1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm nhân thọ và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

17 648 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 123 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có hai loại cam kết chủ yếu trong bảo hiểm nhân thọ, đó là cam kết đóng phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết trả tiền bảo hiểm hoặc trả trợ cấp định kỳ của doanh nghiệp bả

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Thông tin về tuổi của người được bảo hiểm (người có tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm) khi giao kết hợp đồng bảo hiểm con người đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá rủi ro và ra quyết định chấp nhận bảo hiểm, trì hoãn chấp nhận bảo hiểm hay từ chối chấp nhận bảo hiểm

Bảo hiểm nhân thọ có thể được hiểu trên 2 phương diện: kỹ thuật và pháp

Trên phương diện kỹ thuật, bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm bao hàm những cam kết mà sự thực hiện những cam kết đó phụ thuộc vào tuổi thọ của con người

Có hai loại cam kết chủ yếu trong bảo hiểm nhân thọ, đó là cam kết đóng phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết trả tiền bảo hiểm hoặc trả trợ cấp định kỳ của doanh nghiệp bảo hiểm

Do thời hạn hợp đồng bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ kéo dài nhiều năm nên người tham gia bảo hiểm thường cam kết đóng phí làm nhiều lần Thông thường, nếu người tham gia bảo hiểm bị chết trước khi hoàn thành nghĩa vụ đóng phí cho cả hợp đồng thì cam kết đóng phí những lần còn lại sẽ chấm dứt, nghĩa là không có ai trong phía bên mua bảo hiểm phải đóng thay họ

Khi người được bảo hiểm bị chết hoặc còn sống đến một thời điểm nhất định

đã chỉ rõ trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện cam kết của mình, trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp

Trang 2

Trên phương diện pháp lý, bảo hiểm nhân thọ bao gồm các hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, theo đó, để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp định kì trong trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc tử vong trước một thời điểm nhất định đã được ghi rõ trên hợp đồng bảo hiểm

Ngoài ra, theo Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ Nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ 01/04/2001 thì “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”

B NỘI DUNG

I Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm nhân thọ và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) bắt nguồn từ chế độ bảo hiểm nói chung Chế

độ BHNT cứu tế cho những hội viên của tổ chức này bị bệnh hoặc chết Sau

đó, những tổ chức hữu ái lập ra ở Anh nêu ra trọng tâm công tác là cứu tế về tiền bạc cho những thành viên của tổ chức đó bị chết khi về già hoặc ốm đau Nguyên tắc hoạt động ban đầu của BHNT rất đơn giản: những người tham gia bảo hiểm đều nộp phí như nhau và được hưởng quyền lợi như nhau Năm 1639, E.Halley- người Anh đã lập ra bảng thống kê tử vong đầu tiên, lý thuyết xác suất của B.pascal năm 1659 và luật về số đông của J.Bernoully thế kỷ 18 đã đặt nền móng lý thuyết tính toán khoa học cho

Trang 3

Trong những năm 50 của thế kỷ18, T.Simpon đã dựa vào bảng thống kê tử vong do E.Halley lập ra để lập thành bảng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ Tỷ lệ chết của con người ngày càng tăng theo lứa tuổi, số tiền phí bảo hiểm của người tham gia BHNT phải trả cũng tăng dần theo từng năm Nhưng tỷ lệ chết của người trên 50 tuổi tăng lên rất nhanh, người tham gia bảo hiểm rất

có thể không còn cách nào khác để tiếp tục tham gia bảo hiểm nữa, vì khoản phí bảo hiểm đóng quá cao Sau đó, J.Dodson đã điều chỉnh mức phí bảo hiểm tăng lên hàng năm thành phí bảo hiểm bình quân Năm1762, hãng bảo hiểm công bằng được thành lập ở London và BHNT được xây dựng trên cở

sở kỹ thuật bảo hiểm Có thể nói rằng, hãng bảo hiểm công bằng là một doanh nghiệp bảo hiểm con người hiện đại đầu tiên và đã mở ra một cục diện mới phát triển sự nghiệp bảo hiểm con người nói chung và BHNT nói riêng

Ở nước ta, BHNT được định nghĩa tại khoản 12 điều 3 Luật KDBH 2000

nhu sau : Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp

người được bảo hiểm sống hoặc chết.

