1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

110 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN HUY TRƯỜNG

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HÀ NỘI – 2007

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN HUY TRƯỜNG

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 : ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Ở NƯỚC TA 7

1.1 Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 7

1.1.1 Nguồn nhân lực 7

1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực 19

1.2 Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 28

1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay và yêu cầu đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực 28

1.2.2 Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 45

2.1 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay 45

2.1.1 Đánh giá khái quát quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta trong thời gian qua 45

2.1.2 Những thành tựu và hạn chế của quá trình đào tạo nguồn nhân lực 62

2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay 71

2.2.1 Đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo 71

2.2.2 Tăng cường đầu tư phát triển mạnh giáo dục dạy nghề 78

2.2.3 Phát triển đội ngũ giáo viên- nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo 79

2.2.4 Đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài 82

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: CNH, HĐH Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội: KHTN, KHXH

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết

quả trong luận văn là trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2007

Người cam đoan

Phan Huy Trường

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới hiện nay đang ở trong một thời kỳ lịch sử có những chuyển biến hết sức mới mẻ, mau lẹ và đột biến cả về kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật Trước hết cần nhấn mạnh đến nhân tố quyết định sự phát triển của thế giới hiện nay là những thành tựu vĩ đại do cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đưa lại Sự bùng nổ công nghệ thông tin, sự phát triển của công nghệ sinh học, của công nghệ vật liệu mới đã tạo ra những bước tiến khổng lồ của lực lượng sản xuất Từ đó hình thành những quá trình sản xuất hết sức hiện đại, điều khiển từ xa, trong đó lao động cơ bắp của con người chỉ

là một phần nhỏ còn lao động trí tuệ có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất, tạo nên năng suất và sản phẩm gấp nhiều lần so với nền kinh tế trước đó Lực lượng sản xuất được xã hội hoá cao, với xu hướng quốc tế hoá, thị trường thế giới ngày càng mở rộng và hoà nhập hơn, các quốc gia cùng nhau phát triển và cùng giải quyết những vấn đề mang tính quốc tế phức tạp như độc lập dân tộc, bùng nổ dân số, môi trường sinh thái Điều đó chính là yếu tố quyết định sự thay đổi chương trình phát triển kinh tế xã hội của các nước trên thế giới, mà Việt Nam không phải là ngoại lệ

Để phù hợp với đặc điểm phát triển trong thời kỳ lịch sử đặc biệt này, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước

ta nhằm đưa đất nước từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại Đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội, từ sử dụng sức

Trang 7

lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến khoa học, công nghệ, phương tiện, kỹ thuật hiện đại

Trong tất cả các nguồn lực thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá như các nguồn lực về tài chính, công nghệ, thiết bị, nguồn tài nguyên thiên nhiên thì nguồn lực con người – tài nguyên chất xám trở thành nguồn lực quan trọng nhất Đảng ta đã xác định con người- nguồn nhân lực vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể thành công nếu chúng ta không chú trọng đầu tư phát triển con người, đào tạo nguồn nhân lực Mặt khác, nếu không muốn tụt hậu so với thế giới và khu vực, chúng ta phải có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hướng tới phát triển kinh tế tri thức

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản cho sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” và coi “phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [28, 24,108] Do đó, vấn đề phát triển con người, đào tạo nguồn nhân lực đang là vấn đề cấp bách, then chốt, khâu đột phá và “phải

đi trước một bước”

Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề "Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 8

Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Vấn đề này cũng được nhiều tổ chức

và nhà khoa học đầu tư nghiên cứu trong những tài liệu xít và ngoài xít Có thể phân ra thành ba loại công trình nghiên cứu sau đây:

mác-* Sách và công trình nghiên cứu khoa học:

- Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá,

hiện đại hoá ( Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, 2001)

- Phát triển toàn diện con người thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá

( Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, 2001)

- Giáo dục nhân cách đào tạo nhân lực Góp phần triển khai nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng, khoá VIII, (Phạm

Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, 1997)

- Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiêm thế giới và thực tiễn nước

ta (Trần Văn Tùng, Lê Thị Ái Lâm, Nxb Chính trị quốc gia, 2001)

Những công trình khoa học nói trên đã tập trung làm rõ các vấn đề về con người, nguồn nhân lực, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng chưa chỉ ra vai trò của đào tạo nguồn nhân lực với tư cách là nguồn nhân lực cơ bản, nguồn lực nội sinh cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cho sự phát triển kinh tế- xã hội hiện nay

* Một số bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành: “Cơ hội và

thách thức đối với việc đào tạo phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế” ( Trương Thu Hà, tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn, số

4, 2005); “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay” ( Trương Giang Long, Tạp chí Cộng sản, số 1, 2002); “Vài suy nghĩ về chuẩn bị nguồn

nhân lực cho công nghiệp hoá, hiên đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Nguyễn Văn Thuỵ, Tạp chí Cộng sản, số 35, 2003); “Đổi mới giáo

Trang 9

dục - đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” (Hoàng Ngọc Hoà, Tạp

chí Cộng sản, số 23, 2004); “Vấn đề nghiên cứu con người và nguồn nhân lực

đầu thế kỉ XXI” ( Phạm Minh Hạc, tạp chí Nghiên cứu con người, số 4,

2004); “Mối qua hệ giữa giáo dục, đào tạo và công nghiệp hoá, hiện đại

hoá” (Nguyễn Đình Hoà, Tạp chí Triết học,số 9, 2001)

Trong hầu hết các bài viết, các tác giả đã giải đáp về vấn đề đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập; giáo dục trong phát huy nguồn lực con người, phát triển nguồn nhân lực nước ta, mục tiêu con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, đổi mới giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Các tác giả đã nêu lên những bất cập và những yếu tố chưa hợp lý của chất lượng nguồn nhân lực, thành tựu và yếu kém của giáo dục và đào tạo, so sánh nguồn nhân lực với các nguồn lực khác, chỉ ra vai trò của nguồn lực con người, nêu lên tác động của thế giới đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nêu lên vai trò của giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đem lại lợi ích kinh tế và phi kinh tế…từ đó đề ra một số giải pháp khắc phục, định hướng phát triển nguồn nhân lực, nhưng chưa có tác giả nào đề nghiên cứu một các có hệ thống vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

Oanh, 1998); “Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục - đào tạo

đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiên nay”( Nguyễn Thanh, 2001) Các luận án trên đã

Trang 10

đề cập đến vai trò của nhân tố con người, quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với giáo dục và đào tạo, vai trò của nguồn lực thanh niên trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá và việc khai thác và sử dụng nó, đưa ra một

số giải pháp để phát huy vai trò nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện cả về cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trên cơ sở kế thừa các giá trị và thành quả của các nhà nghiên cứu, các tác giả đi trước, luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận

và thực tiễn của đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu:

Trên cở sở phân tích làm rõ vai trò đào tạo nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, luận văn đi sâu vào tìm hiểu thực trạng đào tạo nguồn nhân lực và đưa ra một số giải pháp để đẩy mạnh quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đào tạo nguồn nhân lực trong giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, lao động kỹ thuật; đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và đào tạo con người với tư cách vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử

- Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống để triển khai nhiệm vụ của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

