NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM.. Mục đích biện pháp tam giam.. Đối tượng tam giam.. Nguyên nhân liên quan đến công tác xây dựng pháp luật.. Mục đích
Trang 1MỤC LỤC.
A NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM.
A.1.Khái niệm biện pháp ngăn chặn.
A.2.Khái niệm biện pháp tam giam
A.3 Mục đích biện pháp tam giam.
B BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.
B.1 Đối tượng tam giam
B.2 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam.
B.3 Thẩm quyền ra lệnh tam giam
B.4 Thủ tục tam giam
B.5 Thời hạn tam giam.
C THỰC TRẠNG VÀ BẤT CẬP, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TAM GIAM TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM
C.1 Thực tiễn việc tam giam trong thời gian qua.
C.2 Bất cập và khó khăn trong tam giam hiện nay.
C.2.1 Vướng mắc thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra.
C.2.2.Vướng mắc về quy định về thẩm quyền áp dụng BPNC trong tạm giam C.2.3 Vướng mắc người đề xuất ra lệnh và người phê chuẩn lệnh tam giam C.3.Những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tam giam.
C.4 Nguyên nhân của những khó khăn,bất cập và tồn tại trong thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tam giam ở nước ta hiện nay
C.4.1 Nguyên nhân liên quan đến công tác xây dựng pháp luật.
C.4.2 Nguyên nhân do ý thức chủ quan của chủ thế áp dụng
C.4.3 Nguyên nhân khách quan.
D MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN BIỆN PHÁP TẠM GIAM.
Trang 2
A NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM.
A.1.Khái niệm biện pháp ngăn chặn.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị trruy nã hoặc những người chưa bị khởi tố( trong trường hợp khẩn cấp hoặc quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vu nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có những hành vi gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
A.2.Khái niệm biện pháp tam giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt trên tù hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn khác của tố tụng hình sự Người bị áp dụng biên pháp tam giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền công dân
A.3 Mục đích biện pháp tam giam.
Tam giam được áp dụng với bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự Vì vây, ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng biện pháp này còn mục đích riêng nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng Chẳng hạn, việc tạm giam trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu
Trang 3nhập chứng cứ từ lời khai của bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần, đồng thời cũng giúp cho việc quản lý giám sát bị can được chặt chẽ; việc tam giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm bảo đảm cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật được thuận lợi
A BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
B.1 Đối tượng tam giam
Khoản 1, Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.
- Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Để áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp sau phải có ba điều kiện:
- Người thực hiện tội phạm là bị can, bị cáo
- Về tính chất hành vi, tội phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm
- Có căn cứ để cho rằng bị can, bị cáo có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
B.2 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam.
Có căn cứ để cho rằng bị can, bị cáo có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
Trang 4+ Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể trốn không được quy định trong luật Tuy vậy, thực tiễn đấu tranh chống tội phạm đã đúc kết những căn cứ chủ yếu cần phải dựa vào đó để xem xét là: Tình trạng cư trú của bị can, bị cáo (Có nơi
cư trú? Thường trú hay tạm trú? Nếu tạm trú thì dài hạn hay ngắn hạn? Có khai báo với chính quyền hay không? Nơi cư trú có ở quá xa nơi tiến hành các hoạt động tố tụng hay không?); Tình trạng nghề nghiệp (Có nghề nghiệp không? Làm việc trong cơ quan, tổ chức hay làm nghề tự do?); Tính chất hành
vi đã thực hiện (cướp, trộm cắp, giết người hay lừa đảo ); Nhân thân (tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình, lịch sử bản thân ); Sự ràng buộc với gia đình, quê quán, cơ sở làm việc; Mối tương quan về lợi ích giữa việc bỏ trốn với việc chấp nhận bị xử lý trước pháp luật; Những biểu hiện cụ thể của bị can, bị cáo như liên hệ với người thân ở xa, mua vé đi xa
+ Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
Cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như tiêu hủy chứng cứ, làm giả hiện trường, thông đồng với nhau về những lời khai gian dối, mua chuộc, khống chế người làm chứng, người bị hại hoặc các hình thức khác Cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử là trường hợp
“gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử” nhưng ở mức độ cao hơn mang tính đối phó lại việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử + Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội
Để nhận định bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội phải dựa vào nhiều tình tiết và xem xét đánh giá một cách tổng hợp Những tình tiết đó thường là: Tính chất của tội phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện; Nhân thân của bị can, bị cáo; Những biểu hiện cụ thể của bị can, bị cáo như đe dọa, khống chế, mua chuộc người làm chứng, người bị hại, sử dụng thời gian bất minh, đi lại gặp gỡ bọn tội phạm
Trang 5BLTTHS quy định một số trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam Những trường hợp đặc biệt nói trên theo quy định tại khoản 2, Điều 88 gồm:
- Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
- Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;
- Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
B.3 Thẩm quyền ra lệnh tam giam
Khoản 3 điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định những người có thẩm quyền ra lênh bắt bị can, bị cáo để tam giam thì có quyền ra lệnh tam giam
Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
B.4 Thủ tục tam giam
Việc tam giam phải có lệnh viết của người có thẩm quyền Lệnh tam giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên chức vụ của người ra lệnh; họ tên địa chỉ người bị tam giam; lý do tạm giam; thời hạn tam giam và giao cho người tam giam một bản
Sau khi ra lệnh tam giam, cơ quan ra lệnh tam giam phải kiểm tra căn cước của người tam giam nhằm xác đinh đúng đối tượng tạm giam, tránh trường hợp
Trang 6nhầm lẫn theo như khoản 4 điều 88 BLTTHS : “Cơ quan ra lệnh tạm giam
phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết.”