Đây còn là một vấn đề rất mới mẻ nhưng lại có vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bảo hiểm nhân thọ trong nền kinh tế thị trường được xem là hình thức đầu tư có lợi và hữu ích đối với các

cá nhân, đồng thời cũng là một hình thức kinh doanh rất hiệu quả đối với các công ty bảo hiểm.Vậy BHNT là gì?

Theo từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm: “BHNT là sự bảo vệ trường hợp tử vong của một người bằng hình thức trả tiền cho người thụ hưởng-thường là thành viên của gia đình, doanh nghiệp hay tổ chức, bằng cách đổi một loạt các khoản chi phí bảo hiểm hoặc thanh toán phí bảo hiểm một lần

Trang 4

khi người được bảo hiểm chết, số tiền bảo hiểm (và bất kỳ số tiền bổ sung nào được kèm theo đơn bảo hiểm) trừ đi khoản vay chưa trả theo hợp đồng bảo hiểm và khoản lãi cho vay, sẽ được trả cho người thụ hưởng Những khoản trợ cấp trả khi còn sống cho người được bảo hiểm dưới hình thức giá trị giải ước hoặc các khoản trợ cấp thu thập”

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm tại khoản 2 điều 13 “BHNT là loại nghiệp

vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” Theo cách hiểu chung “BHNT là bảo hiểm cho tuổi thọ con người” Như vậy, BHNT chính là sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm trong đó doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm khi có sự kiện định trước liên quan đến cuộc sống của con người trên cơ sở nộp phí của người tham gia bảo hiểm theo thoả thuận Với nhiều quan điểm như trên về BHNT, có thể nhận thấy một số đặc trưng

cơ bản của BHNT như sau:

Thứ nhất, BHNT là hình thức bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ

Tính chất bảo hiểm thể hiện ở chỗ trong thời gian bảo hiểm nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng

Tính chất tiết kiệm trong BHNT thể hiện ở chỗ: người mua bảo hiểm sẽ định

kỳ nộp một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm) cho doanh nghiệp bảo hiểm, ngược lại doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền bảo hiểm cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm khi hết hạn hợp đồng trong trường hợp không có sự kiện bảo hiểm xảy ra Nếu người mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm trên hai năm và không có sự kiện bảo hiểm xảy ra mà

Trang 5

hợp đồng BHNT chấm dứt thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng

Thứ hai, BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm

Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự

cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong

Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố như trang trải

nợ nần, phụng dưỡng bố mẹ già

Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có thời hạn dài

Xuất phát từ tính chất và mục đích của BHNT là bảo hiểm kết hợp với tiết kiệm dài hạn để thực hiện mục đích trong tương lai, nên thời hạn của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường dài, có thể 5 năm, 10 năm, 20 năm thậm chí

cả cuộc đời của người được bảo hiểm

Khác với BHNT, thời hạn trong hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường ngắn hạn, một năm, thậm chí bằng thời gian hành trình của một chuyến tàu Thứ tư, phí bảo hiểm chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp

Sản phẩm BHNT không gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng)) Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải

bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, như : chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng

Trang 6

Nhưng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá sản phẩm BHNT (tính phí BHNT ), một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào: + Độ tuổi của người được bảo hiểm

+ Tuổi thọ bình quân của con người

+ Số tiền bảo hiểm

+ Thời hạn tham gia bảo hiểm

+ Phương thức thanh toán

Khi định giá phí BHNT, một số yếu tố trên phải giả định, như : tỷ lệ chết, tỷ

lệ huỷ bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm,phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường Thứ năm, là loại hình bảo hiểm duy nhất luôn có thể chi trả dù rủi ro có xảy

ra hay không

Đối với các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng Trong BHNT, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra và khi hợp đồng đáo hạn (đây

là trường hợp không có rủi ro xảy ra )

Thứ sáu, BHNT là hợp đồng thanh toán có định mức

Tại điều 7 luật Kinh doanh Bảo Hiểm năm 2000, Bảo Hiểm Nhân Thọ bao gồm :

Điều 7 Các loại nghiệp vụ bảo hiểm

1 Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

A) Bảo hiểm trọn đời;

B) Bảo hiểm sinh kỳ;

C) Bảo hiểm tử kỳ;

Trang 7

D) Bảo hiểm hỗn hợp;

Đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

E) Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định

2 Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

A) Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người;

B) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

C) Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không;

D) Bảo hiểm hàng không;

Đ) Bảo hiểm xe cơ giới;

E) Bảo hiểm cháy, nổ;

G) Bảo hiểm thân tầu và trách nhiệm dân sự của chủ tầu;

H) Bảo hiểm trách nhiệm chung;

I) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;

K) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;

L) Bảo hiểm nông nghiệp;

M) Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định.