- Luận văn làm rõ thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta những năm vừa qua, nguyên nhân dẫn đến sự bất cập, yếu kém của công tác này và tính khả thi của một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa quá trình đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở nước ta trong những năm tiếp theo của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho sinh viên khoa Triết học và những ai quan tâm đến vấn đề này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương

Trang 12

Chương 1 Đào tạo nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta

Chương 2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực và một số giải pháp đẩy mạnh quá trình đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay

Trang 13

CHƯƠNG 1 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA 1.1 Nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực

1.1.1 Nguồn nhân lực

* Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực trong lý thuyết phát triển và theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành và là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động để tham gia vào quá trình kinh

tế và xã hội, như nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính

Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ lao động thương binh

và xã hội, nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác

định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, ngành hay một vùng Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế

xã hội [7, 13-15]

Giáo trình Kinh tế lao động, Trường Đại học kinh tế quốc dân đưa ra

một số khái niệm : 1/ Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được

nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường 2/ Nguồn nhân lực với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế-xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động 3/ Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Theo chúng tôi, nên sử dụng khái niệm nguồn nhân lực là yếu

tố của sự phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao

Trang 14

động có khả năng lao động Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: những người trong độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 16 đến 55 tuổi đối với nữ, đều thuộc vào nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động

Nguồn nhân lực được xem xét, đánh giá trên hai bình diện “số lượng (số dân) và chất lượng con người, bao gồm cả về thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”[39, 4] “là tổng thể sức lực dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” [32,9] Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu: qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động trực tiếp sản xuất và phát triển của con người Đó là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng

về trạng thái thể lực, trí lực, kĩ năng, phong cách, đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực Đối với con người, xét đến cùng sức khoẻ là vốn quý nhất Tục ngữ Nga có câu “một tinh thần lành mạnh trong một cơ thể khoẻ mạnh” Vì vậy, sức khoẻ được coi là nguồn gốc của hạnh phúc, tài sản của mỗi con người, mỗi quốc gia, là động lực chính để phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, là sức mạnh để CNH, HĐH đất nước Trí lực là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực văn hoá tinh thần của con người Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người Bởi vì, “tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều tất yếu phải thông qua đầu óc của họ”[62, 409] Trí lực là thành phần ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn lực con người hay nguồn nhân lực Đặc biệt trong kỷ nguyên văn minh tin học ngày nay, nguồn nhân lực chỉ thực sự mạnh khi khai thác và sử dụng được tiềm năng trí tuệ của nó Do đó, nói đến nguồn nhân lực cần phải đặc biệt nhấn mạnh đến năng lực trí tuệ và tay nghề Để có được những năng lực trí

Trang 15

tuệ này, ngoài tư chất ban đầu, vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục và đào tạo,

vì nó là phương tiện hữu hiệu để phát triển trí tuệ và trang bị chuyên môn, nghề nghiệp, là giá đỡ cho tiềm năng sáng tạo của con người

Thể lực và trí lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thể lực không khoẻ mạnh sẽ hạn chế lớn tới sự phát triển của trí lực, trí tuệ của cá nhân và của cộng đồng xã hội nói chung Sức khoẻ là điều kiện tiên quyết để duy trì

và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất

“ Ngoài thể lực và trí lực, cái làm nên nguồn lực con người còn là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói quen tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng”[1, 15] vào việc tìm tòi, vào sự sáng tạo vì lợi ích của cá nhân, của cộng đồng và của toàn xã hội Với ý nghĩa đó, nguồn nhân lực bao chứa trong

đó toàn bộ sự phong phú, sự sâu sắc, sự đổi mới thường xuyên các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý, năng lực chuyên môn và tính tháo vát trong công việc hay là một tập hợp các chỉ số phát triển con người, là hành trang mà nó có được nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng xã hội và của sự kết hợp sức mạnh thể lực và trí lực, là chất lượng văn hoá mà bản thân nó và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự tiến bộ và phát triển

Bên cạnh các khái niệm về nguồn nhân lực trên, còn có một số khái

niệm khác liên quan đến nguồn nhân lực như nhân lực, sức lao động, nguồn

lao động, lực lượng lao động

Nhân lực là nguồn lực về con người, con người là nhân tố trung tâm và

là mục đích của nền sản xuất xã hội C.Mác cho rằng “sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một

cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng

Trang 16

mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [64, 217-218] Sức lao động

là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động xã hội Quá trình vận động phát triển sản xuất xã hội đòi hỏi sức lao động ngày càng

có chất lượng cao hơn

Giáo trình kinh tế lao động của Trường Đại học kinh tế quốc dân đưa ra khái niệm : nguồn lao động là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động trừ đi những người trong độ tuổi này hoàn toàn mất khả năng lao động Tuy nhiên, khi tính toán nguồn lao động xã hội thì Tổng cục thống kê cho rằng: Nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Như vậy, khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm trên là việc tính hay không tính những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc ở các ngành kinh tế quốc dân trong nguồn lao động

Khái niệm về lực lượng lao động hẹp hơn khái niệm về nguồn lao động, theo ILO, lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi qui định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm

* Đặc trưng của nguồn nhân lực

- Đặc trưng về tâm lý xã hội: con người không chỉ sống trong môi

trường tự nhiên mà còn sống trong môi trường xã hội Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động này con người cải tạo chính bản thân mình

Con người bằng hoạt động lao động của mình đã làm biến đổi bản chất

tự nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình, cho nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó chặt chẽ và khăng khít với nhau Chính những

Trang 17

hoạt động này làm biến đổi tâm lý của con người và làm cho con người mang tính người, tính xã hội và cũng chính hoạt động thực tiễn đó đã làm cho nhu cầu sinh vật ở con người trở thành nhu cầu xã hội Yếu tố tâm lý trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hoà quyện vào nhau Bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội của con người và được cải biến đi trong đó

Nhân tố con người, đặc biệt là sức lao động Yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất, nó đặc trưng cho khả năng phát triển không ngừng của sản xuất xã hội Người ta thường quan niệm nhân tố sức lao động là một phạm trù tổng hợp bao gồm các thành tố: thể lực, trí lực

Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khoẻ, y tế và sự rèn luyện của từng con người cụ thể Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội

Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật và khoa học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng tư duy xét đoán sự vật, hiện tượng của mỗi người Nhờ trí tuệ, con người đã khai thác, chế ngự thiên nhiên và sử dụng nó

để bảo tồn và phát triển xã hội của mình Trí lực của con người được phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và lao động sản xuất

Ngoài thành tố trên, nguồn nhân lực còn có tình cảm, tập quán, thói quen, phong cách, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức

nó phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người, của lịch sử phát triển từng quốc gia, dân tộc Đó là sức mạnh để phát huy tiềm năng vô tận về trí tuệ, tài năng, tình cảm, ý chí, sức mạnh nội tại của một dân tộc

Trí lực và cùng với tình cảm, tập quán, truyền thống, đạo đức, tư tưởng là bộ phận cấu thành nhân tố tinh thần, liên kết chặt chẽ với nhau