Đồng thời cơ quan đã ra lệnh tam giam phải thông báo ngay cho người bị tam giam và cho chình quyền, xã, phường thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tam giam cư trú hoặc làm việc biết để gia đình họ cũng như các cơ quan tổ chức biết được sự việc và không tiến hành những thủ tục tìm kiếm không cần thiết, gây tốn kém
B.5 Thời hạn tam giam.
Căn cứ Điều 120 và Điều 121 Bộ luật tố tụng Hình sự hiện hành thì thời hạn tạm giam để điều tra theo từng trường hợp như sau:
1 Thời hạn tạm giam bị can bị giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
2 Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết hạn tạm giam, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị VKS gia hạn tạm giam
Việc gia hạn tạm giam được qui định như sau:
a Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng
b Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng
Trang 7c Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng
d Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng
C THỰC TRẠNG VÀ BẤT CẬP, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TAM GIAM TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM
C.1 Thực tiễn việc tam giam trong thời gian qua.
Tạm giam trong thời gian qua có hiệu quả lớn trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm Nhiều vụ án phát hiện nhanh chóng, kịp thời đáp ứng nhiệm vụ giữ gìn trật tự an toàn xã hội, các quyền và lợi ích nhân dân được tôn trọng bảo vệ Thực tiễn đầu năm 2007 số người tam giam là 1261, cuối năm 2007 số người được giải quyết 944 người (23 người được thay đổi biện pháp ngăn chặn, 1 người bị hủy biện pháp ngăn chặn do được miễn TNHS) số người chết do tam giam là 3 người, số người còn lại là 314 người Đầu năm 2008, số người tam giam là 1223 người cuối năm 2008 số người được giải quyết là 856 người( 28 người được thay đổi biện pháp ngăn chặn, 6 người được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn do được miễn TNHS) số người chết là 3 người, còn lại 364 người Theo báo cáo tổng kết VKSND Hải Dương địa bàn tỉnh 2007, 2008 không để xảy ra tình trạng tam giam không có lệnh, tạm giam vượt quá thời hạn
C.2 Bất cập và khó khăn trong tam giam hiện nay.
Vướng mắc tạm giam bị can , bị cáo chưa thành niên khoản 2 điều 303 là đủ
16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do vô ý thì không thể áp dụng biện pháp tam giam đối với họ bởi bất kỳ lý do gì Theo quy định BLTTHS năm 1999, tội ít nghiêm trọng chiếm tỷ lệ khá lớn Bên cạnh đó những người chưa thành niên có độ tuổi đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phạm tội này ngày càng gia tăng Các tội như cố ý gây thương
Trang 8tích ( khoản 1 điều 104), Gây rối trật tự công cộng (Khoản 1 điều 245), Trộm cắp tài sản ( khoản 1 điều 138), Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ( khoản 1 điều 139), Đánh bạc ( khoản 1 điều 248)… hoặc tội nghiêm trọng do vô ý Vi phạm các quy định về điều kiện gia thông đường bộ ( khoản 1 điều 202)
Tuy nhiên theo khoản 2 điều 303 BLTTHS năm 2003 cơ quan thẩm quyền được áp dụng biện pháp ngăn chặn với bị can, bị cáo thuộc các trường hơp trên Thực tế nhiều trường hợp bị can, bị cáo đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng được tại ngoại đã bỏ trốn nhiều lần và bị bắt theo lệnh truy nã, khi Cơ quan điều tra, Tòa án trao đổi để áp dụng biên pháp ngăn chặn đối với họ thì Viện kiểm sát không biết làm như thế nào vì theo khoản 2 Điều 303 không có căn cứ để áp dụng biện pháp tam giam
C.2.1 Vướng mắc thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra.
