho càng lớn có thể cho rằng sản phẩm của doanh nghiệp chưa làm hài lòng người tiêu dùng Mức sản lượng thấp cũng cho thấy doanh nghiệp kinh doanh không

có hiệu quả Vì vậy doanh nghiệp cần cải tiến lại sản phẩm, sáng tạo ra những sản phẩm mới

Trang 22

1.4.3.3 Môi trường doanh nghiệp

Theo Luật Quảng cáo năm 2012 định nghĩa về quảng cáo: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi hay sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ, hàng hóa, sản phẩm được giới

thiệu, trừ tin thời sự Chính sách xã hội Thông tin cá nhân

Quảng cáo sản phẩm nhằm mục đích giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm tăng thêm hiểu biết của người tiêu dùng đối với sản phẩm

từ đó kích thích sức mua của người tiêu dùng, đẩy mạnh hoạt động sản xuất, bán hàng và các dịch vụ Quảng cáo giúp tăng cường nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm, giúp họ có có lựa chọn được sản phẩm thích hợp và đây cũng là cách mà các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình

Quy trình sản xuất mới là việc thay đổi ít nhất một khâu sản xuất hay việc

áp dụng công nghệ cao để sản xuất làm rút ngắn các khâu sản xuất mà vẫn bảo đảm chất lượng sản phẩm Quy trình mới cũng giúp cho các doanh nghiệp tăng năng suất lao động, cải tiến được chất lượng sản phẩm nhằm giúp sản phẩm có sức cạnh tranh hơn trên thị trường

Dự kiến phát triển là kế hoạch, mục tiêu, chiến lược mà doanh nghiệp vạch

ra nhằm giúp phát triển doanh nghiệp, có những ý tưởng rõ ràng nhằm đưa sản phẩm của mình tới người tiêu dùng Khi có dự kiến phát triển thì các doanh nghiệp sẽ cố gắng để thực hiện được nó tạo thêm động lực cho các doanh nghiệp trong việc cạnh tranh trên thị trường

Quảng cáo là điều không thể thiếu ở bất kỳ doanh nghiệp nào Đây là một chiến lược maketing tốt, các doanh nghiệp có thể cung cấp thông tin của sản phẩm đến đông đảo người tiêu dùng Để có được sản phẩm mới hay cải tiến sản phẩm một cách tốt hơn thì không thể thiếu quy trình sản xuất Nếu có được một quy trình sản xuất mới phù hợp thì sản phẩm của doanh nghiệp cũng được thiện cách rõ ràng Và cuối cùng là phải vạch ra kế hoạch phát triển cách chi tiết nhằm có những bước đi phù hợp

Trang 23

Tóm lại, để có thể cạnh tranh thì các doanh nghiệp cần có chiến lược cải tiến sản phẩm, sáng tạo ra những sản phẩm mới vượt trội hơn so với đối thủ của mình luôn luôn thay đổi sản phẩm sao cho phù hợp với từng thời kỳ, từng đối tượng tiêu dùng

Trang 24

2 CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG NLCT CỦA CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2007-2011

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Các DNVVN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam

- So với các doanh nghiệp lớn, DNVVN có những lợi thế cơ động, linh hoạt, dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh, nhạy bén với những sự thay đổi của thị trường, sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực thử nghiệm đổi mới công nghệ Bên cạnh đó, số lượng các DNVVN của Việt Nam là rất lớn, vì vậy DNVVN có vai trò quan trọng đối với kinh tế xã hội của đất nước Một trong số những vai trò quan trọng của DNVVN là:

Đóng góp lớn vào kết quả hoạt động nền kinh tế

Bình quân trong giai đoạn 2002 đến 2006, số DN dân doanh tăng gần 22%/năm, số vốn tăng trên 45%/năm Năm 2006, cả nước có khoảng 245 nghìn DNVVN hoạt động trong các ngành (trong đó trên 240 nghìn doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước)

Năm 2007 con số này là khoảng 310 nghìn doanh nghiệp, năm 2008 là khoảng 335 nghìn doanh nghiệp chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp trong

cả nước, gần 3 triệu hộ kinh doanh cá thể và gần 20.000 hợp tác xã Số lượng DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp thường chiếm 29-30% tổng số chung (tương đương khoảng 106 nghìn doanh nghiệp)

