1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn hóa truyền thống trong lễ hội ở tỉnh nam định và việc phát huy các giá trị ấy trong giai đoạn hiện nay

130 878 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng này đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần tiếp tục tập trung làm rõ những vấn đề về mặt lý luận như: giá trị và hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam; các giá trị văn hoá thể hiện

Trang 1

GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TRONG LỄ HỘI

Ở TỈNH NAM ĐỊNH VÀ VIỆC PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ẤY

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

2

MỤC LỤC

Trang

Mục lục ……… 1

Mở đầu ……… 3

Chương 1 Giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định 12 1.1 Giá trị văn hoá truyền thống và lễ hội truyền thống ……… 12

1.1.1.Giá trị truyền thống và giá trị văn hoá truyền thống……… 12

1.1.1.1 Giá trị và giá trị văn hoá……… 12

1.1.1.2 Giá trị truyền thống và giá trị văn hoá truyền thống 20

1.1.2 Quan niệm về lễ hội truyền thống ……… 26

1.1.2.1 Lễ hội và phân loại lễ hội ……… 26

1.1.2.2 Lễ hội truyền thống……… 30

1.2 Giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định … 38

1.2.1 Đặc điểm của Nam Định và ảnh hưởng của chúng đối với giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội hiện nay.……… 38

1.2.2 Các lễ hội truyền thống và một số giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định ……… 42

1.2.2.1 Các lễ hội truyền thống ở Nam Định ……… 42

1.2.2.2 Một số giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định ……… 65

Chương 2 Sự biến đổi các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định và giải pháp phát huy các giá trị ấy hiện nay 78

2.1 Sự biến đổi các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định ……… 78

2.1.1 Những xu hướng biến đổi của các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định hiện nay ……… 78

Trang 3

3

2.1.1.1 Tính tất yếu của sự biến đổi các giá trị văn hoá truyền

2.1.1.2 Xu hướng biến đổi của các giá trị văn hoá truyền thống

2.1.2 Một số vấn đề đặt ra trước sự biến đổi của các giá trị văn

hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định hiện nay ……… 102

2.2 Một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa các giá trị văn

2.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao

nhận thức của các cấp chính quyền và nhân dân về giá trị văn hoá

2.2.2 Xã hội hoá việc tổ chức các lễ hội theo định hướng của

Đảng và sự quản lý của Nhà nước ……… 109 2.2.3 Nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tổ

2.2.4 Hoàn thiện chính sách, quy chế tổ chức lễ hội của địa

2.2.5 Xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương thức tổ chức lễ hội

phù hợp với nội dung của từng lễ hội và điều kiện cụ thể của địa

Danh mục tài liệu tham khảo ……… 124

Trang 4

4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, công tác xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy kinh tế -

xã hội phát triển Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, Đảng ta đã xác định, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong tám đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội mới mà chúng ta xây dựng Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

Quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng quan hệ quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa đang hàng ngày, hàng giờ tác động và tạo ra nhiều thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội Mức sống của nhân dân được cải thiện đã tạo điều kiện để phát triển các nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng đồng Hàng loạt các giá trị mới được hình thành, góp phần làm đa dạng

và phong phú lối sống của các tầng lớp nhân dân Giá trị văn hoá truyền thống nói chung, giá trị văn hoá truyền thống của lễ hội nói riêng tiếp tục khẳng định được sức sống bền vững và vai trò là động lực của sự phát triển Song,

đã xuất hiện những biểu hiện, những xu hướng biến đổi tiêu cực cần nhận thức rõ và có giải pháp khắc phục

Theo thống kê của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch hiện cả nước có 7.966 lễ hội với nhiều loại hình khác nhau Nhu cầu tổ chức lễ hội đã lan toả ở

Trang 5

5

hầu hết các địa phương trong cả nước, các lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực: vừa giữ gìn, phát huy những nét đẹp văn hoá truyền thống; vừa kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố hiện đại, phát huy được tác dụng tích cực của lễ hội, nêu cao ý nghĩa giáo dục truyền thống Lễ hội đáp ứng một cách thiết thực, hiệu quả đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trong tổ chức nghi lễ

và hưởng thụ các hoạt động hội, tri ân công đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, các bậc tiền bối đã có công dựng nước và giữ nước, đấu tranh giải phóng dân tộc Qua sinh hoạt lễ hội nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hoá

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, không ít lễ hội còn nặng về phần lễ, phần hội bị lạm dụng, còn nhiều lễ hội có khuynh hướng thương mại hoá, không ít hiện tượng thiếu lành mạnh xuất hiện làm phiền lòng du khách như dịch vụ khấn thuê, xóc thẻ, bán ấn, xem bói, chèo kéo khách tham gia các trò chơi cá cược, các dạng cờ bạc… điều này đang làm phai mờ, xói mòn những giá trị văn hoá truyền thống của các lễ hội

Thực trạng này đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần tiếp tục tập trung làm rõ những vấn đề về mặt lý luận như: giá trị và hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam; các giá trị văn hoá thể hiện trong các lễ hội truyền thống; cơ sở khoa học, ý nghĩa lịch sử và giá trị văn hoá để khôi phục và tổ chức lễ hội truyền thống nói chung, của từng vùng, miền và lễ hội cụ thể nói riêng; đặc biệt là sự biến đổi của các giá trị văn hoá trong lễ hội truyền thống hiện nay Những vấn đề lý luận này đã được hàng trăm nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ, phạm vi, mức độ khác nhau và đã có hàng trăm ấn phẩm được xuất bản Nó cho thấy sự đa dạng, phong phú trong lĩnh vực văn hoá, có nhiều vấn đề còn đang được tranh luận trong giới nghiên cứu, thậm chí các quan điểm của các nhà nghiên cứu đôi khi còn trái ngược nhau Điều này, chứng tỏ rằng về mặt lý luận vấn đề này vẫn đang còn mang tính cấp thiết

Trang 6

6

Về mặt thực tiễn, từ khi ra đời Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về

Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì ở nước

ta đã tổ chức nhiều chương trình hoạt động văn hoá ở các lĩnh vực, cấp độ, phạm vi với những tính chất, đặc điểm khác nhau Hầu hết, các cấp, các ngành, các địa phương đều có chương trình hành động để triển khai Nghị quyết, trong đó việc khôi phục và tổ chức lễ hội truyền thống được các địa phương rất quan tâm thực hiện Nhưng, qua việc tổ chức lễ hội ở các địa phương những năm qua đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề đòi hỏi phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, có kế hoạch chi tiết, cụ thể về mở lễ hội Đây là vấn

đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và có các bước thể nghiệm để đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển kinh tế của địa phương với giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của lễ hội

Tuy vậy, tác giả không có tham vọng xây dựng một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, mà trong phạm vi hiểu biết của mình, cố gắng học hỏi, kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu, lựa chọn cho đề tài của mình những khái niệm công cụ để tìm hiểu về giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội của một địa phương cụ thể và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát huy các giá trị ấy

Xuất phát từ nhận thức và mong muốn đó, tôi chọn đề tài “Giá trị văn

hoá truyền thống trong lễ hội ở tỉnh Nam Định và việc phát huy các giá trị

ấy trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Văn hoá và giá trị văn hoá truyền thống là đề tài đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu về giá trị văn hoá truyền thống rất phong phú, đa dạng trên những phạm vi và góc độ khác nhau

Trang 7

“Văn hóa một số vấn đề lý luận” Nxb CTQG, 1999 Bài viết của Ngô Đức Thịnh “Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hoá truyền thống trong đổi mới và hội nhập” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009

- Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc nghiên cứu các giá trị văn hoá truyền thống trước tác động và yêu cầu của việc thực hiện cơ chế thị trường, của mở rộng giao lưu quốc tế càng thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm, nhằm xác định những giá trị cần được kế thừa và phát huy trong điều kiện mới Các bài báo, công trình nghiên cứu đã xây dựng được các quan niệm về giá trị và xác định được hệ giá trị văn hoá truyền thống dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, tiêu biểu

như: Phẩm An Ninh “Quan niệm về giá trị và hệ giá trị văn hoá” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009; Hoàng Chí Bảo “Hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”, Tạp chí cộng sản, số 5, 2007; Hà Minh Đức “Giá trị văn hoá, nhận thức và chuyển đổi” Tạp chí Viện văn học, 2009; Lê Thị Lan “Nội dung và vị thế của giá trị truyền thống Việt Nam trong giá trị nhân loại” Tạp chí triết học, số 7/2001…

- Những nghiên cứu về bảo tồn, phát huy bản sắc và các giá trị văn hoá truyền thống trong giai đoạn hiện nay đã được các tác giả phân tích sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá; về thực trạng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, từ đó đề ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả bản sắc văn hoá Việt Nam Điển hình là

Trang 8

về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hoá truyền thống với tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009; Nguyễn Trọng Chuẩn “Văn hoá Việt Nam và sự phát triển lâu bền của quốc gia” Tạp chí triết học, số 5, 1998…