Trang 18

Nhân tố tinh thần là kết quả của quá trình tích luỹ lâu dài của xã hội, gia đình

và từng con người Sự phát triển kinh tế của một quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển xã hội Phát triển những giá trị tinh thần mới là nền tảng của một quốc gia Kinh nghiệm thành công trong quá trình phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NIC ở Châu Á là tiếp thu công nghệ, kỹ thuật phương tây trên cơ sở phát huy giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc để đổi mới và phát triển là một minh chứng rõ nét

- Đặc trưng về số lượng: Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa

trên qui mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố dân cư theo khu vực

và vùng lãnh thổ của dân số Các chỉ tiêu về số lượng này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu về qui mô tốc độ tăng dân số

- Đặc trưng về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện

thông qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

+ Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ của dân cư Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất và tinh thần và xã hội của con người Sức khoẻ là nhân tố tác động trực tiếp đến cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Người lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại lợi ích kinh tế nhiều hơn nhờ việc huy động sức mạnh, sự bền bỉ, dẻo dai và tập trung trí tuệ cao trong khi thực hiện công việc Các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sức khoẻ là thể lực (chiều cao, cân nặng), bệnh tật, tuổi thọ

+ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ học vấn của người lao động Đó là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên

và xã hội Trình độ học vấn được biểu hiện bằng tỉ lệ biết chữ, trình độ học vấn theo nhóm tuổi theo các cấp độ trong giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp

+ Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của người lao động Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết các kỹ

Trang 19

năng thực hành về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ nào đó của người lao động Đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục, đào tạo và phân tích nguồn nhân lực Việt Nam do UNESCO, UNDP và Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện

đã phân loại trình độ chuyên môn kỹ thuật như sau: Trên đại học, đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật có bằng, công nhân

kỹ thuật không bằng (và trong cuốn Thực trạng lao động –việc làm ở Việt Nam hàng năm của Bộ lao động-thương binh và xã hội cũng phân loại trình

độ chuyên môn kỹ thuật tương tự) [8]

+ Chỉ số HDI là sự kết hợp của ba thành phần cơ bản liên quan đến sự phát triển con người, đó là: tuổi thọ, tri thức ( bao gồm số người biết chữ và

số năm đi học ở trường) và mức sống của con người thông qua chỉ tiêu GDP thực tế bình quân đầu người Trong báo cáo phát triển con người năm 1990 và Báo cáo tiếp theo của UNDP đã đưa ra một loạt các chỉ số để đo lường kết quả và đánh giá thành tựu phát triển con người Chỉ số tổng hợp nhất được đưa ra từ năm 1990 và được hiệu chỉnh lại vào năm 1999 là chỉ số phát triển con người ( Human Development Index- HDI) được xác định từ ba chỉ tiêu: [

86, 16-17] Tuổi thọ tính từ khi sinh ra; trình độ giáo dục: tính tổng hợp theo tỉ

lệ biết chữ của người lớn và các tỉ lệ đi học tiểu học, trung học, đại học; Mức sống: đo bằng giá trị GDP tính bình quân đầu người thực tế theo sức mua tương đương

+ Chỉ tiêu năng lực phẩm chất của người lao động, bao gồm: tập quán, thói quen, phong cách, đạo đức, lối sống, truyền thống, văn hoá dân tộc, trong đó trình độ chuyên môn kỹ thuật là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để thể hiện chất lượng nguồn nhân lực

* Nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế- xã hội

- Nguồn nhân lực với vai trò là động lực của sự phát triển:

Trang 20

Phát triển kinh tế- xã hội dựa trên nhiều nguồn lực : nguồn lực con người, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người, nguồn nhân lực là quan trọng nhất, nó tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thông qua nguồn lực con người Do đó, mặc dù nhà máy, trang thiết bị và tài sản và nhiều nguồn lực khác có phong phú, hiện đại đến đâu mà các tổ chức cần phải có, thế nhưng nếu không có con người- nguồn nhân lực- để vận hành chúng, liên kết cho chúng hoạt động, thì mọi thứ đó cũng không có giá trị gì

Do đó, nguồn nhân lực hay nguồn lực con người vẫn là yếu tố đặc biệt quan trọng Các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu vẫn chỉ là có hạn và chỉ phát huy sức mạnh, hiệu quả và tác dụng có hiệu quả thông qua nguồn lực con người Ngay cả trong điều kiện đạt được những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại như hiện nay, thì con người luôn là nguồn sáng tạo ra thiết bị máy móc đó và điều khiển chúng hoạt động đạt mục đích của chính con người [12, 12-14] Nguồn nhân lực được xem là yếu tố nội lực quan trọng chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia và đặc biệt quan trọng đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển, dân số đông như nước ta Nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí lực có ưu thế nổi bật là yếu tố vô hạn nếu biết bồi dưỡng khai thác,

sử dụng hợp lý sẽ tạo nên một động lực to lớn có tính quyết định cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội

- Nguồn nhân lực với vai trò là mục tiêu của sự phát triển:

Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đã chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng bền vững về kinh tế và xã hội chính là con người Chi tiêu cho con người, trong nhiều trường hợp không phải là một khoản tiêu dùng đơn thuần, mà là một khoản đầu tư để hình thành một loại nguồn vốn quan trọng, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai Đó là nguồn vốn con người thông qua việc tạo lập kỹ năng, kiến

Trang 21

thức, kinh nghiệm Đầu tư vào con người thông qua hoạt động giáo dục, đào tạo, chương trình bảo đảm việc làm, thoả mãn tiêu dùng về vật chất và tinh thần, chăm sóc sức khoẻ, được xem là cách thức đầu tư hiệu quả nhất [86, 16-17] Xét về mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất của xã hội và có tác động mạnh mẽ tới sản xuất thông qua quan hệ cung-cầu hàng hoá trên thị trường và định hướng sản xuất

Tuy nhiên, khi đầu tư phát triển nguồn nhân lực, con người thường được nhìn nhận như một nguồn vốn Song về mục tiêu phát triển sản xuất nói riêng cũng như mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội nói chung, suy cho cùng là nhằm mục đích phục vụ con người Về bản chất, con người là mục tiêu, chứ không phải là phương tiện của sự phát triển kinh tế xã hội, còn phát triển kinh

tế xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho con người có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

- Nguồn nhân lực với tư cách là nguồn lực khan hiếm:

Ngày nay, cách mạng khoa học cộng nghệ đã và đang diễn ra đã tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế- xã hội và con người trong từng nền văn minh, trong từng quốc gia Con người trong mỗi nền văn minh phải có một trình độ văn hoá, một trình độ nghề nghiệp nhất định Các nghiên cứu cho thấy:

Về nguồn động lực mà con người sử dụng trong văn minh nông nghiệp

là năng lượng cơ bắp của con người và động vật, còn trong văn minh công nghiệp là năng lượng của máy công tác gồm động cơ đốt trong và động cơ điện, còn trong văn minh hậu công nghiệp là sử dụng năng lượng cả máy công tác và máy điều khiển

Về người lao động và quá trình sản xuất: trong văn minh nông nghiệp

là con người dùng cơ bắp và gắn chặt với quá trình sản xuất; trong văn minh công nghiệp là người điều khiển máy móc thay cho cơ bắp trong quá trình sản

Trang 22

xuất; trong văn minh hậu công nghiệp là máy tự động và dây truyền sản xuất

tự động, con người điều khiển toàn bộ chu trình sản xuất, trong đó năng lực tư duy, trí tuệ của con người là cực kỳ quan trọng