Sự phát triển của các DNVVN có sự khác nhau giữa các vùng Nếu xét theo số lượng thì số các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng chênh lệch nhau tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng bình quân thì “các vùng đều có sự phát triển số lượng doanh nghiệp” Theo đó, tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2003-2007 của các vùng như sau: Vùng Đồng bằng Bắc Bộ: tăng 4,5%; Vùng Đông Bắc: 5,5%; Vùng Tây Bắc: 2,6%; vùng Bắc Trung Bộ: 5,8%; Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: 4,9%; vùng Đông Nam Bộ: trên 6,5%; vùng

Trang 25

Tây Nam Bộ: 3,5 % (theo Cục Công Nghiệp địa phương thuộc Bộ Công Thương)

Trong nhiều ngành sản xuất, các doanh nghiệp dân doanh công nghiệp đang giữ vị trí khá quan trọng, ví dụ như: Trong ngành sản xuất, phân phối điện, nước, khí đốt, doanh nghiệp dân doanh chiếm trên 61%; Khai thác mỏ là trên 83%; Công nghiệp chế biến trên 86%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy,

đồ dùng 93%; Sản xuất giấy 88%

Các DNVVN đóng góp hơn 40% GDP, chiếm tỷ trọng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp hơn 15% tổng thu ngân sách Nhà nước, 78% mức bán lẻ, 33% giá trị sản lượng công nghiệp

 Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp

Với tốc độ tăng dân số hiện nay so với tốc độ tăng của nền kinh tế thì tỷ lệ người thất nghiệp sẽ gia tăng, do đó ngoài các chính sách làm giảm tốc độ tăng dân số cần phải kết hợp với tăng nhanh số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ để giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người lao động

Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phương pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất

Thứ nhất, do đặc tính phân bố rải rác của chúng Các doanh nghiệp loại này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp Nhờ vậy chúng ta vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm số người chuyển về thành phố tìm việc làm

Thứ hai, do tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với các thay đổi của thị trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong trường hợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải vì cấp quản

lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệp lớn thì khó xoay trở nhanh Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải sa thải bớt lao động để cắt giảm

Trang 26

chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu Trong khi đó do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các DNVVN vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động

Nhờ những đặc tính này mà các DNVVN của Việt Nam đã và đang thu hút hơn 50% tổng số lao động trong doanh nghiệp tức khoảng 13 triệu lao động đang hoạt động cho các DNVVN Điều này đóng góp không nhỏ vào việc giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo cho người lao động

 Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng,

số lượng và chủng loại

Các công ty, DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công

ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng

và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn Bên cạnh

đó họ cũng tiến vào nhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ

DNVVN góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn Quy luật của vật lý là khối lượng một vật càng lớn thì quán tính của nó càng lớn Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ỳ càng lớn Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNVVN sẽ trở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao Do lợi thế quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có

Trang 27

sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường

DNVVN thu hút được khá nhiều vốn ở trong dân

Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các DNVVN có tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước

DNVVN có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt đối với khu vực nông nghiệp

DNVVN thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại- dịch vụ phát triển Sự phát triển DNVVN cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các DNVVN còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp

DNVVN góp phần vào đô thị hoá phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”

Sự phát triển của các DNVVN ở nông thôn sẽ thu hút những người lao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương bản quán, không phải di chuyển đi xa, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các

cơ sở công nghiệp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành những thị tứ, thị trấn, là hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung

 Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh

Trang 28

Một số những người có tài trong quản trị kinh doanh không muốn làm việc cho các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng để thể hiện và phát huy được hết khả năng của mình Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh doanh Bắt đầu từ kinh doanh quy

mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển Các tài năng kinh doanh sẻ được ươm mầm từ đây

 DNVVN cải thiện được mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau

Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế

Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”, “vùng sâu”, “vùng xa”

Đó là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó và cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chi phí bỏ ra, nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng đó cao Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh nghiệp lớn thì điều này

sẽ dẫn đến một sự phát triển không đều giữa các vùng, không tận dụng hết tài nguyên và giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế cũng như gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh tế Tuy nhiên đối với các DNVVN thì chi phí cơ hội của các vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại Vì vậy họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương

 Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc

Trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá các ngành nghề truyền thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt, giữa chế tạo sản phẩm thủ công với sản xuất dây chuyền hàng loạt Một ví dụ như: thợ đóng giày có thể đóng những đôi giày rất bền dùng được hàng năm không hỏng Nhưng trong thời

Trang 29

hiện đại phải đối mặt với các xí nghiệp sản xuất giày có sản phẩm không bền lắm, đổi mới theo mùa và giá rẻ hơn so với giày thủ công Một thợ thủ công hay vài người thì không thể đương đầu được với các doanh nghiệp lớn đó Muốn tồn tại được các thợ thủ công phải hợp nhau lại thành lập doanh nghiệp, sau đó quảng cáo xa rộng để tìm đến các khách hàng tiềm năng của các sản phẩm thủ công Trong xã hội luôn tồn tại nhu cầu đối với các sản phẩm truyền thống, vấn

đề là phải làm cho những khách hàng đó biết đến sản phẩm của mình Loại hình DNVVN có thể nói là rất thích hợp cho sản xuất thủ công Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh, quảng cáo Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghề này Và đó cũng là một điều cần phải xảy ra trong thời đại công nghiệp Cụ thể hơn ta hãy hình dung một cảnh như sau: một số thợ đóng giày hợp nhau lại thành một doanh nghiệp Trong thành phố địa phương của họ chỉ có một số nhỏ khách hàng ưa thích loại giày đóng thủ công và sẵn sàng trả giá (dù là cao) để đi loại giày này vậy cầu với loại giày này là cầu nhỏ Doanh nghiệp đó đáp ứng được nhu cầu

đó Sau đó doanh nghiệp tiến hành một chiến dịch quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên Internet Sau một thời gian các khách hàng có nhu cầu tương tự ở tại các thành phố khác trong cả nước liên lạc đặt mua Tiếp sau nữa là các khách hàng nước ngoài ưa thích kiểu dáng giày quảng cáo trên Internet cũng liên lạc đặt mua Bên cạnh đó các nghệ nhân cũng sử dụng thêm một số công nghệ mới để hỗ trợ thêm cho việc chế tạo giày như là dùng máy tính để tạo hình sản phẩm trước, Trong quá trình phát triển đó họ tiếp cận và làm quen với các kỹ thuật và công nghệ mới Tuy khách hàng địa phương của

họ không nhiều nhưng khách hàng trên toàn cầu chiếm một lượng đủ để họ tồn tại được trước thách thức của những đôi giày hiện đại giá rẻ rất mốt được sản xuất hàng loạt kia

2.1.2 Ưu thế của DNVVN của Việt Nam

- DNVVN có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao

Trang 30

động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường DNVVN có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng được do mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn DNVVN là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường

Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động Vòng quay sản phẩm nhanh hơn nhờ có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng

Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh

tế

- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao

Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm và sẵn sàng mạo hiểm Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các DNVVN có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm

- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư

Trang 31

vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNVVN có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế

- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tất nhiên là không lớn lắm Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp

- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có ảnh hưởng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền

2.1.3 Hạn chế của DNVVN của Việt Nam

Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Các hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của DNVVN

- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chính đặc điểm của

nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị

- Các DNVVN thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấp sản phẩm

- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường

Trang 32

- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh

- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường thế nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường

- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, các DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động

- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, các DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường

2.2 BỐI CẢNH CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TỚI CÁC DNVVN Ở VIỆT NAM

Việc trở thành thành viên WTO, nền kinh tế nước ta được xác lập một vị thế mới, ngày càng vững chắc trong hệ thống kinh tế thế giới, sức hấp dẫn đầu

tư tăng lên mạnh mẽ.Nền kinh tế nước ta đã đổi mới căn bản cả thế và lực, đang đứng trước những cơ hội to lớn và triển vọng sáng sủa hơn bao giờ hết Đó là sự thay đổi chất lượng quan trọng của quá trình phát triển, đưa nền kinh tế nước ta sang một giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu sắc hơn.Hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta

sẽ có nhiều cơ hội hơn Nhưng mặt khác, thách thức cũng lớn hơn và khó khăn cũng tăng lên Nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn gấp bội, trong một môi trường quốc tế có nhiều biến động, khó dự đoán và có độ rủi ro cao Nếu như so với năm 1991, khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới xảy ra, nền kinh tế Việt Nam gần như không bị ảnh hưởng do vẫn còn đóng với nền kinh tế thế giới thì đến năm 2008, hậu quả