- Đáng chú ý là những bài viết, đề tài nghiên cứu về sự biến đổi các giá trị văn hoá nói chung và giá trị văn hoá trong lễ hội nói riêng đã làm rõ được một số giá trị văn hóa trong các lễ hội cụ thể của nhiều vùng miền trên cả nước, như:

Nguyễn Thị Hiền Oanh “Sự chuyển đổi các giá trị văn hoá trong nền kinh tế thị trường” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009; Trần Ngọc Thêm,

“Giá trị và sự chuyển đổi giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009; Tô Duy Hợp “Bàn về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại từ hướng tiếp cận hệ giá trị văn hoá” Đề tài

KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009; Nguyễn Thị Phương Châm (chủ

nhiệm) “Biến đổi văn hoá ở một số làng thuộc Bắc Ninh trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá hiện nay” Đề tài NCKH, Viện nghiên cứu văn hoá,

Viện KHXHVN, 2008

- Cuốn sách “Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Nhà xuất bản Từ điển Bách

khoa do PGS.TS Nguyễn Duy Bắc làm chủ biên đã xây dựng được hệ thống

lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi giá trị văn hóa Đồng thời

đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa trong

Trang 9

9

điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách về phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành các giá trị văn hóa mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

* Các công trình, tác phẩm chuyên bàn về lễ hội dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Cuốn sách của Phạm Thị Thanh Quy “Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay”, Nhà xuất bản Lao động, năm 2009 đã nghiên cứu về thực trạng công tác

tổ chức quản lý các lễ hội cổ truyền ở vùng Thủ đô Hà Nội, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống chống lại những luồng văn hoá ngoại lai, làm biến dạng bản sắc văn hoá dân tộc

- Công trình đồ sộ “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” của nhiều tác

giả, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc và Tạp chí văn hoá nghệ thuật, năm 2000

đã khái quát về lịch sử nghiên cứu lễ hội, nêu lên các tiêu chí phân loại lễ hội

và xây dựng phương pháp tiếp cận về lễ hội cổ truyền Đồng thời, đem lại cái nhìn tổng quan về lễ hội cổ truyền thông qua việc nghiên cứu 211 lễ hội tiêu biểu, với cách sắp xếp và nghiên cứu lễ hội gắn với từng vùng văn hoá, đã có được ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định trong việc sưu tầm, nghiên cứu lễ hội cổ truyền ở Việt Nam hiện nay

- Đề tài khoa học “Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định” do Sở Văn hoá thông tin tỉnh Nam Định chủ trì, chủ nhiệm

đề tài Nguyễn Văn Bút - Phó Giám đốc Sở VHTT Nam Định, thực hiện năm

2007 là công trình nghiên cứu khá đồ sộ, chuyên sâu về lễ hội của tỉnh Nam Định Đề tài đã nghiên cứu, khảo sát các lễ hội ở Nam Định một cách có hệ

Trang 10

10

thống, chọn lọc đưa ra nhận định khách quan về các lễ hội, nghiên cứu, khảo

tả chi tiết các lễ hội điển hình, đề tài cũng đã chỉ ra những mặt tích cực và tồn tại trong tổ chức và quản lý lễ hội, từ đó khuyến nghị một số giải pháp cụ thể

về tổ chức và quản lý lễ hội ở Nam Định hiện nay

Các công trình, tác phẩm đã đi sâu về mặt lý luận, phương pháp nghiên cứu và xây dựng được những quan niệm về giá trị, hệ giá trị văn hoá truyền thống, đã trình bày hệ thống các lễ hội truyền thống, những giá trị văn hoá của nhiều lễ hội trên cả nước Qua đó, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra một số biến đổi của lễ hội và giá trị văn hoá của lễ hội Song, việc nghiên cứu dưới góc độ triết học về giá trị văn hoá truyền thống trong các lễ hội ở tỉnh Nam Định thì chưa được thực hiện một cách hệ thống Mặt khác do tác động mạnh của mặt trái kinh tế thị trường, của đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng, những giá trị văn hoá truyền thống trong các lễ hội ở tỉnh Nam Định đang có

xu hướng biến đổi phức tạp Do vậy, cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về sự biến đổi đó, thấy được những vấn đề bức thiết đang đặt ra và đề ra giải pháp phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hoá

truyền thống trong lễ hội ở Nam Định Chính vì vậy, đề tài “Giá trị văn hoá

truyền thống trong lễ hội ở tỉnh Nam Định và việc phát huy các giá trị ấy trong giai đoạn hiện nay” nhằm góp phần thực hiện yêu cầu này, có ý nghĩa

Trang 11

11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

+ Mô tả một số lễ hội truyền thống tiểu biểu và khái quát một số giá trị văn hoá truyền thống trong các lễ hội ở Nam Định

+ Phân tích thực trạng sự biến đổi của các giá trị văn hoá truyền thống

trong lễ hội ở Nam Định và những vấn đề đặt ra hiện nay

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là các giá trị văn hoá trong lễ hội truyền thống ở Nam Định dưới góc độ triết học

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các lễ hội truyền thống tiêu biểu ở Nam Định do chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về văn hoá, bản sắc văn hoá, giá trị văn hoá truyền thống

Trang 12

12

Luận văn kế thừa kết quả của các công trình, đề tài nghiên cứu liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết hợp

sử dụng các phương pháp: lịch sử và lôgic; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; điều tra thực tế, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá nhằm đạt mục đích và nhiệm vụ mà luận văn đã đề ra

6 Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn

Luận văn làm rõ một số giá trị văn hoá truyền thống trong các lễ hội ở Nam Định, phân tích thực trạng sự biến đổi của các giá trị văn hoá ấy; bước đầu đề xuất một số giải pháp định hướng phát huy hơn nữa các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định giai đoạn hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm cơ sở lý luận trong việc hoạch định chính sách, quy chế tổ chức và quản lý lễ hội của địa phương, làm cho các giá trị văn hoá truyền thống được phát huy hơn nữa và lễ hội ngày một tốt hơn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết:

Chương 1: Giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định

Chương 2: Sự biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống trong lễ hội ở

Nam Định và giải pháp phát huy các giá trị ấy hiện nay

Trang 13

13

Chương 1 GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TRONG LỄ HỘI Ở

NAM ĐỊNH 1.1 Giá trị văn hoá truyền thống và lễ hội truyền thống

1.1.1 Giá trị truyền thống và giá trị văn hoá truyền thống

1.1.1.1 Giá trị và giá trị văn hoá

Giá trị (Value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau,

trong mỗi bộ môn khoa học, khái niệm này lại mang những hàm nghĩa rộng, hẹp, cụ thể khác nhau Trước thế kỷ XIX, những kiến thức về giá trị học gắn liền với triết học Đến đầu thế kỷ XX, giá trị học mới hình thành như một khoa học riêng và khái niệm giá trị trở thành trung tâm của giá trị học Song, khái niệm giá trị cũng có nhiều cách tiếp cận, do các công trình nghiên cứu xuất phát từ những góc độ khoa học, những mục đích khác nhau

Từ điển Bách khoa toàn thư Xô viết định ghĩa:

Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích [40, tr 72]

Trong tài liệu Giáo dục giá trị của Bộ giáo dục thể thao Philippin khái

niệm giá trị được hiểu là: Một vật có giá trị khi nó được thừa nhận là có ích và

Trang 14

14

cần có; tiền bạc và nhà cửa có giá trị vì chúng được công nhận là có ích, và việc mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người Không chỉ có hàng hoá vật chất mà cả lý tưởng và những khái niệm đều có giá trị như “sự thật”, “lương thiện” và “công lý” [40, tr 73]

V.E.Đaviđôvích thì quan niệm rằng, “giá trị, sự đánh giá, cái được ưa thích, cái được mong đợi, cái được chờ đợi, nội dung tốt - tất cả những điều

đó nói lên một cái gì đó tích cực đối với con người và đời sống của con người” [40, tr 73]

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, song cách tiếp cận giá trị từ góc độ triết học được xem là có tính khái quát nhất

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính nhận thức được và tính thực tiễn của giá trị Giá trị là những hiện tượng xã hội đặc thù và nguồn gốc của mọi giá trị đều từ quá trình lao động sáng tạo của con người Giá trị không phải là ý niệm về sự vật hay chuẩn mực chủ quan về

sự vật mà là những hiện tượng xã hội hiện thực có ý nghĩa hiện thực đối với con người Song, giá trị bao giờ cũng được xác định trong mối quan hệ giữa một bên là khách thể - bản thân sự vật, với những thuộc tính khách quan của

nó, và một bên là chủ thể - con người với sự cảm nhận, đánh giá về khách thể

Xét về mặt khách thể, giá trị là khách quan bởi vì sự vật mang trong chính mình những thuộc tính có thể thoả mãn những nhu cầu hết sức đa dạng

và không ngừng tăng lên của con người, mang lại lợi ích cho con người, được con người cảm nhận và đánh giá Giá trị không phải là chủ quan mà là những chuẩn mực chung trong đời sống của cộng đồng, là sản phẩm của sự đánh giá

và xác nhận của xã hội, được thực tiễn kiểm nghiệm, được lịch sử xác nhận là phù hợp với yêu cầu tồn tại và phát triển của mỗi xã hội Cần nhấn mạnh rằng, “giá trị là ý nghĩa của sự vật, hiện tượng chứ không phải bản thân sự vật