Cuộc cách mạng về công cụ sản xuất nói trên gắn liền với những thay đổi lớn liên quan đến lợi thế so sánh của từng quốc gia Khả năng cạnh tranh của mỗi nước ngày càng được xác định nhiều hơn bởi chất lượng các nguồn lực: con người, tri thức, khoa học, công nghệ những cái được áp dụng trong quá trình sản xuất Sự dư thừa sức lao động giản đơn và nguyên liệu ngày càng là một lợi thế so sánh ít có giá trị Chẳng những thế, nếu nguồn nhân lực chỉ chứa hàm lượng lao động giản đơn sẽ là một sức ép đối với quá trình tăng

trưởng và phát triển đối với những nước chậm phát triển [22]

Trình độ công nghệ ngày càng cao cần có nhiều thời gian đào tạo con người để làm chủ công nghệ đó Trong những thập niên gần đây, tốc độ phát triển của khoa học công nghệ diễn ra nhanh như vũ bão Cho nên, nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ và tay nghề ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia Các nước phát triển đã có nhiều chính sách thu hút nhân lực tài giỏi của các quốc gia khác Chính vì thế, nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là nguồn lực khan hiếm và càng khan hiếm hơn đối với các nước đang phát triển

* Nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất

Quan điểm triết học cho rằng: sự vận động và phát triển của lịch sử xét đến cùng là có căn nguyên xuất phát từ kinh tế Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế- xã hội trong lịch sử là dựa trên sự thay thế hợp quy luật của các phương thức sản xuất, trong đó vai trò và ảnh hưởng của con người gắn liền với hoạt động sản xuất đó, bởi vì con người là yếu tố cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất Con người chế tạo công cụ và sử dụng công cụ tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, làm ra sản phẩm để thoả

Trang 23

mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình C.Mác là người đầu tiên phát hiện

ra quy luật lịch sử của loài người, nghĩa là tìm ra sự thật giản đơn là trước hết

để tồn tại con người phải ăn, uống, mặc, ở, đi lại trước khi thực hiện các hoạt động chính trị, khoa học, nghệ thuật Nhưng muốn có cái ăn, cái mặc, nơi ở thì con người phải lao động Tuy nhiên lao động của con người không thể tuỳ tiện được mà phải có cách thức lao động, đó là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành sản xuất ra của cải vật chất trong những giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động

và tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động Lao động của con người

và tư liệu sản xuất kết hợp với nhau trong quá trình lao động tạo thành lực lượng sản xuất, mà "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động"[59, 430] Khi phân tích về lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản, C Mác viết " trong tất cả những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng" [63, 257] Như vậy, C.Mác đã khẳng định con người là yếu tố có vai trò to lớn nhất, quyết định nhất trong lực lượng sản xuất Ở đây, các ông coi con người phải

là người công nhân, giai cấp tiên tiến, nghĩa là nhấn mạnh đến "chất lượng" của người lao động- nguồn nhân lực trong lực lượng sản xuất Trong đó con người bằng sức lực và trí tuệ của mình chế tạo ra công cụ lao động và dùng công cụ đó tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của mình và xã hội trong quá trình lao động, con người đã biến những phần vật chất do tự nhiên cung cấp thành "khí quan nhân tạo" của

Trang 24

mình để nhận thức sâu hơn, xa hơn về lĩnh vực vi mô và vĩ mô của tự nhiên,

đó cũng chính là lao động sáng tạo của con người

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì công cụ lao động có vai trò quan trọng, nó là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người Với mục đích luôn muốn tăng năng suất và giảm cường độ lao động, con người đã sáng tạo ra công cụ và sử dụng nó trong sản xuất Nhờ đó mà công cụ ngày càng hoàn thiện và hiện đại Con người không chỉ quyết định sự ra đời của công cụ lao động mà còn quyết định cả quá trình vận hành chúng Máy móc, công cụ dù có hiện đại, tinh vi đến đâu, nhưng không có con người sử dụng, vận hành cũng trở thành vô ích Do đó, theo quan điểm thực tiễn, quan điểm đời sống và từ bản chất xã hội của con người, có thể nói, con người, nguồn nhân lực mang đặc trưng năng động, sáng tạo và cách mạng

Thấm nhuần những tư tưởng trên đây của chủ nghĩa Mác- Lênin, trong

sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta khẳng định " mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Chiến lược kinh tế- xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc" [30, 8] Trong quá trình đổi mới và nhất là trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, từng bước vững chắc

đi lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, khai thác và sử dụng tốt mọi tiềm năng về thể chất và trí tuệ, mọi khả năng sáng tạo của con người và của toàn thể cộng đồng dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng trọng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Ngày nay, nhờ thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

mà trí tuệ con người đã và đang được tăng lên rất nhiều, nhờ đó mà tăng thêm sức mạnh trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, hình thành lực

Trang 25

lượng sản xuất mới, trong đó máy móc thông minh trở thành một thành tố

cơ bản và là sức mạnh được vất chất hoá của tri thức con người, nó có tác dụng hỗ trợ, nhân lên khả năng lao động của con người và tăng cường sức mạnh trí tuệ của con người trong cải tạo hiện thực Do vậy, đối với nước ta, phát triển, đào tạo con người Việt Nam hiện đại vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nền tảng, tạo đà cho bước tiếp theo của sự nghiệp CNH, HĐH mà chúng ta đang thực hiện

Từ nhìn nhận đó, theo chúng tôi, nguồn nhân lực được hiểu là:

Nguồn nhân lực, nguồn lực con người là tổng thể các chỉ số phát triển người mà con người có được nhờ sự trợ giúp của cộng đồng xã hội

và sự nỗ lực của các cá nhân, là tổng thể số lượng dân và chất lượng con người, là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, kinh nghiệm sống, nhân cách đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hoá, năng lực chuyên môn và tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội

1.1.2 Đào tạo nguồn nhân lực

* Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực

Theo định nghĩa trong từ điển bách khoa: Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế- xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập ở nhà trường gắn với việc giáo dục đạo đức, nhân cách

Đào tạo là sự phát triển có hệ thống những kiến thức, kỹ năng mà mỗi

cá nhân cần có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể Sự cần thiết đó có thể do nhu cầu cá nhân của người được đào tạo hoặc do nhu cầu

Trang 26

phát triển nhân lực của tổ chức Theo mục đích học của người được đào tạo,

có các tiêu chí phân loại: đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng Tương ứng với nội dung, thời gian đào tạo và mức độ đánh giá kết quả đào tạo là bằng cấp

hay chứng chỉ

Đào tạo còn được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả Quá trình này được tiến hành chủ yếu trong cơ sở đào tạo như trường, trung tâm, viện hoặc ở cơ

sở sản xuất theo những mục tiêu, nội dung, chương trình hoàn chỉnh và có hệ thống cho mỗi khoá học với những thời gian qui định và các trình độ khác nhau Cuối khoá học thường được cấp bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ [33,

11]