Trang 33

của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động tới kinh tế Việt Nam một cách sâu sắc

2.2.1 Nội dung cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008

Cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới khởi nguồn từ Mỹ hồi đầu năm

2008 và nó đã biến thành cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới vào tháng 8/2008, khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) buộc phải thi hành biện pháp khẩn cấp nhằm cứu vãn các ngân hàng trước nguy cơ sụp đổ do các khoản cho vay nợ thế chấp khó đòi Sau khi Chính phủ Mỹ tung ra kế hoạch giải cứu tài chính trị giá 700 tỷ USD cùng một loạt biện pháp mạnh thời gian qua, ngày 25/11/2008, FED tiếp tục công bố kế hoạch sẵn sàng bơm 800 tỷ USD cứu nguy thị trường tín dụng và Tổng thống mới đắc cử Ba-rắc Ô-ba-ma cũng đưa ra kế hoạch kích cầu Thế giới đang theo dõi sát sao tình hình kinh tế Mỹ và các giải pháp cứu nguy đang được thực thi hoặc bàn thảo, bởi lẽ, nền kinh tế Mỹ lớn mạnh nhất, chiếm 22% GDP toàn cầu, đóng góp 60% vào đà tăng trưởng của kinh tế thế giới, chủ yếu nhờ sức tiêu thụ tới 70% GDP của Mỹ Cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ vào thời điểm mà kinh tế Mỹ bị suy thoái sau 6 năm tăng trưởng liên tục, thế giới thật sự lo ngại vì các nước khác như Tây Âu và Nhật Bản đều

bị đình trệ và suy thoái Vấn đề đặt ra hiện nay là liệu nền kinh tế Mỹ có sớm thoát khỏi giai đoạn suy thoái hay không Đây là điều hết sức phức tạp, hiện chưa có nhà kinh tế nào đưa ra câu trả lời bởi các lý do chủ yếu sau:

- Khi nền kinh tế Mỹ đang bị suy giảm thì các số liệu về thông tin kinh tế thường không chính xác, các công ty và tập đoàn kinh tế không muốn công bố

số liệu phản ánh thực trạng kinh doanh của mình Chính phủ cũng không muốn công bố các thông tin tiêu cực về kinh tế, họ lo ngại rằng sẽ gây ra tâm lý hoảng loạn trong xã hội Do vậy, tình hình xấu đi của hệ thống tài chính và kinh tế Mỹ chưa được phản ánh đầy đủ Để minh chứng cho điều này, các chuyên gia đã dẫn ra sự kiện năm 2007, Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers còn được Tạp chí Fotune xếp hạng công ty chứng khoán vinh danh nhất, nhưng đến tháng 9/2008

đã phải đệ đơn xin phá sản với khoản nợ khổng lồ lên đến 613 tỷ USD

Trang 34

- Tuy mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, nhưng các chỉ số của kinh tế

Mỹ hiện đã là rất nghiêm trọng: 12.000 tỷ USD cho vay thế chấp mua nhà mà phần lớn trong số đó là cho vay dưới chuẩn; cho vay thế chấp mua ô tô cũng đã lên tới hàng chục tỷ USD, nợ xấu gia tăng và được phỏng đoán lên hàng nghìn

tỷ USD Do vậy, gói giải cứu của Chính phủ Mỹ không đủ để mua hết các khoản nợ xấu Thử giả định rằng, giải pháp 700 tỷ USD đủ để mua hết các khoản nợ xấu, thì cũng chỉ đủ để cứu nguy cho hệ thống tài chính Mỹ qua cơn hấp hối, chứ không thể tài trợ cho phát triển Vì thế, các chỉ số của nền kinh tế