Trang 15

15

hiện tượng và chỉ có thể là sự vật, hiện tượng mang giá trị mà thôi” [40,tr 75]

“Phải phân biệt giá trị với quan hệ, giá trị với hoạt động, giá trị với các sự vật của hiện thực để khẳng định rõ giá trị chỉ là những thuộc tính chính diện (mặt tích cực trong ý nghĩa) chứ không phải bất kỳ thuộc tính nào” [23, tr 374]

Xét về mặt chủ thể, giá trị phải là sự cảm nhận, đánh giá của con người đối với khách thể Việc xác định giá trị phụ thuộc nhiều yếu tố, tuỳ vào mỗi lúc, mỗi nơi, mỗi chủ thể, nên không có một chuẩn chung để đong, đo giá trị cho mọi đối tượng Một sự vật, hiện tượng đối với chủ thể này là có giá trị, đối với chủ thể khác lại không có ý nghĩa gì cả, thậm chí cùng một chủ thể ở thời điểm này thì có giá trị nhưng ở thời điểm khác nó lại là phản giá trị Theo

đó giá trị là “những cái gì là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng

cao bản chất người” [50, tr 11] Tất nhiên, sự đánh giá của con người luôn mang tính lịch sử - cụ thể Mỗi thời đại lịch sử, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc

sẽ có những quan niệm khác nhau về giá trị, do chính quá trình lao động sáng tạo hình thành, nó được giữ gìn và phát huy trong đời sống xã hội hiện thực

Vì vậy, giá trị là một phạm trù biểu hiện trình độ văn minh, sức sáng tạo và năng lực vươn lên của con người trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, cải biến xã hội và chính mình

Cũng từ góc độ triết học còn cho thấy, giá trị của mỗi cộng đồng, dân tộc bao giờ cũng tạo thành một hệ thống các giá trị, chúng nảy sinh, tồn tại, biến đổi trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau Trong những hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể của mỗi cộng đồng, dân tộc lại luôn tồn tại hệ giá trị tổng quát (gồm những giá trị chung nhất, mang tính phổ quát, có vai trò định hướng đối với mọi hoạt động của cả cộng đồng, dân tộc) và hệ giá trị bộ phận (là những giá trị được đúc rút trong từng lĩnh vực của đời sống và có vai trò định hướng trong từng lĩnh vực riêng lẻ ấy)

Trang 16

- Theo chiều dài lịch sử giá trị được chia thành giá trị truyền thống và giá trị hiện đại

- Nhìn từ nhu cầu xã hội, hệ thống giá trị được phân loại dựa vào các lĩnh vực nhu cầu khác nhau của đời sống con người: giá trị thuộc về mặt sinh học; giá trị kinh tế; giá trị tri thức; giá trị tâm linh; giá trị chính trị

Ngoài ra còn có những giá trị chung cho toàn nhân loại, có những giá trị riêng của một cộng đồng, dân tộc hay của cá nhân; có những giá trị nội sinh và có những giá trị ngoại nhập…

Đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra những khái niệm khác nhau về giá trị Mặc dù cách tiếp cận, mục đích và ngôn từ diễn đạt không đồng nhất, song qua các khái niệm, quan niệm về giá trị nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số điểm chung sau:

Thứ nhất, giá trị là những cái có thể thoả mãn những nhu cầu tích cực

của con người và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Khẳng định điều này cũng có nghĩa là đã phân biệt với những cái không mang giá trị, “phản giá trị”, “vô giá trị”, đi ngược lại xu hướng phát triển của lịch sử, ngăn cản sự tiến

bộ của xã hội Giá trị là cơ sở, chuẩn mực để dựa vào đó con người xác định mục đích, phương hướng hoạt động, là cơ sở để đánh giá thái độ, hành vi đúng sai, nên làm hay không làm “Nói đến giá trị là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với

Trang 17

17

cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [6, tr 16]

Thứ hai, giá trị có tính lịch sử khách quan, nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại

hay mất đi của một giá trị cụ thể nào đó không phải do ý thức của con người,

mà do yêu cầu của thời đại lịch sử Điều này cho thấy, giá trị hay một hệ giá trị không phải là cái “nhất thành bất biến” trái lại nó luôn biến đổi, chuyển đổi theo lịch sử và do yêu cầu của thực tiễn

Thứ ba, giá trị bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố thuộc về chủ thể, qua

đó nó thể hiện sự lựa chọn, đánh giá và xác nhận của chủ thể

Thứ tư, giá trị còn được xác định trong mối quan hệ thực tiễn với con

người Giá trị phải được đánh giá và kiểm nghiệm bởi thực tiễn Tiêu chuẩn chân lý của giá trị phải là thực tiễn, do đó một sự vật hiện tượng có giá trị hay không không chỉ căn cứ vào nhu cầu, lợi ích của chủ thể mà còn phải căn cứ vào thực tiễn, vào hiệu quả xã hội của những hoạt động mà chủ thể nhằm theo đuổi giá trị ấy

Thứ năm, giá trị khi đã được xác nhận sẽ trở thành động lực và là

khuôn mẫu cho mọi hoạt động của con người, vì mỗi cá nhân để hoàn thiện nhân cách của mình đều cần đối chiếu những mục đích, nhu cầu của mình với

hệ giá trị đã được hình thành

Như vậy, dưới góc độ triết học giá trị “là một phạm trù triết học dùng

để chỉ ý nghĩa tích cực của các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ… (cả vật chất lẫn tinh thần) đối với một cá nhân, một cộng đồng, một giai cấp, một

xã hội hay toàn thể nhân loại trong một điều kiện lịch sử cụ thể Điều đó cũng

có nghĩa là, các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ… có thể được coi là có giá trị khi chúng có khả năng thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần mang tính tích cực, lành mạnh của con người” [40, tr 75]

Trang 18

18

Văn hoá là một hiện tượng xã hội rất đa dạng, phong phú và phức tạp Thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại Nó bắt nguồn từ gốc chữ la tinh “cultura” - có nghĩa là canh tác, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển, tôn trọng Các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đã đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá, do chỗ khái niệm văn hoá có nội hàm rất rộng, chứa đựng nhiều sắc thái, nhiều nội dung khác nhau Trải qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm văn hoá được bổ sung thêm nhiều nội dung mới Song, dù tiếp cập văn hoá dưới góc độ nào thì “mọi người đều dễ dàng đồng ý với nhau rằng văn hoá là cái chỉ có ở con người, ở các cộng đồng người, ở các dân tộc, không kể là lạc hậu hay tiên tiến” [7, tr 7] Văn hoá là phạm trù Người, nó chỉ toàn bộ đời sống con người trong mối quan hệ với thiên nhiên và quan hệ với nhau trong xã hội, ở đó kết tinh toàn bộ những giá trị, phương thức sống, năng lực hoạt động và trình độ phát triển của chính con người Với nghĩa rộng nhất văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [32,

tr 431] Đây được xem là định nghĩa của Hồ Chí Minh về văn hoá, tuy Người không dùng thuật ngữ giá trị song khi cho rằng văn hoá được sáng tạo “nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” thì có nghĩa rằng văn hoá là giá trị, cái gốc của văn hoá là giá trị

Văn hoá được hình thành như là một đòi hỏi tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của con người với tư cách là thực thể có nhân bản, có khát vọng

Trang 19

19

vươn tới những giá trị phổ quát Chân - Thiện - Mỹ Văn hoá chứa đựng những chuẩn mực theo khuynh hướng tiến bộ, nhân văn, quay trở lại “giáo hoá” con người và định hướng lý tưởng, đạo đức, tri thức cho con người Quá trình đó, văn hoá thực hiện chức năng cao đẹp là bồi dưỡng nhân tính, hoàn thiện nhân cách và định hướng hoạt động của con người Với ý nghĩa như vậy, văn hoá trở thành mục tiêu, động lực cho sự phát triển con người, sự tiến bộ xã hội

Giá trị, như đã phân tích có nhiều cấp độ, nhiều lĩnh vực khác nhau song giá trị văn hoá là rộng nhất, bao trùm nhất, vì theo nghĩa rộng văn hoá là tất cả những gì “do con người sáng tạo ra” Song, đã có nhiều quan niệm về

“giá trị văn hoá” theo nghĩa hẹp và đồng nhất “giá trị văn hoá” với “giá trị đạo đức”, “giá trị tinh thần” hoặc với “chuẩn mực” Theo chúng tôi những quan niệm như vậy là không đúng, bởi lẽ, văn hoá rộng hơn đạo đức, đạo đức chỉ là một khía cạnh, một thành tố của văn hoá, văn hoá không chỉ là tinh thần và hệ giá trị văn hoá gồm cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần Trong giá trị văn hoá có các chuẩn mực nhưng không hoàn toàn là một, giữa chúng được phân biệt với nhau theo tiêu chí thời gian Giá trị văn hoá có tính lịch sử (gồm các giá trị do con người sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại) trong khi chuẩn mực là những giá trị mà con người hướng tới trong hiện tại và tương lai Như vậy, “Giá trị văn hoá đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm tất cả các loại giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý, giá trị ký hiệu học, giá trị toán học, v.v , vì mọi giá trị và hệ giá trị do con người sáng tạo ra đều thuộc văn hoá

cả rồi” [47, tr 100]