Với nghĩa rộng, trong đào tạo có “ bồi dưỡng” và “đào tạo lại”, đó là quá trình hoạt động gắn với hoạt động đào tạo nghề nghiệp và chỉ diễn ra sau khi người học tham gia vào quá trình này đã một lần được đào tạo và công nhận bởi một văn bằng tương ứng Đào tạo lại là đào tạo những người đã có nghề, song vì lí do nào đó nghề đó không phù hợp nữa Bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và kinh nghiệm để người lao động có thể đảm nhận công việc phức tạp hơn

Đào tạo không chỉ là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ xảo, mà còn làm tăng niềm say mê nghề nghiệp cho người lao động, để họ có thể đảm nhận và hoàn thành tốt hơn một công việc nhất định

* Nội dung của quá trình đào tạo nguồn nhân lực

Trang 27

Luật giáo dục năm 1998 quy định hệ thống giáo dục quốc dân gồm bốn bậc; đó là giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông; giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực ở đây bao gồm đào tạo qua bậc giáo dục chuyên nghiệp ( trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) và đào tạo qua bậc giáo dục đại học ( cao đẳng, đại học và sau đại học)

+ Giáo dục chuyên nghiệp: nội dung của giáo dục chuyên nghiệp phải tập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo Kết hợp học

lý thuyết với rèn luyện kỹ năng hành nghề

- Đào tạo trung học chuyên nghiệp: Mục tiêu đào tạo của trường trung học chuyên nghiệp là đào tạo những cán bộ thực hành có trình độ trung học

về kỹ thuật nghiệp vụ kinh tế, giáo dục, văn hoá, y tế và nghệ thuật Đối tượng đào tạo là học sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở, phổ thông trung học và cũng có thể tuyển sinh công nhân và nhân viên nghiệp vụ đã tốt nghiệp các trường dạy nghề cùng ngành để đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp

Nội dung đào tạo của trường trung học chuyên nghiệp được chia thành

4 nhóm: những kiến thức chung; những kiến thức về kỹ thuật cơ sở cho nhóm ngành; những kiến thức về kỹ thuật chuyên môn của ngành và các kỹ năng,

kỹ xảo thực hành cho người nhân viên một vài nghề chính của ngành

- Đào tạo nghề: Trong luật giáo dục qui định “ dạy nghề dành cho người có trình độ học vấn và có sức khoẻ phù hợp với nghề cần học, được thực hiện dưới một năm đối với các chương trình dạy nghề ngắn hạn, từ 1-3 năm đối với chương trình dạy nghề dài hạn”

Theo quyết định 48/2002/QĐ- TTg ngày 11/4/2002 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010 qui định trình độ đào tạo nghề gồm:

Trang 28

Bán lành nghề: được trang bị một số kiến thức và kỹ năng nghề nhất định; Lành nghề: được trang bị kiến thức và kỹ năng nghề diện rộng hoặc chuyên sâu, có khả năng đảm nhận những công việc phức tạp;

Trình độ cao: được trang bị kỹ năng nghề thành thạo và kiến thức chuyên môn kỹ thuật cần thiết dựa trên nền học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp để có khả năng vận hành các thiết bị hiện đại và xử

lý được các tình huống phức tạp, đa dạng trong các dây truyền sản xuất tự động, công nghệ hiện đại

Nội dung đào tạo là tập hợp hệ thống các kiến thức về văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ, các kỹ năng và kỹ xảo lao động, các chuẩn mực giá trị về đạo đức, tư tưởng và nhận thức chúng để đảm bảo sự phát triển toàn diện nhân cách Trong đó, kỹ năng, kỹ xảo thực hành nghề là phần cơ bản của nội dung đào tạo Nội dung đào tạo cơ bản được qui định trong nguyên tắc xây dựng chương trình đào tạo

Về phương pháp đào tạo: đào tạo theo môđul là một biện pháp để mềm hoá quá trình đào tạo, làm cho việc đào tạo trở nên linh hoạt, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của người học và người sử dụng lao động

Việc liên thông giữa các loại hình đào tạo: đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn; đào tạo nghề- trung học chuyên nghiệp- cao đẳng kỹ thuật sẽ dễ dàng thực hiện khi các chương trình đào tạo được thiết kế theo môđul liên thông Mặt khác, sử dụng phương pháp này cũng dễ dàng trong việc đào tạo lại và chuyển đổi giữa các nghề

+ Giáo dục đại học và sau đại học:

Đào tạo cao đẳng và đại học: Mục tiêu của giáo dục đại học và cao đẳng là đào nguồn nhân lực có trình độ cao, các chuyên gia cho tất cả các lĩnh vực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Nội dung đào tạo của giáo dục đại học và cao đẳng phải đảm bảo thực hiện nguyên tắc hiện đại và phát triển, kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc,

Trang 29

hội nhập chung với trình độ thế giới và khu vực Nội dung cụ thể của mỗi lĩnh vực đào tạo được xác định theo điều 36 của luật giáo dục, chú ý sát hợp với yêu cầu của đất nước, vừa cập nhật trình độ quốc tế Áp dụng phương pháp giáo dục phải thể hiện được nguyên lý: lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất Khuyến khích sự chủ động học tập, nghiên cứu, thực nghiệm của người học kết hợp với việc giảng dạy, hướng dẫn của người thầy [41, 195-196 ]

Đào tạo sau đại học gồm hai bậc: đào tạo thạc sỹ và đào tạo tiến sỹ dành cho những người đã tốt nghiệp đại học và đáp ứng các yêu cầu tuyển chọn Mục tiêu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ là đào tạo những chuyên gia giỏi có khả năng độc lập sáng tạo trong hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoa học

Khoản 2 điều 36 Luật giáo dục quy định: nội dung giáo dục sau đại học phải giúp cho người học phát triển và hoàn thiện kiến thức khoa học cơ bản, kiến thức chuyên ngành, các bộ môn khoa học Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy năng lực sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo, có khả năng đóng góp vào sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội của đất nước

Đào tạo trình độ thạc sĩ phải đảm bảo cho học viên được bổ sung và nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình

Đào tạo trình độ tiến sĩ phải bảo đảm cho nghiên cứu sinh nâng cao và hoàn chỉnh kiến thức cơ bản; có hiểu biết sâu về kiến thức chuyên ngành; có

đủ năng lực tiến hành độc lập công tác nghiên cứu khoa học và sáng tạo trong công tác chuyên môn

* Các nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo nguồn nhân lực

Trang 30

Thứ nhất, trình độ học vấn của nguồn nhân lực

Trình độ học vấn của nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng để tiếp thu và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp nhận nhanh và rút ngắn thời gian đào tạo cũng như vận dụng tri thức cho phát triển kinh tế- xã hội Trình độ học vấn ảnh hưởng trực tiếp đến

số lượng và chất lượng tuyển sinh cũng như thời gian và cơ cấu môn học cho một khoá đào tạo và lựa chọn hình thức đào tạo Trình độ học vấn được biểu hiện qua các chỉ tiêu cơ bản :

+ Tỷ lệ người biết chữ và chưa biết chữ

+ Tỷ lệ người có trình độ tiểu học

+ Tỷ lệ người có trình độ trung học cơ sở

+ Tỷ lệ người có trình độ trung học phổ thông

+ Tỷ lệ người có trình độ đại học và trên đại học

Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, trong điều kiện trình độ kĩ thuật

và công nghệ hiện đại, người lao động phải có trình độ học vấn phổ thông tối thiểu là tốt nghiệp trung học cơ sở ( kết thúc lớp 9) để làm nền tảng cho tiếp thu tri thức kỹ năng nghề nghiệp ở hệ dạy nghề hoặc ở hệ trung học chuyên nghiệp