Mỹ cũng không mấy sáng sủa Mức lạm phát đã là 4,5% vào tháng 7/2008 cao nhất trong 18 năm qua, không những đã cao hơn mức tăng trưởng, mà còn cao hơn mức lãi suất 2% do FED quy định, điều đó có nghĩa là công cụ lãi suất

“thần diệu” trong tay FED đã mất hiệu lực Nếu FED hạ mức lãi suất xuống thấp hơn mức 2% để chống suy thoái, thì với lãi suất âm nặng hơn sẽ đẩy lạm phát cao hơn và sẽ làm cho nền kinh tế Mỹ bất ổn nhiều hơn Thâm hụt ngân sách Mỹ trong năm tài khóa 2008 đã ở mức cao kỷ lục 455 tỷ USD, tăng hơn gấp đôi so với một năm trước đó Theo dự báo của các nhà nghiên cứu kinh tế, mức thâm hụt ngân sách liên bang Mỹ có thể còn tăng lên đến khoảng 1.000 tỷ USD trong tài khóa 2009 Như vậy, với 700 tỷ USD sẽ khó có thể cải thiện các chỉ số của nền kinh tế Mỹ

- Gói giải pháp cứu trợ 700 tỷ USD có thể tạm thời ổn định hệ thống tín dụng Mỹ bằng cách mua lại các khoản nợ xấu, nhưng điều quan trọng hơn là phải giải quyết những nguyên nhân dẫn tới các khoản nợ xấu đó Cho đến thời điểm này, chính phủ Mỹ vẫn chưa đề xuất được các phương án khả thi nào Trong tình trạng như vậy, các khoản nợ xấu có thể vẫn tiếp tục gia tăng Nguy

cơ cạn kiệt năng lực tài chính của chính phủ Mỹ nếu không đủ sức mua các khoản nợ xấu thì tình hình kinh tế Mỹ sẽ còn tồi tệ hơn

 Sau đây là những ghi nhận của Liên Hiệp Quốc:

Tăng tỷ lệ thất nghiệp (50 triệu việc làm bị mất trong năm nay theo Tổ chức Lao động quốc tế), đói nghèo và đói

Trang 35

 Giảm tốc độ tăng trưởng, suy giảm kinh tế

Tác động tiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân thanh toán

 Suy giảm mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài (giảm 54% trong quý đầu tiên của năm 2009, theo UNCTAD)

 Phong trào lớn và biến động tỷ giá hối đoái

 Thâm hụt ngân sách, giảm doanh thu thuế và giảm không gian tài chính

Hành động hợp đồng của thương mại thế giới

Tăng biến động và giá giảm các mặt hàng thiết yếu

 Giảm kiều hối chuyển về các nước đang phát triển

 Doanh thu giảm mạnh từ du lịch

Đảo ngược lớn chảy vốn tư nhân

 Giảm tiếp cận tín dụng và tài trợ thương mại

 Giảm niềm tin của công vào các tổ chức tài chính

 Khả năng để duy trì mạng lưới an sinh xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội khác như y tế và giáo dục giảm

Tăng trẻ sơ sinh và tỷ lệ tử vong bà mẹ

 Sự sụp đổ của thị trường nhà ở

 Mức nợ của các nước đang phát triển con người là trên 150% GDP

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nền kinh tế các nước phát triểu trên thế giới

Các nền kinh tế châu Âu cũng đang đứng trước nhiều vấn đề phức tạp và nan giải Theo số liệu của Liên minh châu Âu (EU), nền kinh tế của 15 nước sử dụng đồng ơ-rô lần đầu tiên kể từ khi được thành lập (1999) cũng đã rơi vào giai đoạn suy thoái, do tăng trưởng âm (GDP giảm 0,2%) trong hai quý liên tiếp Khủng hoảng địa ốc gắn với tín dụng cũng là căn bệnh của một số nước châu Âu như Anh, Pháp, Tây Ban Nha Tình hình công nghiệp và thương mại của châu Âu tụt giảm nghiêm trọng, đặc biệt là thị trường chứng khoán và ngân hàng, được thể hiện rõ nhất về tốc độ tăng trưởng quý III/2008 đã ở con số âm,