Giá trị văn hoá biểu hiện ở nhiều loại giá trị khác, bởi lẽ bên cạnh giá trị đặc thù của mỗi lĩnh vực còn có những chuẩn mực chung để điều chỉnh hành vi, định hướng hoạt động của con người trong việc ứng xử với môi trường, ứng xử với xã hội và chính mình, nhờ đó con người thoả mãn được

Trang 20

20

nhu cầu trong lĩnh vực nhất định để góp phần vươn tới sự hoàn thiện Nói cách khác giá trị văn hoá là một “thấu kính” phản chiếu mọi chiều cạnh của đời sống xã hội, nó có trong toàn bộ các quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội Cho nên, văn hoá và giá trị văn hoá là những gì còn đọng lại sau khi người ta đã quên đi những cái khác và nó là cái khiến con người theo đuổi không mệt mỏi Cái còn lại, cái khiến con người theo đuổi chính là cái tinh tuý - cái thăng hoa bản chất - linh hồn xã hội, làm cho chúng trở thành bản sắc của dân tộc, đặc trưng của xã hội, diện mạo Người của mỗi cá nhân

Giá trị văn hoá là hạt nhân, là cái tinh tuý nhất chứa đựng trong các hiện tượng văn hoá Giá trị văn hoá do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong lịch sử, biểu hiện năng lực sáng tạo, năng lực lựa chọn của con người và một khi hệ giá trị văn hoá được hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong xã hội ấy

Đối với mỗi cộng đồng dân tộc, giá trị văn hoá là một thuộc tính cơ bản của nền văn hoá dân tộc, được phát hiện trong mối quan hệ tương tác giữa chủ thể đánh giá với nền văn hoá đó Giá trị văn hoá được ẩn chứa trong văn hoá nên nó là một thuộc tính khách quan Vì nhu cầu phát triển, con người khai thác nhân tố tích cực của văn hoá và có sự đánh giá về giá trị của văn hoá

Tuy nhiên việc phát hiện ra các giá trị văn hoá không phải là sự quy chụp, áp đặt những nhu cầu của con người đối với văn hoá mà ngược lại để thoả mãn những nhu cầu tích cực của mình mà con người phải đi tìm những hạt nhân tích cực nhất, tinh tuý nhất, phù hợp nhất trong chính nền văn hoá Các Mác cũng khẳng định, văn hoá là phương thức hoạt động sống của con người, phương thức mà con người “nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” [10, tr 137] Giá trị văn hoá không phải là cái bất biến mà là cái có tính lịch sử, nghĩa là cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử giá trị văn hoá

Trang 21

21

cũng luôn có sự thay đổi cho phù hợp Bởi vì, bản thân văn hoá - cái chứa đựng những giá trị văn hoá - đã bao hàm trong nó sự giao tiếp, sự trao đổi, sự lan toả không ngừng Quá trình đó, tất yếu mang theo những thay đổi của giá trị văn hoá mà con người cần tìm tòi, khám phá để đáp ứng nhu cầu phát triển

và tiến bộ xã hội

1.1.1.2 Giá trị truyền thống và giá trị văn hoá truyền thống

Ngày nay, trong đời sống của bất kỳ một dân tộc nào, trên mọi lĩnh vực

của quá trình phát triển luôn có mặt cả hai yếu tố truyền thống và hiện đại

Lĩnh vực thường được nói đến nhiều nhất, làm thành nền tảng cho tất cả các lĩnh vực khác đó là lĩnh vực văn hoá Để văn hoá và giá trị văn hoá trở thành động lực cho sự phát triển bền vững của xã hội thì cần phải nhìn nhận yếu tố truyền thống và hiện đại trong sự vận động, đan xen, hoà nhập vào nhau, làm thành diện mạo văn hoá của một dân tộc Mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định, song những truyền thống văn hoá tốt đẹp của mỗi dân tộc là nhân lõi làm nên bản sắc văn hoá của dân tộc ấy

Truyền thống là một từ Hán - Việt, được sử dụng khá phổ biến trong

tiếng Việt hiện nay Khái niệm này đã có nhiều định nghĩa khác nhau Khi nói đến truyền thống người ta thường nghĩ ngay đến những thói quen, tục lệ được lặp lại nhiều lần và được truyền qua nhiều thế hệ “Đó là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người trong lịch sử và đã trở thành ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài” [8, tr 9] Theo quan điểm này, cái được gọi là truyền thống chỉ khi nào nó trở thành một bộ phận thiết yếu, bảo tồn và có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta Truyền thống có thể được xem xét trên ba khía cạnh: “truyền thống như là một phần của cuộc sống, truyền thống như là

Trang 22

xã hội luôn vận động, biến đổi nên những truyền thống được hình thành ở đó cũng không thể bất biến Mỗi khi hoàn cảnh lịch sử - xã hội thay đổi thì cũng

có những sự biến đổi của truyền thống, vừa kế thừa và loại bỏ, vừa bổ sung và phát triển Quá trình ấy, truyền thống vẫn giữ lại những yếu tố nhân lõi bên trong của nó Song phải thừa nhận rằng, tính trội của truyền thống là bền vững, bảo thủ, chậm thay đổi so với hoàn cảnh lịch sử - xã hội Vì vậy, trong mỗi thời điểm nhất định thì truyền thống bao giờ cũng mang tính hai mặt: mặt tích cực và mặt tiêu cực Có những truyền thống tích cực tạo ra sức mạnh cho dân tộc, song lại có những truyền thống tiêu cực cản trở sự phát triển của của

dân tộc Chính C.Mác trong tác phẩm Ngày mười tám tháng sương mù của Lui Bônapáctơ đã viết: “Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng

như quả núi lên đầu óc những người đang sống Và ngay khi con người có vẻ như đang ra sức tự cải tạo mình và cải tạo sự vật, ra sức sáng tạo ra một cái gì chưa từng có, thì chính trong những thời kỳ khủng hoảng cách mạng như thế,

họ lại sợ sệt cầu viện đến những linh hồn của quá khứ” [9, tr 145]

Sự liên hệ, sự ràng buộc của quá khứ với hiện tại, của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau luôn đòi hỏi mỗi thế hệ trong khi tiếp nhận truyền thống phải đứng trên quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử - cụ thể Chủ tịch Hồ Chí

Minh, trong tác phẩm Đời sống mới cũng đã viết:

“Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, cái gì cũng làm mới

Trang 23

Cái gì cũ mà tốt, thì ta phải phát triển thêm Thí dụ: Ta phải tương thân

tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước

Cái gì mới và hay, thì ta phải làm Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm

việc cho có ngăn nắp” [33, tr 94 - 95]

Như vậy, truyền thống của một dân tộc không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do con người tự lựa chọn cho mình, mà nó được hình thành, được quy định bởi chính những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân tộc

đó đã trải qua Cùng với thời gian, truyền thống của mỗi dân tộc được đổi mới, bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới

Giá trị truyền thống là một khái niệm tổng hợp của hai khái niệm giá trị và truyền thống Song, truyền thống như đã phân tích có mặt tích cực và

mặt tiêu cực, có thể thúc đẩy và có thể kìm hãm sự phát triển xã hội Còn giá trị thì lại bao gồm các giá trị cũ được tạo ra trong lịch sử và các giá trị mới được tạo ra trong hiện tại Do vậy, giá trị truyền thống không bao gồm tất cả mọi truyền thống và mọi giá trị Nói cách khác, không thể đồng nhất truyền thống hoặc giá trị với giá trị truyền thống Khi nói đến giá trị truyền thống là chỉ nói tới những truyền thống tốt đẹp “tạo nên các giá trị và bản sắc riêng cần phải được duy trì, bảo tồn và phát triển”, nghĩa là “những truyền thống nào đã

có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt bởi thời gian, đã có sự chọn lọc, sự phân định và sự khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [8, tr 10]

Để thẩm định một giá trị truyền thống nào đó đương nhiên không thể

Trang 24

24

dựa vào ý muốn chủ quan, duy ý chí của một ai đó Sự thẩm định đó trước hết phải dựa trên cơ sở khách quan, tức là phải xuất phát từ cội nguồn lịch sử đã qua, từ những đòi hỏi của thực tiễn, trên nền tảng kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và đời sống tinh thần của con người tại thời điểm thẩm định Bên cạnh sự thẩm định khách quan thì vai trò tích cực của nhân tố chủ quan nhằm bảo vệ các chân giá trị và ngăn chặn các phản giá trị của truyền thống cũng hết sức quan trọng Chỉ những truyền thống nào được thẩm định như vậy mới trở thành giá trị truyền thống, nó sẽ tồn tại và phát huy tác dụng lâu dài Cũng cần phải phân biệt những giá trị truyền thống với những giá trị nhất thời, có tác dụng trong phạm vi hẹp; với các giá trị đang phai nhạt dần hoặc đã lỗi thời

và với cả những cái đang hình thành Phân biệt được điều này mới thấy rõ to lớn của những giá trị truyền thống