Nếu dùng khái niệm mặt bằng dân trí với cách tính là lấy tổng số năm

đi học của toàn dân chia đều cho dân số từ 7 tuổi trở lên, thì ta thấy mặt bằng dân trí của nước ta rất thấp: năm 1985 đạt con số 4,5 Tính đến tháng 12/1999 gần 94% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ Có 56/61 tỉnh, thành phố đã và đang đạt chuẩn quốc quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập tiểu học Số sinh viên thuộc mọi loại hình trên 1 vạn dân đạt 117 người, số năm đi học của dân

cư là 7,3” [4 ] Trong khi đó, theo số liệu của UNESCO, năm 1988, Mỹ đạt

170, Pháp đạt 144, Nhật Bản đạt 142, Anh đạt 135 và Trung Quốc là 65

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hồ Chí Minh, các khu chế xuất đã gặp phải thực tế : Trình độ tay nghề của lao động

Trang 31

đã thuê và lao động dự tuyển đều không đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư Vì, vậy, yêu cầu cần có lao động lành nghề sẽ không được đáp ứng nếu giáo dục, đào tạo không được đẩy mạnh Chúng ta muốn nhà đầu tư nước ngoài cùng với công nghệ cao và hiện đại đầu tư vào khu chế xuất, song một điều kiện tiên quyết là phải có đủ số lao động có tay nghề Hiện nay, trình độ tay nghề của đội ngũ lao động của chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu này Điều hấp dẫn nhà đầu tư bây giờ không chỉ đơn thuần là lao động trẻ mà phải là những người lao động lành nghề [ 11 ]

Thứ hai, giáo dục lao động hướng nghiệp ở các trường phổ thông: Giáo dục lao động hướng nghiệp tuy không phải là hoạt động trực tiếp đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế quốc dân Nhưng đó là hoạt động giáo dục đào tạo góp phần quan trọng cho việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách người lao động Hình thành ở học sinh năng lực định hướng nghề nghiệp và kỹ năng thực hiện một số hoạt động sản xuất gần gũi với thực

tế ngành nghề sản xuất, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở địa phương; Định hướng sự chú ý của học sinh vào những lĩnh vực sản xuất mà địa phương đang cần phát triển; chuẩn bị tâm thế để lựa chọn vào học chuyên ngành và cấp độ phù hợp với năng lực bản thân Việc lựa chọn đúng ngành nghề để học và phát huy được kiến thức, kỹ năng sau khoá học làm tăng hiệu quả ngoài của đào tạo Do đó, định hướng nghề nghiệp cho học sinh là vần đề quan trọng hiện nay

Thứ ba, sự phát triển của kinh tế- xã hội:

+ Sự phát triển kinh tế ở các vùng lãnh thổ: trong nền kinh tế thị trường và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ tác động trực tiếp chẳng những làm nâng cao nhanh chóng năng suất lao động mà còn làm cho sự biến đổi về ngành nghề trong xã hội diễn ra nhanh chóng Để có được việc làm người lao động buộc phải học lấy một nghề nghiệp nào đó hoặc

Trang 32

phải đổi nghề khác để có cơ hội tìm kiếm việc làm xứng đáng Trình độ nghề

nghiệp càng cao thì càng nhiều cơ hội có việc làm tốt, thu nhập cao

+ Sự đầu tư của nhà nước cho các lĩnh vực kinh tế, cho các vùng miền cũng sẽ làm tăng nhu cầu đào tạo theo chuyên ngành, theo vị trí địa lý tương ứng Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp cũng thay đổi và đa dạng, từ đó, đòi hỏi sự phát triển của hệ thống đào tạo với quy mô, cơ cấu ngành nghề tương ứng

Thứ tư, hệ thống giáo dục và đào tạo:

Chính sách đào tạo, qui mô đào tạo, ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất dạy học và hệ thống văn bằng chứng chỉ đều ảnh hưởng tới đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực phục

vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa

+ Mạng lưới đào tạo và năng lực của các trường đào tạo có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực Do tính chất đặc thù của các vùng miền, đặc điểm hình thái kinh tế- xã hội, địa lí ở các vùng sinh thái rất khác nhau ở nước ta, nên đòi hỏi có một mạng lưới đào tạo phù hợp Một hệ thống đào tạo phân bố phù hợp, có khả năng hướng nghiệp và liên thông giữa các trình độ đào tạo, sát với nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật ở địa phương, vùng

là cơ sở cho việc đào tạo có hiệu quả, gắn đào tạo với sử dụng Đó là hệ thống viện nghiên cứu gắn với các trường đại học, các trường đào tạo liên kết với các cơ sở sản xuất lớn trong vùng Phương pháp đào tạo thông qua tổ chức liên hợp đào tạo- nghiên cứu khoa học-lao động sản xuất là công thức tối ưu, hiện đại, đảm bảo chất lượng đào tạo cao được ứng dụng phổ biến ở các nước phát triển có nền khoa học tiên tiến Cho phép tập hợp trong một chương trình hoạt động khoa học chung không chỉ các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp mà còn cả các giảng viên, sinh viên Giúp giảng viên và sinh viên có

Trang 33

điều kiện tiếp cận được những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật Sinh viên

ra trường nhanh chóng bắt kịp với thực tế công việc

+ Nội dung đào tạo phải vừa cơ bản vừa hiện đại, chứa đựng nhiều yếu

tố mới phù hợp với đòi hỏi của ngành nghề trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng kịp thời những biến đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại Cấu trúc lôgíc của nội dung đào tạo là tạo ra những mối tương quan chặt chẽ liên môn, tiền đề cho việc thích nghi nhanh với thực tiễn sản xuất

và công tác, phát triển năng lực tư duy người học

+ Cơ sở vật chất của hệ thống đào tạo : cơ sở vật chất của hệ thống đào tạo được đề cập ở đây là những cơ sở vật chất, kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến công tác đào tạo nhân lực và hệ thống các trường đào tạo Đó là yếu tố cấu thành điều kiện vật chất cần thiết cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập

và các hoạt động văn hoá xã hội trong môi trường học tập, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Phương tiện kỹ thuật dạy học tạo nên điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học như âm thanh, ánh sáng, nhiệt độ, các phương tiện nghe, nhìn dụng cụ trực quan Trang thiết bị phục vụ học, thực hành, thực tập phải hiện đại, đáp ứng được đòi hỏi của ngành nghề trong xã hội, là yếu tố

để đào tạo gắn với thực tiễn

Trong tương lai sẽ xuất hiện một xã hội thông tin được kết nối mạng tạo điều kiện cho việc hình thành một xã hội học tập, ở đó việc học tập được

tổ chức trên cơ sở một hệ thống thông tin với môi trường máy tính mở rộng đến từng người dạy và người học Việc sử dụng công nghệ thông tin sẽ có tác dụng tích cực tới hoạt động đào tạo, làm tăng nhanh quá trình cá nhân hoá trong học tập, đáp ứng nhu cầu học của từng cá nhân và học suốt đời