Trang 36

thấp hơn nhiều so với dự báo (2%) đầu năm 2008 Các ngân hàng thua lỗ nặng

nề, riêng hệ thống ngân hàng Pháp chỉ trong vòng 12 tháng đã mất 12 tỷ ơ-rô; một số ngân hàng của Anh đã tuyên bố phá sản do cho vay thế chấp; ngân hàng Fortis trong nhóm 20 ngân hàng lớn nhất châu Âu đang đứng bên bờ phá sản và được 3 nước châu Âu mua lại Bản thân các nền kinh tế châu Âu vốn đã có nhiều vấn đề nan giải, nay lại bị cộng hưởng từ “cơn bão tài chính” Mỹ càng làm cho các vấn đề kinh tế của châu Âu thêm nghiêm trọng Chính phủ các nước châu Âu đã có chính sách ứng phó với tình hình khẩn cấp trên như bơm thêm tiền cho hệ thống tín dụng, giảm thuế nhưng hiện vẫn chưa có tín hiệu nào chứng tỏ tình hình kinh tế đã được cải thiện

Kinh tế Nhật Bản cũng rơi vào suy thoái với tốc độ nhanh hơn dự đoán Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là do các công ty giảm đầu tư để đối phó với khủng hoảng tài chính Theo Văn phòng Nội các Nhật Bản, tốc độ tăng trưởng quý III/2008 giảm 0,5% so với quý II/2008 và giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước Trong quý II/2008, kinh tế Nhật Bản giảm 1% so với quý I

và 3,7% so với cùng kỳ năm 2007 Đây là lần đầu tiên Nhật Bản bước vào suy thoái kinh tế trong hai quý liên tiếp có mức tăng trưởng âm Thực trạng này cho thấy, nền kinh tế lớn nhất châu Á sẽ phải trải qua thời kỳ suy thoái nghiêm trọng

và kéo dài hơn dự đoán Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Nhật Bản, vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu Điều này khiến kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản giảm đi đáng kể trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng nội địa vẫn chưa có dấu hiệu lạc quan Tình trạng giảm đầu tư đã gây ra suy thoái cho nền kinh tế nước này khi các công ty giảm 2% vốn đầu tư vào thiết bị và xây dựng nhà máy mới Theo các chuyên gia kinh tế Nhật bản, chỉ số niềm tin kinh doanh của các công ty lớn ở Nhật Bản sẽ giảm từ mức âm -

3 (9/2008) xuống mức âm -3,6 Đây là mức thấp nhất trong 30 năm qua Nhật Bản gọi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay là một sự kiện "trăm năm

có một", theo đó, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã bơm 1.000 tỷ yên (9,8 tỷ USD) vào thị trường tiền tệ nhằm hỗ trợ hoạt động cho vay trên thị

Trang 37

trường liên ngân hàng Ngày 30/10/2008 Nhật Bản đã công bố gói kích thích kinh tế trị giá 26,9 nghìn tỷ yên (277 tỷ USD) nhằm vào việc cắt giảm thuế, tiền trợ cấp trực tiếp cho các hộ gia đình và các khoản cho vay dành cho các doanh nghiệp nhỏ

Nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về môi trường ô nhiễm, giá cả nguyên liệu tăng cao, thị trường bên ngoài bị thu hẹp và xu hướng giảm tốc độ tăng trưởng trong năm

2008 và các năm tiếp theo là điều khó tránh Trung Quốc thừa nhận cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước này "nghiêm trọng hơn dự đoán của Chính phủ" Tuyên bố trên đưa ra ngay sau khi Trung Quốc công bố một loạt số liệu thống kê kinh tế của nước này như: sản xuất công nghiệp giảm liên tục từ 16% hồi tháng 6/2008, đã rơi xuống 11,4% trong tháng 9/2008, xuống còn 8,2% khi bước sang tháng 10/2008 Đây là mức tăng trưởng công nghiệp thấp nhất từ 7 năm qua Đầu tư quốc tế trực tiếp vào Trung Quốc cũng thuyên giảm Hậu quả là tất cả chỉ số kinh tế của Trung Quốc đều ở mức báo động cùng với tỷ lệ tăng trưởng từ hai con số xuống một con số 7,5% (theo