Giá trị truyền thống của một cộng đồng, dân tộc không phải tự nhiên sẵn có, mà đó là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa được chắt lọc, cô đúc nên từ tất

cả các di sản truyền thống trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc “Toàn bộ giá trị truyền thống của dân tộc là cái thể hiện cô đọng nhất, độc đáo nhất, rõ nét nhất bản sắc dân tộc Chính vì vậy, không thể đồng nhất cũng như không thể tách rời giá trị truyền thống với văn hoá dân tộc mà giá trị truyền thống là một bộ phận của văn hoá, hơn thế là bộ phận cốt lõi nhất làm nên sức mạnh nội sinh của một nền văn hoá” [38, tr 85 - 86]

Cũng như văn hóa, giá trị truyền thống của dân tộc sẽ thay đổi, biến đổi theo sự vận động của lịch sử, của đời sống xã hội Trong quá trình biến đổi, giá trị truyền thống vẫn giữ được cái cốt lõi của nó và được bổ sung hay thay đổi hình thức cho phù hợp với yêu cầu mới của thực tiễn Tính chất mềm dẻo, linh hoạt của giá trị truyền thống làm cho nó có sức mạnh và khả năng huy động sức mạnh của các thế hệ trước giúp thế hệ sau vượt qua khó khăn, thách thức Giá trị truyền thống có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử hình

Trang 25

khái niệm không đồng nhất Đã có một số cách phân biệt hai khái niệm này:

“Văn hoá truyền thống chỉ chung toàn bộ hệ thống văn hóa tồn tại trong lịch

sử, còn truyền thống văn hoá là chỉ cái nội dung tương đối ổn định và liên tục trong sự phát triển của hệ thống văn hóa, là tinh thần cơ bản của văn hóa” [51,

tr 58] Trong bài viết Văn hoá cổ truyền, văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá (Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4 năm 2006), tác giả Nguyễn

Xuân Kính đã phân tích quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu và đi đến nhận định: Nếu văn hoá truyền thống là khái niệm dùng để chỉ một cấu trúc văn hóa, chỉ văn hoá của các xã hội nông nghiệp truyền thống, thì truyền thống văn hóa là khái niệm dùng để chỉ sự tồn tại của những yếu tố không thay đổi của văn hoá Qua hai quan điểm này, chúng ta thấy có điểm tương đồng trong

sự phân biệt giữa văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá đó là văn hoá truyền thống là chỉ cái toàn bộ, cái chứa đựng còn truyền thống văn hoá là cái

bộ phận, cái được chứa đựng

Ngoài ra, mỗi khái niệm văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá cũng được các nhà nghiên cứu sử dụng nhằm phản ánh những nội dung lý luận và thực tiễn khác nhau:

- Văn hoá truyền thống là khái niệm được dùng trước hêt để phân biệt với cái được gọi là văn hoá mới, văn hoá hiện đại và thường để chỉ toàn bộ hệ thống, cấu trúc văn hóa của những xã hội nông nghiệp hoặc tiền công nghiệp

Văn hoá truyền thống với tính cách là danh từ, mang tính chất định danh

nhằm xác định về một nền văn hóa, một cấu trúc văn hoá được hình thành

Trang 26

26

trong một giai đoạn lịch sử mà những giá trị của nó hiện nay vẫn được kế thừa

và phát huy, như: văn hoá Đông Sơn; văn hoá nông nghiệp lúa nước; văn hoá Đại Việt…

- Truyền thống văn hoá là hệ thống giá trị văn hóa đã hình thành và luôn được bổ sung để trở thành phẩm chất của một dân tộc, và tự thân đã là một khái niệm có tính biện chứng, chuyển tải trong đó nội hàm là hành vi sáng tạo văn hóa của cộng đồng Truyền thống văn hoá là quan niệm cơ bản

về các giá trị do lịch sử truyền lại thể hiện bản chất đặc thù của một cộng

đồng người Truyền thống văn hoá với tính cách là tính từ, mang tính chất

định tính nhằm phản ánh những giá trị được hun đúc, lưu truyền lại như: truyền thống yêu nước; truyền thống đoàn kết; truyền thống nhân nghĩa…

Tuy nhiên, điểm tương đồng giữa văn hoá truyền thống và truyền thống văn hóa là rất lớn, nhiều khi không cần thiết phân biệt rạch ròi, nhất là trong điều kiện hiện nay chúng ta đang chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình đổi mới và hội nhập Hàng loạt bài viết

qua các Hội thảo về vấn đề này, các tác giả đều cho rằng khi nói: bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tức là bảo tồn và phát huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Tác giả Đinh Xuân Dũng trong cuốn sách

Mấy cảm nhận về văn hoá có viết: “Khi nói văn hoá truyền thống, chủ yếu

chúng ta muốn nói đến những thành quả văn hóa do cha ông chúng ta đã xây đắp và phát triển trong quá khứ và nó đã làm nên cái bản sắc, cái độc đáo, cái đặc trưng của văn hoá dân tộc ta Truyền thống đó gắn chặt với nông thôn Việt Nam, với làng quê Việt Nam - cái nôi vĩ đại nuôi dưỡng và phát triển văn hóa dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử” [12, tr 105] Trên thực tế, văn hoá truyền thống hay truyền thống văn hoá thường được dùng để chỉ những giá trị văn hóa đã được hình thành trong lịch sử, được lưu truyền qua các thế hệ

Trang 27

27

Do đó, giá trị văn hoá truyền thống là những giá trị văn hoá bền vững, tiêu biểu cho bản sắc văn hoá dân tộc, có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của dân tộc đó trong suốt chiều dài lịch sử, được giữ gìn, kế thừa từ thế

hệ này sang thế hệ khác

Có thể nói, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là sự kết tinh toàn

bộ tinh hoa văn hóa được chắt lọc, cô đúc từ tất cả các hoạt động của một dân tộc trong suốt quá trình hình thành và phát triển Giá trị văn hóa truyền thống

là cái thể hiện cô đọng nhất, độc đáo nhất, rõ nét nhất bản sắc văn hoá dân tộc, là bộ phận cốt lõi nhất làm nên sức mạnh nội sinh của nền văn hoá và bản lĩnh của dân tộc

1.1.2 Quan niệm về lễ hội truyền thống

1.1.2.1 Lễ hội và phân loại lễ hội

Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hình thành và phát triển theo lịch sử xã hội loài người Dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã để lại cho các thế hệ chúng ta hôm nay

và mai sau những truyền thống vô cùng quý giá, trong đó có hệ thống lễ hội văn hoá đặc sắc Lễ hội, một di sản văn hoá quý báu đã tồn tại đồng hành và tạo nên ký ức văn hoá của dân tộc Vượt qua thời gian, lễ hội đã lan toả và có sức sống lâu bền trong đời sống nhân dân

Có nhiều khái niệm khác nhau về Lễ và Hội Lễ là chỉ những nghi thức được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Lễ có nghĩa là vái lạy, để tỏ lòng cung kính theo phong tục cũ và còn

là khuôn phép, là sự bày tỏ lòng kính trọng, lịch sự

Trong lễ hội, Lễ là linh hồn, cốt lõi và là phần quan trọng nhất, được mọi người chú trọng đầu tư cả về thời gian, công sức, tiền bạc Các nghi thức của phần lễ thường gồm các động tác, các bài văn tế và các lễ vật để cúng

Trang 28

28

tiến Lễ vật thường là những sản phẩm của địa phương như xôi, oản, hoa quả hoặc sản phẩm độc đáo liên quan đến nhân vật được thờ Nghi lễ gồm tổng thể những hoạt động văn hóa mang tính thiêng liêng, được hình thành từ phong tục tập quán của dân tộc, vùng miền, quan niệm của tôn giáo, tín ngưỡng đồng thời cũng còn chịu ảnh hưởng bởi tính thời đại Phần nghi lễ thường mang tính giáo dục và tưởng niệm sâu sắc, là phần không thể thiếu trong bất kỳ lễ hội truyền thống nào

Dù là lễ hội lớn hay nhỏ cũng phải có phần nghi lễ với những nghi thức quy định rất chặt chẽ, nghiêm túc và thể hiện một cách rất công phu, đầy niềm tin sâu sắc, diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định