Thứ năm, sự phát triển của thị trường lao động

Tại những nước đang phát triển, những nước có hoàn cảnh kinh tế gần giống Việt Nam, vấn đề việc làm đang được đặt ra gay gắt hơn bao giờ hết,

Trang 34

hơn các nước phát triển Phần lớn các nước này có sức ép dân số rất lớn Số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, nhưng tỷ lệ được đào tạo lại rất thấp, trong đó lao động nông nghiệp dư thừa, trong khi đó tốc độ phát triển công nghiệp chậm, không đủ sức thu hút nhân lực dư thừa của nông nghiệp nông thôn và cả thành thị Không những sức ép về tăng lao động dư thừa mà

cả sức ép về kỹ thuật công nghệ cũng rất lớn

Trước đây, công nghiệp hoá theo chiều rộng thường xây dựng những nông trường, xí nghiệp công nghiệp lớn với trình độ kỹ thuật thô sơ và còn sử dụng nhiều lao động thủ công, do đó, thu hút được nhiều nhân lực Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay chỉ có thể có hiệu quả cao khi được chú trọng tiến hành theo chiều sâu, nghĩa là cần phải xây dựng những cơ sở sản xuất có trình độ kỹ thuật và công nghệ hiện đại Do đó, thu hút nhân lực có trình độ kỹ thuật chuyên môn cao và các chuyên gia công nghệ trình độ cao

và khả năng thu hút lao động trình độ thấp và lao động giản đơn không nhiều Mặt khác, người lao động tham gia vào thị trường lao động trong thời kỳ này không những phải được đào tạo đạt trình độ nhất định về chuyên môn nghề nghiệp mà còn phải có tác phong lao động công nghiệp, khả năng hợp tác lao động cao Việc từ bỏ thói quen của lao động nông nghiệp thủ công, tiếp thu kiến thức rất đa dạng song chuyên sâu để người lao động đáp ứng và có khả năng tham gia thị trường lao động mới đòi hỏi phải có nội dung, hình thức và phương pháp thích hợp

Hiện nay, sức hút lớn của những ngành nghề có thu nhập cao, thường là ngoài các lĩnh vực, ngành nghề nông nghiệp, làm tăng dòng lao động có trình

độ cao chuyển dịch ra khỏi khu vực này Hậu quả tất yếu là giảm hiệu quả ngoài của đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước

Thứ sáu, sự phát triển của khoa học công nghệ:

Trang 35

Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong những thập niên qua đã làm thay đổi căn bản kỹ thuật và công nghệ sản xuất Các nhà khoa học đã đưa ra ý kiến cho rằng yếu tố thông tin và tri thức trở thành điều kiện hết sức cơ bản để một quốc gia vươn lên trong cuộc chạy đua trong thế

kỷ XXI Canh tranh kinh tế thế giới ngày càng thể hiện ở cạnh tranh khoa học

và công nghệ, nhất là công nghệ cao Các quốc gia phải xây dựng chiến lược con người, trong đó chiến lược giáo dục và đào tạo phải được đặt ở vị trí trọng tâm, phải là quốc sách hàng đầu

Dựa trên những thành tựu mới về công nghệ sinh học, tin học, vật liệu mới, có nhiều chuyên ngành mới về khoa học kỹ thuật và công nghệ ra đời, để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Sự phát triển của khoa học công nghệ tác động trực tiếp đến nội dung, chương trình, cơ cấu, phương pháp đào tạo và hình thức đào tạo Do vậy, cần cập nhật tiến bộ khoa học công nghệ, để điều chỉnh nội dung, chương trình và điều chỉnh các loại hình đào tạo cho phù hợp với xu hướng tiến bộ khoa học công nghệ mới đang diễn ra và như vậy mới đảm bảo “ đi tắt, đón đầu” trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.2 Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay và yêu cầu đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực

* Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, công nghiệp hoá là biện pháp và là bước đi ban đầu cơ bản để biến đổi từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, trong đó công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển Tính tất yếu của giai đoạn công nghiệp hoá trong sự phát triển của các quốc gia đã được thừa nhận Song, chính khái

Trang 36

niệm công nghiệp hoá lại chưa được quan niệm một cách thống nhất Đã một thời gian dài ở các nước XHCN đã phổ biến quan niệm cho rằng nội dung công nghiệp hoá là phát triển công nghiệp nặng

Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc đã đưa ra một định nghĩa qui ước để làm việc: công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế trong đó bộ phận nguồn lực quốc gia được huy động để xây dựng cơ cấu kinh

tế nhiều thành phần với công nghệ hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao trong nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế- xã hội” [10, 6]

Nhận thức rõ sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đến quá trình công nghiệp hoá ngày nay, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng đã xem xét công nghiệp hoá trong mối quan hệ với hiện đại hoá và cho rằng, “ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ và quản lý kinh tế- xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến

bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [24, 42]

Công nghiệp hoá và hiện đại hoá nguyên là hai quá trình nối tiếp nhau

Để có được lực lượng sản xuất phát triển như hiện nay, các nước Tây Âu và

Mỹ đã có một thời kỳ công nghiệp hoá khá lâu dài rồi sau đó đi vào hiện đai hoá và quá trình hiện đại hoá ở các nước đó vẫn còn đang tiếp tục Có thể hiểu hiện đại hoá như quá trình chống lại sự tụt hậu trước sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra trên thế giới Như vậy, xét về mặt lịch sử thì quá trình công nghiệp hoá diễn ra trước quá trình

Trang 37

hiện đai hoá Công nghiệp hoá mang tính lịch sử, còn hiện đại hoá mạng tính thời sự

Quá trình công nghiệp hoá ở nước ta có đặc điểm khác với quá trình công nghiệp hoá của các nước đi trước nước ta Một điều rất rõ ràng là chúng

ta không thể thực hiện xong quá trình công nghiệp hoá với nội dung căn bản

là cơ khí hoá các ngành của nền kinh tế quốc dân rồi mới tiến hành hiện đại hoá Và lại, khi thực hiện cơ khí hoá cũng không thể sử dụng máy móc lạc hậu được sản xuất trước đây, mà phải sử dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến hiện nay Với ý nghĩa đó, công nghiệp hoá trong điều kiện mới hiện nay bao hàm nội dung của hiện đại hoá, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá

* Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

Cho đến nay, cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, công nghiệp hoá, hiện đai hoá là phương thức hữu hiệu làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế- xã hội của các nước đang phát triển Các nước được gọi là phát triển, tiên tiến, hiện đại khác hẳn các nước khác chính là ở chỗ đã thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bởi vì, việc thực hiện có kết quả quá trình công nghiệp hoá trước hết sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về trình độ của lực lượng sản xuất, từ công cụ lao động, phương tiện sản xuất, đến yếu tố người lao động, thay vào đó những công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động xã hội, hình thành

cơ cấu kinh tế hợp lý, nhờ vậy năng lực sản xuất tăng lên, kinh tế phát triển Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, nâng cao mức sống của dân cư, tạo điều kiện phát triển dân trí, đưa xã hội đến trình độ văn minh công nghiệp Tuy nhiên, công nghiệp hoá, hiện đại hoá không phải là thứ thuốc thánh chữa trị căn bệnh kém phát triển vì điều này còn phụ thuộc vào tính ưu việt trong mục tiêu công nghiệp hoá, hiện