dự báo của WB) Dự báo thâm hụt tài chính của Trung Quốc năm 2009 sẽ từ 2 đến 3% GDP, do vậy, Chính phủ Trung Quốc đã có phản ứng nhanh, mạnh bằng một gói kích thích kinh tế trị giá 585 tỷ USD, tương đương với 15% GDP Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nền kinh tế lớn mạnh nhất nhì trên thế giới cũng phải lúng túng trước những quyết định về chính sách của mình, những chính sách mà chưa từng được đưa ra để nghiên cứu nền kinh tế suy thoái từ trước cho đến nay

 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới nền kinh tế Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài đã phá vỡ các hoạt động kinh tế toàn cầu Kinh tế thế giới cuối năm 2008 và đầu năm 2009 tiếp tục suy giảm mạnh, các nước công nghiệp phát triển đang rơi vào giai đoạn khủng hoảng tồi tệ nhất trong gần 70 năm qua Đối với Việt Nam, mặc dù hệ thống tài chính vẫn chưa bị

Trang 38

ảnh hưởng nhưng sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư, kiều hồi… đã bị tác động tương đối rõ Kinh tế Việt Namhiện nay chịu tác động chủ yếu thông qua 02 kênh: Xuất khẩu giảm cả về lượng lẫn giá do kinh tế thế giới suy thoái; nhu cầu giảm sút và đầu tư nước ngoài sụt giảm GDP quý I/2009 chỉ tăng 3,1% mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ từ năm 2000 đến nay Dự báo đến

2009 tăng trưởng GDP chỉ ở khoảng 4,8% đến 5,6% “Cơn địa chấn” khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động đến kinh tế Việt Nam qua một số mặt sau đây:

- Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng: lợi nhuận của nhiều ngân hàng giảm, thậm chí thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên

- Đối với hoạt động xuất khẩu: hàng hoá xuất khẩu bị tồn đọng

- Đối với vốn đầu tư của nước ngoài (kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp): dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút

- Đối với thị trường BĐS: thị trường BĐS đóng băng, giá BĐS đã giảm đến 40%, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn, không bán được sản phẩm lại phải chịu lãi suất cao do chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãi suất ngân hàng tăng cao, nhất là vào cuối năm 2008.Giá BĐS giảm sẽ kéo theo tài sản ngân hàng cũng giảm theo, nợ xấu tăng lên làm cho cơ cấu vốn của ngân hàng đầu tư thương mại rơi vào tình thế bất lợi Gần đây, FDI đổ vào Việt Nam tăng nhanh trong đó gần 50% đầu tư vào BĐS Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính sẽ là bất lợi cho việc giải ngân vốn FDI ở Việt Nam đặc biệt là FDI trong lĩnh vực BĐS.Khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ mà gốc rễ là từ khủng hoảng địa ốc hiện nay tuy không làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường BĐS ở Việt Nam nhưng nó sẽ ảnh hưởng gián tiếp qua các tác động đến thị trường tài chính tiền tệ, TTCK và các yếu tố tâm lý của người dân Tuy nhiên, việc cho vay BĐS của các ngân hàng ở Việt Nam là khác xa so với ở Mỹ vì vậy khó xảy ra một cuộc khủng hoảng trên thị trường BĐS Việt Nam Theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì cho vay BĐS chiếm khoảng 9,5% tổng

số dư nợ của các ngân hàng và tổ chức tín dụng Mặc dù vậy việc tác động gián

Trang 39

tiếp đến thị trường BĐS Việt Nam như đã nói ở trên là có thể, Việt Nam đã lường trước tình hình này và Chính phủ đã có những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn ảnh hưởng xấu

- Thị trường hàng hoá và dịch vụ: Sức cầu giảm

Các hoạt động dịch vụ sẽ bị thu hẹp, đặc biệt là lượng khách du lịch sẽ giảm, cho đến nay ngành du lịch đã tổ chức nhiều chương trình khuyến mãi nhưng tình hình chung là chưa sáng sủa