Phần lễ có rất nhiều loại hình khác nhau tùy vào nội dung lễ hội thuộc

về tôn giáo, tín ngưỡng, kỷ niệm sự kiện lịch sử hay tưởng niệm danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc v.v… Những người tham gia phần lễ phải là người

có uy tín, vai vế, vị trí nhất định Thực hiện các nghi thức tế lễ có chủ tế thường là bậc cao niên (già làng, trưởng bản…) có uy danh, tài đức; có người xướng lễ (dẫn nội dung); đội hành lễ gồm các nam thanh, nữ tú được tuyển lựa và một vài người phụ lễ Tất cả những người tham gia nghi lễ đều mặc lễ phục với kiểu dáng, màu sắc, hoạ tiết hoa văn khác nhau Yếu tố nghi lễ trong

lễ hội là rất quan trọng, nó tạo nên giá trị tâm linh thiêng liêng, tính thẩm mỹ, hình thành một tâm thức chung cho cộng đồng tham dự lễ hội, tạo nên môi trường mà ở đó con người có được sự cảm thông với nhau, tạo ra sinh khí mới

Theo Từ điển Tiếng Việt “Hội là cuộc vui chung cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt” [39, tr 12] Hội thường được tổ chức vào dịp kỷ niệm một sự kiện trọng đại nào đó liên quan đến nhiều người Hội mang tính cộng đồng, gồm các trò diễn, các cuộc thi tài, các trò chơi, các

Trang 29

trong cộng đồng đã truyền miệng câu nói “Vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội” Các hoạt động của hội thường được diễn ra ngay sau hoặc đồng

thời với tế lễ và thường chuyển tải ý nghĩa linh thiêng của phần lễ vào đời sống cộng đồng Lễ là cái gắn với đạo còn hội là cái gắn với đời Trong khi phần lễ diễn ra trang nghiêm, thể hiện sự tôn kính của con người đối với thần linh, tưởng nhớ công đức của các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, thì phần hội lại cực kỳ sôi động, với nhiều sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật của cộng đồng Nội dung của phần hội cũng thường được thêm, bớt, thay đổi tuỳ theo cấu trúc của lễ hội và điều kiện cụ thể của nơi tổ chức, song các hoạt động trong phần hội thường là những sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật, tín ngưỡng của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống

Các nhà nghiên cứu thường chia lễ hội thành hai phần: phần lễ và phần hội Song sự phân chia đó chỉ là tương đối Trên thực tế giữa Lễ và Hội luôn hoà quyện, đan xen với nhau “Hội” là từ chỉ thành phần ngoài Lễ (hay hội có thể coi là hình thức của lễ) ở các dịp kỷ niệm mang tính cộng đồng từ quy mô làng, bản trở lên Trong các trò diễn dân gian vốn là các trò diễn nghi lễ hoặc mang tính nghi lễ và ngược lại nhiều khi trong Lễ lại bao hàm cả tính chất Hội Nếu chỉ có Hội mà không có Lễ thì mất vẻ cung kính, trang nghiêm, ngược lại chỉ có Lễ mà không có Hội thì không còn vui nữa Chính vì vậy, từ

xa xưa nhân dân đã sáng tạo ra “lễ hội” như cuộc sống thứ hai của mình, đó là cuộc sống với hội hè, đình đám sống động màu sắc dân gian - phần cuộc sống hướng con người tới những ước mơ, khát vọng, hướng tới chân, thiện, mỹ

Trang 30

30

Lễ hội là phương thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng gồm các hoạt động nghi lễ và và các hoạt động vui chơi, giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của các cộng đồng dân cư Hiện nay, nhiều loại hình sinh hoạt cộng

đồng mới xuất hiện và cũng được gọi là lễ hội như: lễ hội hoa anh đào; lễ hội trái cây; lễ hội pháo hoa… Mặc dù được gọi là “lễ hội” song thực chất nó chỉ

là những sinh hoạt văn hoá, vui chơi, giải trí của cộng đồng tức chỉ có phần

“hội”, chứ không có hoặc ít có các hoạt động nghi lễ tức phần “lễ” Do đó, nó không mang đầy đủ nghĩa “lễ hội” như đã phân tích trên đây

Lễ hội đã và đang diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng, việc phân loại

lễ hội đã được tiến hành bằng nhiều phương pháp trên nhiều phương diện khác nhau Hai phương diện thường được đề cập nhiều nhất trong việc phân

loại lễ hội là về mặt khoa học và về mặt quản lý Nhà nước

- Về mặt khoa học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số cách phân loại

lễ hội sau:

+ Phân loại theo không gian lãnh thổ, quy mô, mức độ và phạm vi ảnh hưởng, chi phối tác động của từng lễ hội, gồm có: lễ hội mang tính quốc tế, quốc gia, vùng miền hoặc lễ hội làng

+ Phân loại theo thời gian, mùa vụ sản xuất (mang tính nông nghiệp) gồm có lễ hội: Xuân, Hạ, Thu, Đông (chủ yếu là mùa Xuân và mùa Thu)

+ Phân loại lễ hội theo tôn giáo gồm có: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hoà hảo v.v… Các lễ hội này không giới hạn về không gian mà chỉ giới hạn về thời gian tổ chức

+ Phân loại theo tín ngưỡng, gồm có: lễ hội của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, lễ hội của tín ngưỡng thờ thần làng - Thành hoàng làng, lễ hội của tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu…

+ Phân loại theo tính chất của lễ hội, gồm có: lễ hội lịch sử cách mạng,

lễ hội du lịch, lễ hội văn hoá - thể thao

Trang 31

+ Lễ hội dân gian

+ Lễ hội lịch sử cách mạng

+ Lễ hội tôn giáo

+ Lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam

Hiện nay, với sự gia tăng về số lượng và sự đa dạng về loại hình lễ hội đang rất cần có những căn cứ cụ thể hơn nữa để làm tốt việc phân loại và tổ chức, quản lý lễ hội

1.1.2.2 Lễ hội truyền thống

Sự phân tích trên đây cho thấy, việc xem xét một lễ hội cụ thể và xếp

nó thuộc loại lễ hội nào không hề đơn giản, vì, một lễ hội có thể có nhiều tiêu chí để xếp vào nhiều loại khác nhau Ngược lại, việc xác định những tiêu chí

cụ thể cho mỗi loại lễ hội cũng không dễ, do đó việc phân loại lễ hội cũng chỉ mang tính tương đối

Lễ hội truyền thống được nghiên cứu ở đây là những lễ hội có các tiêu chí: phải có cả phần “lễ” và phần “hội”; phải được hình thành, tồn tại và lưu truyền qua nhiều thế hệ, nhiều đời trước đây (từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

- theo quan điểm phân kỳ văn hoá Việt Nam của các nhà nghiên cứu như Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính đều cho rằng thời kỳ văn hoá truyền thống là

từ thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ XIX); phải thường gắn với những di tích lịch

sử - văn hoá, với sinh hoạt tín ngưỡng dân gian

Trang 32

32

Với tiêu chí đó, lễ hội truyền thống (hay còn gọi là lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian) là lễ hội được lưu truyền từ năm này sang năm khác, đời này sang đời khác, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định Lễ hội truyền thống luôn gắn với các với các địa danh, di tích lịch sử - văn hóa, với các nhân vật như: Thành hoàng làng; Tổ làng nghề; những bậc anh hùng có công dựng nước và giữ nước; danh nhân và gắn với tín ngưỡng dân gian… Lễ hội truyền

thống là sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của con người, là dịp con người được trở về với cội nguồn mang ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Đến với lễ hội truyền thống, mọi người sẽ thấy mực thước hơn, hướng tâm linh đến lễ hội mọi người được thoải mái hơn, cảm thấy những khó khăn vất vả thường ngày tan biến hết

Hàng năm ở nước ta có rất nhiều lễ hội truyền thống theo số liệu mới nhất được công bố trong Hội nghị đánh giá công tác quản lý và tổ chức lễ hội năm 2010 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức ngày 15 tháng 6 cho biết: Hiện nay cả nước ta có 7.966 lễ hội Trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,4%); 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,8%); 332 lễ hội lịch sử cách mạng (chiếm 4,2%); 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam và 40 lễ hội khác Số liệu này cho thấy, lễ hội truyền thống diễn ra khắp cả nước, rất

đa dạng, phong phú, mỗi lễ hội diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định, song các lễ hội truyền thống có những đặc điểm chung cơ bản sau:

Về thời gian:

Lễ hội thường diễn ra vào 2 dịp xuân thu nhị kỳ: mùa xuân thì mở màn

vụ gieo trồng, mùa thu là để bước vào vụ thu hoạch Đây chính là các mốc mở đầu và kết thúc, tái sinh một chu trình sản xuất nông nghiệp Mục đích chung

là để mở đầu cho sản xuất Nông - Lâm - Ngư - Nghiệp, để cầu mưa thuận, gió hoà, để cảm tạ thần linh và cầu vụ mùa sau hơn vụ mùa trước Quá trình sản

Trang 33

âm lịch)

Về không gian:

Thánh, thần là đối tượng tôn thờ, thiêng hoá của cộng đồng, và nhân dân tổ chức lễ hội cũng không ngoài mục đích đó Có thể nói, không có các vị thánh, thần thì không có lễ hội truyền thống Trong tâm thức người Việt, thuyết linh hồn chiếm địa vị chủ đạo Người Việt quan niệm rằng: Linh hồn các vị thánh, thần cần phải có chỗ trú ngụ và nơi nào linh hồn các vị thánh, thần trú ngụ thì đó là địa điểm linh thiêng Trong lễ hội truyền thống, những nghi lễ, nghi trình quan trọng thường được tổ chức tập trung tại địa điểm linh thiêng Đó là một không gian hẹp, có thể là không gian nhân tạo như đình, đền, miếu, chùa, cũng có thể là không gian tự nhiên như gò, đống, bãi… Tại những địa điểm này, cái thiêng được hiện tồn, được biểu trưng như: kiểu kiến trúc, tượng, ngai thờ, nghi vật, nghi trượng và cả những ứng xử nghi lễ

Những không gian linh thiêng nêu trên là những điểm trung tâm trong

lễ hội truyền thống của người Việt Đa phần, đến ngày giỗ của các vị thánh,

Trang 34

34

thần thì dân làng tổ chức lễ hội ở địa điểm linh thiêng Nhưng cũng có nơi, mỗi lần mở hội thì tất cả các thiết chế văn hoá tâm linh trong làng đồng thời đều tiến hành nghi lễ Và, có khi lễ hội được tổ chức chủ yếu ở một địa điểm hoặc xuất phát từ một địa điểm cố định nhưng sau đó được lan toả ra các không gian linh thiêng khác

Như vậy, không gian linh thiêng là một đặc điểm chung của lễ hội truyền thống, đó là nơi diễn ra các nghi lễ trọng tâm của lễ hội Không gian linh thiêng sẽ tạo ra sức lan toả của lễ hội và quyết định đến quy mô, phạm vi của lễ hội Nói cách khác, tình cảm, niềm tin và sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với những vị thánh, thần được thờ tại không gian linh thiêng sẽ quyết định quy mô, phạm vi của lễ hội Do đó, cùng thờ một vị thánh, thần nhưng có nơi không khí thờ cúng lạnh lẽo, ít tạo nên cảm giác linh thiêng cho khách thập phương, song có nơi lại tạo ra không khí tôn nghiêm, thu hút nhiều người đến tham dự làm cho không gian linh thiêng của lễ hội trở nên rộng lớn Đến với

lễ hội, mọi người đều mong muốn được hoà mình vào không gian linh thiêng

để tìm được sự thanh tịnh trong tâm hồn và cầu mong những điều may mắn, mong cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Về nghi thức tổ chức

Lễ hội truyền thống là lễ hội lịch sử của cộng đồng được tái hiện, được làm sống lại các giá trị tốt đẹp, được tập trung trong các nhân vật mà lễ hội thờ phụng Chính vì vậy mỗi lễ hội đều có những nghi thức tổ chức, được chuẩn bị chu đáo, nhằm làm cho lễ hội diễn ra một cách tốt nhất, thu hút nhiều người tham gia, đồng thời thoả mãn lòng mong mỏi, chờ đợi của mọi người khi ngày hội đến Thông thường người ta đưa ra các chuẩn mực chung

về quá trình chuẩn bị và các nghi thức tổ chức lễ hội như sau:

- Quá trình chuẩn bị gồm hàng loạt công việc phải làm:

Trang 35

35

+ Chọn địa điểm, trang hoàng nơi thờ tự, chuẩn bị tổ chức các trò chơi, các hoạt động văn hoá, nghệ thuật dân gian… để làm cho không khí hội trở nên sôi động và náo nức hơn

+ Chuẩn bị đồ tế tự, lễ vật (kiểm tra, lau sạch các đồ vật như cờ, tán, lọng…, chuẩn bị lễ vật với loại hoa quả ngon, các loại bánh, gạo…)

+ Chuẩn bị về con người: những người tham gia các nội dung tế lễ (quan trọng nhất là ban hành tiết), to nhất là chủ tế (người đại diện cho dân làng hầu hạ thần linh, ngoại hình khỏe mạnh, cao tuổi, phẩm chất tốt, được nhân dân yêu quý, tín nhiệm, gia sự phải là một gia đình văn hoá, con cháu phương trượng, có vị trí trong xã hội); Bồi tế (phó tế) là người kề cận chủ tế; Nội táng (hai người) giúp chủ tế vào ra; Đông xướng và Tây xướng một người hô hứng, một người hô bái và một loạt những người phục vụ có thể từ

10 đến 12 người chấp sự làm nhiệm vụ dâng đồ cúng; Chuẩn bị người khiêng kiệu, người cầm cờ… tất cả đều luyện tập kỹ lưỡng

- Nghi thức tổ chức gồm trình tự các bước:

+ Lễ cáo yết: đây là lễ xin phép thần linh được mở hội, lễ vật ở chùa thường là đồ chay, hương, hoa quả, trà… ở những nơi đình, đền thường là xôi, gà, rượu Từ sau lễ này đèn nhang luôn được thắp sáng trên bàn thờ

+ Lễ tỉnh sinh: là lễ dâng con vật cúng lên thần linh, thường là Gà, thủ Lợn, tam sinh thường ba con

+ Lễ rước nước: người ta rất coi trọng nguồn nước, nghi thức này thường tiến hành trước ngày hội chính một ngày

+ Lễ mộc dục và lễ gia quan: đây là lễ tắm cho tượng hoặc bài vị, lễ này được tiến hành trang nghiêm và kín đáo, thường là vào thời điểm ban đêm, nếu tiến hành ban ngày phải được che chắn cẩn thận Người làm lễ mộc

Trang 36

36

dục phải là người có đức độ và thường phải trai giới từ mấy hôm trước, khi làm lễ phải bịt miệng bằng một chiếc khăn đỏ để thần khí không xông tới thần linh Mộc dục xong tiến hành mặc áo cho tượng

+ Lễ rước: nghi thức mang tính thiêng liêng thể hiện sự nghênh tiếp thần linh và biểu dương uy vũ của thần Lễ rước cho thấy sức mạnh của cộng đồng đó là sức mạnh về kinh tế, về tình đoàn kết và của niềm tin đối với thần thánh Lễ rước còn cho thấy trình độ và năng lực thẩm mỹ của cộng đồng, đó

là thẩm mỹ trong trang phục, trong cờ đoàn, trong âm thanh, văn nghệ… Lễ rước có ý nghĩa lớn về mặt xã hội - văn hoá - chính trị Nó được coi là thành

tố trung tâm và là linh hồn của lễ hội

+ Đại Tế: đây là nghi thức rất quan trọng trong lễ hội, đoàn tế gồm 17 đến 19 người, những người này phải trai giới trước đó một tuần Ông chủ tế là người quan trọng nhất mặc áo dài, đội mũ, đi hài Đại tế nhằm thỉnh mời và đón rước thần linh về dự hội với dân làng đồng thời để dâng lòng tỏ bày biết

ơn tới thần linh

+ Diễn sướng dân gian và tục hèm: là nghi thức tế lễ, nghi lễ diễn tả lai lịch và công trạng của thần, thánh với quy mô lớn Tục hèm là nghi thức nhằm thể hiện một tín ngưỡng hoặc một sự tích gắn với vị thần được thờ Tục hèm thực chất là một hoạt động thể hiện sự kiêng kị của nhân dân địa phương

và người ta cho rằng bỏ qua tục này thì sẽ phạm đến sự phồn vinh của làng

Trong một lễ hội có rất nhiều nghi thức tuân theo một trình tự nhất định, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chu đáo, phải có quá trình tập luyện kỹ lưỡng và sự đồng lòng, hợp sức của nhân dân Lễ hội truyền thống của dân tộc đáp ứng một cách thiết thực, hiệu quả đời sống văn hoá tinh thần, tâm linh của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt động hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của các vùng, miền, dân tộc, tri ân công

Trang 37

37

đức các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, các bậc tiền bối đã có công dựng nước và giữ nước, đấu tranh giải phóng dân tộc Qua sinh hoạt lễ hội, nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hoá, tạo sự chuyển biến nhận thức biết ơn quá khứ, uống nước nhớ nguồn, giáo dục giá trị chân, thiện, mỹ cho nhân dân Nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc được bảo lưu, tạo nền tảng vững chắc cho văn hoá có sức đề kháng chống lại sự xâm lăng của văn hoá ngoại lai Khái quát lại, lễ hội truyền thống có 5 ý nghĩa cơ bản:

- Thứ nhất, phần lớn lễ hội truyền thống hướng con người tới cội nguồn

và truyền thống lịch sử Con người càng hiện đại thì càng có nhu cầu hướng

về cội nguồn Con người dù ở đâu, thời kỳ nào vẫn luôn phải trả lời câu hỏi: Mình đang ở đâu? Mình từ đâu tới? Khi đến với lễ hội mọi người được trở về quê cũ, thăm lại dấu tích liên quan đến các anh hùng dân tộc, các sự kiện lịch

sử, hay những vùng đất văn hóa… qua đó nhận thức được về nguồn cội của mình, tôn kính nguồn cội ấy Điều này đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Vì thế, ngày nay lễ hội luôn gắn với hành hương - du lịch