3 Bộ Tài chính quy định danh mục chi tiết các sản phẩm bảo hiểm

II Tìm hiểu vấn đề tuổi trong giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Trang 8

Có thể thấy rẳng, vấn đề xác định tuổi trong giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là rất quan trọng

Việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, bao gồm các hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm

Về phía doanh nghiệp bảo hiểm, điều 5 LKDBH 2000 quy định như

sau: Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

Về phía người tham gia bảo hiểm, luật quy định bao gồm các điều:

6 Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng

7 Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân

sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng

8 Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người

Với bên mua bảo hiểm, ví dụ như hãng kinh doanh bảo hiểm Prudential quy định đối với cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên hiện đang cư trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, là người kê khai và ký tên trên Hồ

sơ yêu cầu bảo hiểm và là người đóng phí bảo hiểm

Bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể bảo hiểm đối với Người được bảo hiểm như sau:

1 Bên mua bảo hiểm

Trang 9

2 Vợ, chồng, con, cha, mẹ hợp pháp

3 Anh chị em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng, giám hộ hợp pháp

4 Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể bảo hiểm theo quy định của pháp luật

Nếu người được bảo hiểm từ 18 tuổi trở lên thì bên mua bảo hiểm phải được

sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm Trong trường hợp người bảo hiểm dưới 18 tuổi, thì bên mua bảo hiểm phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật/người giám hộ hợp pháp của người được bảo hiểm

Đối với người được bảo hiểm, Prudential cũng có những quy định cụ thể về

độ tuổi như sau

Người được bảo hiểm phải nằm trong độ tuổi từ 0 đến 64 Ngoài ra giới hạn tuổi khi kết thúc hợp đồng bảo hiểm là 70 tuổi đối với hợp đồng bảo hiểm thời hạn 10 năm hặc 15 năm và 99 tuổi đối với hợp đồng có thời hạn từ 35 đến 99 năm

Tại điều 34 về Thông báo tuổi trong hợp đồng bảo hiểm có nêu rõ :

Điều 34 Thông báo tuổi trong bảo hiểm nhân thọ

1 Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm

2 Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan Trong trường hợp hợp

Trang 10

đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm

3 Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

A) Yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng;

B) Giảm số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng

4 Trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng

Tại khoản 1 điều 34 có quy định Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông

báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm

Ví dụ như trong trường hợp sau đây của Hãng Bảo Hiểm Prudential áp dụng với người được bảo hiểm tử vong hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn trước khi tròn 4 tuổi:

Tuổi tại thời điểm tử vong hoặc

thương tật vĩnh viễn

Quyền lợi bảo hiểm

Dưới 1 tuổi Hoàn lại toàn bộ chi phí bảo hiểm đã

đóng không tính lãi

Trang 11

25% số tiền bảo hiểm của sản phẩm chính hoặc

giá trị tài khoản hợp đồng tại thời điểm tử vong hoặc bị thương tật toàn

bộ vĩnh viễn

50% số tiền bảo hiểm của sản phẩm chính Hoặc

giá trị tài khoản hợp đồng tại thời điểm tử vong hoặc bị thương tật toàn

bộ vĩnh viễn

75% số tiền bảo hiểm của sản phẩm chính Hoặc

giá trị tài khoản hợp đồng tại thời điểm tử vong hoặc bị thương tật toàn

bộ vĩnh viễn

Qua những ví dụ trên, có thể thấy rằng vì : Bảo hiểm nhân thọ là loại

nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.

Nên vấn đề tuổi của bên mua bảo hiểm, được bảo hiểm và thụ hưởng là rất quan trọng và luôn được các công ty BH quan tâm., chú trọngvà có những quy định rõ ràng trong giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

C KẾT LUẬN

Ngày đăng: 30/01/2016, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w