2.2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 tới các DNVVN ở Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch Đầu tư, tính đến tháng 10 năm 2008 cả nước có 349.309 doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh với số vốn lên đến 1.389.000 tỉ đồng (tương đương 84,1 tỉ đô la Mỹ), trong đó có hơn 95% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với sự đóng góp lớn cả về quy mô và số lượng, bộ phận doanh nghiệp này có vị trí đặc biệt trong nền kinh tế, chưa nói đến việc nơi này cung cấp việc làm cho hơn 50% số lao động làm việc trong doanh nghiệp

và mỗi năm tăng thêm nửa triệu lao động Đầu tư cho một chỗ làm việc ở các DNVVN chỉbằng 3-10% so với các doanh nghiệp lớn

Tuy nhiên do những đặc điểm nội tại của các DNVVN mà chúng ta đã xem xét cũng như do các yếu tố khách quan khác thì những doanh nghiệp này chính

là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mà ảnh hưởng trực tiếp nhất đó là những tác động tiêu cực của lạm phát ở mức cao diễn ra trong một thời gian dài ở nước ta

Các con số thống kê về tình hình lạm phát khiến nhiều người phải chóng mặt Đến cuối tháng 6 năm 2008, lạm phát đã lên đến 25,8%, cao hơn 3,8% so với mức lạm phát dự kiến cả năm 2008 Năm 2008 khép lại với mức lạm phát kỷlục 19,89% nếu so với tháng 12 năm 2007, và xấp xỉ 23% nếu so với giá tiêu dùng bình quân của năm 2000 Điều đó đã trực tiếp gây ra các khó khăn và thiệt hại cho khối doanh nghiệp bởi vì đi cùng với lạm phát là giá cả đầu vào của doanh nghiệp cũng tăng nhanh, bên cạnh đó các biện pháp kiềm chế lạm phát

Ngày đăng: 31/01/2016, 21:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 1 Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 9)
Bảng 2: Bảng mô tả các yếu tố chịu tác động của khủng hoảng - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 2 Bảng mô tả các yếu tố chịu tác động của khủng hoảng (Trang 52)
Bảng 4: Bảng phản ánh tình trạng xuất khẩu của các - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 4 Bảng phản ánh tình trạng xuất khẩu của các (Trang 56)
Bảng 5: Tình trạng doanh nghiệp có thể tăng sản lƣợng - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 5 Tình trạng doanh nghiệp có thể tăng sản lƣợng (Trang 57)
Bảng 6: Bảng phản ánh tỷ lệ số doanh nghiệp sử dụng  quảng cáo - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 6 Bảng phản ánh tỷ lệ số doanh nghiệp sử dụng quảng cáo (Trang 59)
Bảng 7: Các biến phụ thuộc đƣợc sử dụng trong mô hình - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 7 Các biến phụ thuộc đƣợc sử dụng trong mô hình (Trang 63)
Bảng 8: Các biến độc lập đƣợc sử dụng trong mô hình - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 8 Các biến độc lập đƣợc sử dụng trong mô hình (Trang 64)
Bảng 9: Kết quả mô hình ƣớc lƣợng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới đƣợc vói - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 9 Kết quả mô hình ƣớc lƣợng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới đƣợc vói (Trang 66)
Bảng 10: Kết quả mô hình ƣớc lƣợng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 10 Kết quả mô hình ƣớc lƣợng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới (Trang 67)
Bảng 11: Kết quả mô hình ƣớc lƣợng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới ba năm - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 11 Kết quả mô hình ƣớc lƣợng tỷ lệ sáng tạo sản phẩm mới ba năm (Trang 69)
Bảng 12: Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm trong - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 12 Kết quả mô hình với biến khả năng cải tiến sản phẩm trong (Trang 71)
Bảng 13: Kết quả mô hình ƣớc lƣợng sáng tạo sản phẩm mới với - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 13 Kết quả mô hình ƣớc lƣợng sáng tạo sản phẩm mới với (Trang 72)
Bảng 14: Kết quả mô hình ƣớc lƣợng cải tiến sản phẩm mới với mô hình - Đề tài: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với phép thử từ cuộc khủng hoảng kinh tế
Bảng 14 Kết quả mô hình ƣớc lƣợng cải tiến sản phẩm mới với mô hình (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w