Trang 38

đại hoá của mỗi nước Một nước phát triển về kinh tế vẫn có thể là một nước kém phát triển về đời sống văn hoá tinh thần Song, dù thế nào đi nữa cũng phải thừa nhận rằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra nền kinh tế hiện đại với những ưu thế nổi bật: đó là năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, cơ cấu sản xuất đa dạng, việc làm nhiều và phong phú, thu nhập quốc dân cao hơn nhiều so với một nền kinh tế chưa công nghiệp hoá, hiện đai hoá

Thật vậy, chưa nói tới các nước công nghiệp phát triển nhất (G7) chỉ cần lướt nhanh bức tranh toàn cảnh của những nước công nghiệp mới (NIC) Châu Á- những nước đã thành công ở những mức độ khác nhau về công nghiệp hoá cũng thấy ngay vai trò to lớn của công nghiệp hoá Vào những năm 60 của thế kỷ XX, các nước này vẫn còn là những nước kém phát triển điển hình với thu nhập quốc dân tính theo đầu người rất thấp ( Hàn Quốc là 87USD/người vào năm 1961) Thế nhưng đến năm 1988, các nước này đã được xếp vào hàng các nước phát triển Giá trị sản phẩm chung năm 1988 là 396 tỷ USD và đến năm 2000 lên tới trên 1000 tỷ USD Ông Pierre Judet, tác giả cuốn “Những nước công nghiệp hoá mới”, đã có một nhận xét thú vị: “Nếu năm 1964 thế vận hội ở Tôkyô đánh dấu việc Nhật Bản gia nhập vào dàn hợp xướng của các nước công nghiệp tiên tiến, thì thế vận hội ở Xơun năm 1988, thông qua tính năng động của Hàn Quốc, lại xác nhận tính hiện thực và trọng lượng của các nước công nghiệp mới Đông Nam Á mà từ nay không thể xếp chúng vào loại kém phát triển hay chưa công nghiệp hoá [53, 35] Nói một cách tổng quát, chỉ trong vòng 20-

30 năm ở các nước NIC, nhờ sự thành công của công nghiệp hoá mà các nước này đã phát triển từ trình độ kinh tế nông nghiệp sang trình độ kinh tế công nghiệp và đang đặt chân lên ngưỡng cửa của trình độ kinh tế hậu công nghiệp Con đường phát triển như vậy phải mất 200 năm ở Anh, khoảng

100 năm ở Mỹ và các nước Tây Âu và hơn 80 năm ở Nhật Bản

Trang 39

Đối với nước ta, hiện tại nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé GDP tính theo đầu người năm 2001 chỉ đạt 410 USD- vào loại thấp nhất thế giới Nếu tiếp tục dựa vào nền kinh tế nông nghiệp mà lúa là ngành quan trọng nhất ( mỗi năm mưa thuận gió hoà cũng chỉ tăng khoảng 3%) thì nền nông nghiệp chỉ tăng trưởng 4-5% và mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhiều nhất cũng chỉ đạt 5-6%, như vậy nền kinh tế vẫn trong tình trạng kém phát triển Vì thế, để ra khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển, tránh khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn, nước ta không có con đường nào khác ngoài con đường phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, tháng 1-1994 đã xác định là phải “đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [25, 22] Tháng 6-1996, đại hội lần thứ VIII của Đảng tiếp tục khẳng định

“đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ nay đến năm 2020, ra sức phấn

đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp” [26, 80]

Tóm lại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có tác dụng to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hoá- tư tưởng đến an ninh quốc phòng Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, lực lượng sản xuất phát triển, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, chuyển

từ một xã hội từ trình độ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp Điều này càng có ý nghĩa sống còn khi “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là mục tiêu phát triển nước ta

* Yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra đối

với đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta

Trang 40

Trong quá trình phát triển, vào thế kỷ XXI các quốc gia đang phát triển đều dần dần đi vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sức phấn đấu, đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Việc nghiên cứu phát triển con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra những nguyên tắc xuất phát về mặt lý luận và thực tiễn sau:

Một là, cần đề cao và hiện thực hoá quan điểm lấy con người làm trọng tâm trong sự phát triển kinh tế- xã hội Sự phát triển con người phải được xem xét đồng thời trên bình diện cá nhân và cộng đồng xã hội

Hai là, áp lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã biến không ít xã hội thành một không gian sống “tràn ngập công nghiệp hoá”, làm mất đi bản sắc dân tộc, dẫn đến những khủng hoảng và xung đột ghê gớm Vì thế, chúng ta không thể coi nhẹ văn hoá và truyền thống trong quá trình phát triển con người

Ba là, con người chỉ phát triển khi nó có những điều kiện cần thiết liên quan đến mỗi cá nhân, cộng đồng, xã hội và môi trường sinh sống, hoạt động

Từ đó, ta có thể thấy các quá trình xã hội hoá, cá thể hoá, tiếp biến văn hoá giữ một vai trò thiết yếu trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trên cơ sở những nguyên tắc này, chúng tôi xác định các yêu cầu đối với đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta:

Thứ nhất, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của sự

chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô qua ba khối: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, xét qua tỷ trọng của từng khối đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân, theo hướng giảm dần nông nghiệp, tăng dần công nghiệp và dịch vụ

Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đáp ứng được sự phát triển của ba

Ngày đăng: 31/01/2016, 17:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chia theo trình độ chuyên môn - Đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2 Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chia theo trình độ chuyên môn (Trang 55)
Bảng  trên  cho  thấy,  năm  2003  so  với  năm  2000,  ở  cả  hai  khu  vực  thành thị và nông thôn, số lượng và tỷ  lệ lao động  có trình độ từ  sơ cấp,  học nghề trở lên đều tăng, nhưng tốc độ tăng của khu vực thành thị lớn hơn  hẳn so với khu vực nông - Đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
ng trên cho thấy, năm 2003 so với năm 2000, ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, số lượng và tỷ lệ lao động có trình độ từ sơ cấp, học nghề trở lên đều tăng, nhưng tốc độ tăng của khu vực thành thị lớn hơn hẳn so với khu vực nông (Trang 55)
Bảng 3 : Phân bố lao động chuyên môn kỹ thuật theo bậc đào tạo, - Đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Bảng 3 Phân bố lao động chuyên môn kỹ thuật theo bậc đào tạo, (Trang 60)
Bảng  trên  cho  chúng  ta  thấy,  lao  động  chuyên  môn  kỹ  thuật  theo  vùng năm 2003 là: Công nhân có chuyên môn kỹ thuật chiếm 3,28% tổng  lực  lượng  lao  động  trong  cả  nước,  tập  trung  ở  bốn  vùng  lớn,  miền  Đông  Nam Bộ tập trung cao nhất - Đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
ng trên cho chúng ta thấy, lao động chuyên môn kỹ thuật theo vùng năm 2003 là: Công nhân có chuyên môn kỹ thuật chiếm 3,28% tổng lực lượng lao động trong cả nước, tập trung ở bốn vùng lớn, miền Đông Nam Bộ tập trung cao nhất (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w