- Thứ hai, lễ hội đáp ứng nhu cầu cố kết cộng đồng, biểu dương sức

mạnh cộng đồng Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên nền tảng gắn kết nhất định, trong đó có sự gắn kết về nguồn gốc, có sự gắn kết về nhu cầu đồng cảm “Lễ hội nào cũng là, của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quốc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ, (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số

Trang 38

38

mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm) Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng” [49, tr 184 - 185]

- Thứ ba, lễ hội thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh khi lễ hội thuộc về

tín ngưỡng, tôn giáo Đời sống tâm linh đôi khi quan trọng không kém đời sống vật chất và “lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu” [49, tr 185] Ngày nay, trong nhịp sống công nghiệp hiện đại thì mỗi người có dịp đến lễ hội thắp một nén nhang cầu mong những

gì tốt đẹp thì cũng thấy tâm hồn thanh thản hơn, lấy lại trạng thái thăng bằng

- Thứ tư, lễ hội thoả mãn nhu cầu hưởng thụ văn hoá Mọi người được

hoà mình vào cuộc vui, cuộc chơi Trong cuộc sống hối hả, những trò chơi dân gian ít có điều kiện để được tổ chức và nhiều khi con người cũng không lưu tâm đến nó, nhưng tham gia lễ hội con người có dịp thăng hoa những giá trị đời sống nội tâm, có điều kiện hòa nhập vào không khí chung, từ đó tạo nên niềm vui chung của cộng đồng trong một làng quê, hay một vùng nào đó

- Thứ năm, lễ hội là môi trường để trao truyền các giá trị văn hoá từ đời

này sang đời khác Mỗi nền văn hóa, mỗi phong tục tập quán đều bắt nguồn

từ những chuẩn mực giá trị được hình thành từ sâu xa trong lịch sử dân tộc

Dù muốn hay không thì mỗi thế hệ tiếp nối đều phải đón nhận sự chi phối từ truyền thống lịch sử của dân tộc mình, trong đó có những tập quán tốt đẹp, những di sản văn hóa giá trị có tính dân tộc Qua lễ hội, tính giáo dục cộng đồng, tập thể được mọi người đón nhận với thái độ cởi mở và hồ hởi hơn Điểm quan trọng nhất trong các lễ hội là ở chỗ mỗi cá nhân tham dự một cách

tự nguyện đều cảm thấy mình là thành viên không thể tách rời cộng đồng

Trang 39

39

trong lễ hội ấy Lễ hội chính là sợi dây gắn liền quá khứ với hiện tại, là bảo tàng sống của văn hoá dân tộc góp phần cho dân tộc trường tồn

1.2 Giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định

1.2.1 Đặc điểm của Nam Định và ảnh hưởng của chúng đối với giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội hiện nay

Nam Định là tỉnh nằm ở vùng ven biển, phía Đông nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Nam và Đông nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam Diện tích tự nhiên là 1.641,3 km2 (bằng 0,5% diện tích cả nước), có bờ biển dài 72km, có nền khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, hàng năm chia thành bốn mùa rõ rệt, sự biến đổi của khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của đời sống cộng đồng

Dân số toàn tỉnh gần 2 triệu người (đứng thứ 6 trong số 63 tỉnh, thành

cả nước) đa số là người Kinh Tỉnh Nam Định gồm 10 đơn vị hành chính (09 huyện và 01 thành phố), 229 xã, phường, thị trấn Nguồn thu của tỉnh chủ yếu dựa vào nông nghiệp với 80% dân số làm nông nghiệp, bình quân đất canh tác cho một lao động thấp, thu nhập bình quân khoảng 850 USD/người/năm Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, các dịch vụ văn hoá phục vụ cho nông dân, nông thôn còn nhiều thiếu thốn

Nam Định nằm giữa 2 con sông lớn: sông Hồng và sông Đáy tạo nên địa giới tự nhiên giữa Nam Định với 2 tỉnh Thái Bình và Ninh Bình Sông Đào phân chia Nam Định thành 2 vùng Nam - Bắc Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh đa dạng và khá thuận lợi gồm: đường sắt Thống nhất qua tỉnh dài

42 km; đường bộ có quốc lộ 10, quốc lộ 21; đường sông có sông Hồng, sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ cùng hệ thống cảng sông, càng biển đang được nâng cấp và xây mới

Trang 40

40

Địa hình Nam Định được chia là 2 vùng tự nhiên:

- Phía Tây Bắc trước đây là vùng trũng thường bị ngập úng nước quanh năm và có một số đồi núi đá vôi nên rất khó canh tác Đồi núi của Nam Định không cao và có dòng chảy của khe ngòi liền kề tạo nên cảnh non nước hữu tình Non Côi - sông Vị là biểu tượng của Nam Định trong lịch sử được cả nước biết đến Đất ở đây do bị ngập nước lâu năm nên kém độ phì nhiêu, độ

PH cao, dần dần về sau được tiếp nhận phù sa của sông Hồng, sông Đáy nên đất có màu nâu tươi, độ phì cao Song, vẫn có những lòng chảo trũng nằm sâu trong đất liền, nước ngập quanh năm, ít có điều kiện cho phù sa tràn vào nên không thuận lợi cho dân cư sinh sống, canh tác

- Phía Nam được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp nên miền đất này tương đối bằng phẳng, mầu mỡ, phì nhiêu Tuy nhiên, để vùng đất này trở nên hữu ích, người dân nơi đây qua nhiều đời đã tiến hành công cuộc khai khẩn lấn biển, đắp đê ngăn mặn, đào mương tưới tiêu, thau chua rửa mặn

Lịch sử hình thành cộng đồng dân cư gắn liền với quá trình cư dân người Việt từ vùng tiền châu thổ tràn xuống chiếm lĩnh châu thổ và duyên hải Bắc Bộ Vì vậy, Nam Định là nơi hội tụ và nơi hợp cư của nhiều bộ phận dân

cư khác nhau, trong đó chủ yếu là từ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Sự hình thành cộng đồng dân cư ở Nam Định cũng đồng thời gắn liền với quá trình phát triển nền nông nghiệp thâm canh trên vùng đất phù sa màu mỡ Vì thế, mật độ dân số khu vực này khá cao so với cả nước và với đồng bằng Bắc Bộ Trong lịch sử hình thành cộng đồng dân cư Nam Định đã diễn ra hiện tượng

di cư sang các vùng đất khác như các cuộc khẩn hoang ở Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình)… Bên cạnh đó còn có hiện tượng di cư trong nội tỉnh theo hướng mở rộng khai hoang các vùng đất mới, vùng duyên hải trong thời cổ trung đại và sang thời cận đại lại có bộ phận lớn dân cư tụ họp về

Ngày đăng: 31/01/2016, 18:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
2. Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định (2008), Di tích lịch sử - văn hoá tỉnh Nam Định, NXB văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hoá tỉnh Nam Định
Tác giả: Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định
Nhà XB: NXB văn hoá dân tộc
Năm: 2008
3. Hoàng Chí Bảo (2007), “Hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”, Tạp chí cộng sản, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”," Tạp chí cộng sản
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2007
5. Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Tư điển bách khoa
Năm: 2008
6. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”, Tạp chí triết học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
7. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), “Văn hoá Việt Nam và sự phát triển lâu bền của quốc gia”, Tạp chí Triết học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam và sự phát triển lâu bền của quốc gia”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
11. Đinh Xuân Dũng (2003), “Văn hoá truyền thống trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn”, Tạp chí Cộng Sản, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống trong tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn”," Tạp chí Cộng Sản
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 2003
12. Đinh Xuân Dũng (2004), Mấy cảm nhận về văn hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy cảm nhận về văn hoá
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5, khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5, khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Nguyễn Khoa Điềm (2004) Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
20. Lương Việt Hải (2001), Hiện đại hoá xã hội một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hoá xã hội một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lương Việt Hải
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
21. Lương Việt Hải (2002), “Văn hoá truyền thống và hiện đại hoá xã hội ở Việt Nam trong thế kỷ XX”, Việt Nam trong thế kỷ XX, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống và hiện đại hoá xã hội ở Việt Nam trong thế kỷ XX”," Việt Nam trong thế kỷ XX, tập 3
Tác giả: Lương Việt Hải
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
22. Lương Việt Hải (2008), “Văn hoá, văn minh và triết học”, Tạp chí triết học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá, văn minh và triết học”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Lương Việt Hải
Năm: 2008
23. Dương Phú Hiệp (2009), “Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”, Đề tài KX.03.14/06-10, TP Hồ Chí Minh-Biên Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”," Đề tài KX.03.14/06-10
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Năm: 2009
24. Tô Duy Hợp (2009), “Bàn về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại từ hương tiếp cận hệ giá trị văn hoá”, Đề tài KX.03.14/06- 10, TP Hồ Chí Minh-Biên Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại từ hương tiếp cận hệ giá trị văn hoá”, "Đề tài KX.03.14/06-10
Tác giả: Tô Duy Hợp
Năm: 2009
25. Nguyễn Văn Huyên (1999) “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”. Tạp chí triết học (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc”. "Tạp chí triết học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w