Theo quy định tại điều 120 BLTTHS thì thời hạn tam giam để điều tra (kể cả gia hạn) là không quá 3 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, 6 tháng đối với tội nghiêm trọng, 9 tháng đối với tội rất nghiêm trọng, 18 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng Trong khi đó điều 199 của BLTTHS lại quy định thời gian để điều tra ( kể ca gia hạn) là 4 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, 8 tháng đối với tội nghiêm trọng, 12 tháng đối với tội rất nghiêm trọng và 16 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng Như vậy thời hạn điều tra ( kể cả gia hạn) dài hơn thời hạn tam giam để điều tra ( kể cả gia hạn) Việc quy định thời gian gia hạn tam giam để điều tra hạn chế việc lam dụng thời gian gia hạn tạm giam, đồng thời còn ý nghĩa cho việc đảm bảo cơ quan điều tra cần phải đấy nhanh tiến độ giải quyết vụ án, nếu không thời hạn tạm giam sẽ hết mặc dù thòi hạn điều tra vẫn còn Tuy nhiên trên thực tiễn trong nhiều vụ án khi hết thời hạn tam giam ( kể cả gia hạn) mà Cơ quan điều tra vẫn chưa hoàn thành việc điều tra do tính chất của vụ án không thể trả tự do cho bị can Nhưng nếu trả tự do cho bị can, bị can có thể trốn tiếp tục phạm tội gây cản trở cho việc điều tra Trong trường hợp này Cơ quan điều tra phải giải quyết như thế nào? Theo quy định của pháp
Trang 9luật thì Cơ quan điều tra phải trả tự do cho bị can, bị cáo, nếu cần thì chỉ áp dụng BPNC khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh hoặc đặt tiền để đảm bảo Liệu như vậy có đảm bảo được rằng bị can, bị cáo không gây thêm tội, hoặc sẽ không trốn đi gây cản trở cho công việc điều tra??
C.2.2.Vướng mắc về quy định về thẩm quyền áp dụng BPNC trong tạm giam.
Theo khoản 3 điều 88 của BLTTHS quy định: “Những người có thẩm quyền
ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều
80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.” dẫn chiếu sang quy định tại khoản 1 điều 80 ở giai đoạn điều tra Thủ
trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp có quyền gia lệnh tam giam, tuy nhiên lệnh tam giam đó phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành Ngoài ra trong quá trình điều tra việc quyết đinh, hủy bỏ, thay thế BPNC tạm giam Quyết định việc gia hạn tam giam cũng đều thuộc thẩm quyền của VKS,
cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị Như vậy việc quy đinh cơ quan điều tra có thẩm quyền áp dụng BPNC trong giai đoạn điều tra chỉ mang tính hình thức, còn thực tế việc áp dụng thay thế, hủy bỏ, áp dụng BPNC tam gia do VKS quyết định
C.2.3 Vướng mắc người đề xuất ra lệnh và người phê chuẩn lệnh tam giam.
Như ta thấy quan hệ giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra và điều tra viên là quan hệ chỉ huy, phục tùng Sau khi khởi tố vụ án, Thủ trưởng có quan điều tra có
Trang 10thể trực tiếp tiến hành điều tra hoặc quyết định phân công cho điều tra viên điều tra vụ án Khi được phân công điều tra, điều tra viên có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do BLTTHS quy định còn việc áp dụng biện pháp tạm giam điều tra viên chỉ có quyền đề xuất Thủ trưởng cơ quan điều tra ký lênh tam giam và VKS phê chuẩn Như vậy khi nếu như tam giam trái pháp luật thì ở đây ai chịu trách nhiêm Điều tra viên, Thủ trưởng Cơ quan điều tra? Hay VKS Khi mà điều tra viên đề xuất, Thủ trưởng cơ quan điều tra ký còn VKS phê chuẩn Mức độ sai phạm của người bị bắt trước khi có sự phê chuẩn được đánh giá ra sao? Trên thực tế lênh tam giam cần phải có sự phê chuẩn của VKS thường được phê chuẩn cùng ngày ra lệnh, nhưng vẫn có những trường hợp phê chuẩn sau ngày bắt bị can, bị cáo để tam giam Theo quy định tại khoản 3 điều 88 BLTTHS trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tam giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến tam giam, VKS phải ra lệnh quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Trong thưc tế có những vụ án đơn giản, tài liệu không nhiều thì VKS có thể xem xét phê chuẩn ngay trong ngày Song thực tế cũng có những vụ án phức tạp nhiều tài liệu đòi hỏi VKS phải có thời gian nghiên cứu, xem xét có phê chuẩn hay không Ngoài ra không loại trừ VKS vì lý do nào đó chậm trễ trong việc phê chuẩn dẫn đến bị can trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn trong công tác điều tra Trong trường hợp đó VKS có chịu trách nhiệm về việc phê chuẩn chậm trễ không? Nếu có thì đó là trách nhiệm gì?
C.3.Những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tam giam.
- Tình trạng tam giam quá thời hạn
Trong thực tế do nhiều vụ án do tình tiết phức tạp và có nhiều bị can thường thời hạn tam giam quá hạn trong giai đoạn điều tra Điều đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị tam giam, mất lòng tin của công dân vào cơ quan có thẩm quyền trong TTHS nói chung và việc tam giam nói chung