1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Có ý kiến cho rằng pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhận ly thân. Nêu ý kiến cá nhân về vấn đề này

11 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 62,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các điều 27, 28 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định

là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng) Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay cũng như trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống) Tuy nhiên việc chia tài sản riêng của vợ và chồng trong thời kì hôn nhân hiên nay đang có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, trong đó có ý cho rằng việc chia tài sảnchung của vợ chồng là gián tiếp công nhận ly thân Vậy ý kiến nêu trên đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp và để có một cái nhìn đúng

đắn hơn và có một cách hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài:“Có ý kiến cho rằng pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhận ly thân Nêu ý kiến cá nhân về vấn đề này

”.Làm đề tài bài tập lớn, trong quá trình làm bài em không tránh khỏi những thiếu

sót.Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo.Em xin chân thành cảm ơn

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Một số quy định của pháp luật về vấn đề: Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và ly thân.

a Thời kỳ hôn nhân.

Trang 2

Hôn nhân là sự liên kết giữu một người con trai với một người con gái dựa trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận Tại khoản 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “ Hôn nhân

là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”

Như vậy sau khi kết hôn thì vợ chồng đã xác lập tình trạng hôn nhân với nhau hay nói cách khác là quan hệ vợ chồng sẽ chuyển sang thời kì mới và đó là “ thời

kì hôn nhân” Tại khoản 7 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình đã quy định: “ Thời

kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” Vậy sau khi ly hôn thì thời kì hôn nhân sẽ chấp

dứt.Vợ, chồng không còn quan hệ hôn nhân

b Những quy định của pháp luật về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng:

Xuất phát từ thực tế ngày càng có nhiều cặp vợ chồng muốn chia tài sản chung của mình trong thời kì hôn nhân để đầu tư kinh doanh riêng, để thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng, để cấp dưỡng và lí do chính đáng khác Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30)

Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng

có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyế Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.”

Trang 3

Điều 30.“ Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng:Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc

sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”.các quy định này được hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70) Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành, trong trường hợp có

lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản

án, quyết định của Toà án Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều

c Vấn đề ly thân:

Với vấn đề“ ly thân” thì Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành hoàn toàn không có chế định về ly thân Vì luật không quy định nên không có một định nghĩa chính xác về ly thân, cũng không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra giải quyết cho ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân Trong quy định về căn cứ cho ly hôn cũng không có quy định là vợ chồng phải sống ly thân một thời gian rồi mới được ly hôn

Do vậy “ ly thân”, hiểu đơn giản là sự sống riêng giữa vợ và chồng, như là không

ăn chung, ở chung, không sinh hoạt vợ chồng Mục đích của ly thân, theo quy định của luật pháp các nước là để giảm thiểu những căng thẳng, xung đột gay gắt giữa

vợ và chồng hoặc tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra Đồng thời để các bên có thời gian suy ngẫm, ăn năn hối cải, khắc phục lỗi lầm, sửa đổi tính tình, tha thứ cho nhau để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống Ly thân không làm chấm

Trang 4

dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng nên trong thời gian sống ly thân, các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với con chung và tài sản.Mặt khác, nếu qua quá trình ly thân mà tình trạng vợ chồng vẫn trầm trọng, vợ hoặc chồng vẫn chứng nào tật nấy, không cảm thông, tha thứ cho nhau, không khắc phục lỗi lầm, không dung hòa khi ấy, các bên có thể xin ly hôn

II Ý kiến cá nhân về vấn đề: “ Có ý kiến cho rằng pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhận ly thân”:

Về vấn đề này thì em có một số ý kiến như sau:

a Trước tiên phải khẳng định việc pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chung sống với nhau là hoàn toàn cần thiết và hợp lí đám ứng được nhu cầu thực tiễn trong hôn nhân hiện nay:

Vậy vì sao nói nó hợp lý và cần thiết:

Bởi hiện nay trong cuộc sống gia đình, nhiều khi không thể tránh khỏi những căng thẳng, bất hoà giữa vợ chồng, dẫn đến tình trạng không muốn chung sống cùng nhau Nhưng vì nhiều lí do, trong đó chủ yếu vì con cái nên họ không muốn

ly hôn Quy định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp hợp lý nhằm tối thiểu hoá những xung đột, mâu thuẫn của vợ chồng trước hết trong quan

hệ tài sản, sau đó là những quan hệ nhân thân khác, đồng thời giữ được hoà khí cũng như tạo ra sự ổn định nhất định giữa các thành viên khác trong gia đình

Mặt khác trên cơ sở kế thừa những quy định tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, quy định tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn nhằm đảm bảo quyền tự chủ của vợ chồng khi tham gia vào các quan hệ kinh tế xã hội nhất định Với tư cách là công dân, vợ hoặc chồng đều có quyền thực hiện các

Trang 5

quyền năng hợp pháp của mình (quyền tự do kinh doanh, quyền tham gia các giao dịch dân sự) Để tránh những hậu quả không tốt có thể xảy ra, ảnh hưởng đến kinh

tế chung gia đình, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho vợ chồng được tự do thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình thì pháp luật quy định vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung cho vợ chồng ngay trong thời kì hôn nhân

là hợp lý

Ngoài ra quy định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân này sẽ đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng Hiện nay, việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự.hoạt động này mang lại lợi ích cho vợ chồng, cũng như phát sinh nghĩa vụ của vợ chồng với bên thứ ba tham gia giao dịch Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người thứ ba cần phải biết quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản để xác định phạm vi giao dịch, mức độ tài sản của vợ chồng trong việc thực hiện nghĩa vụ Quy định này nhằm tạo ra sự công bằng, hợp lý, bảo đảm sự an toàn về tài sản không những cho người thứ ba

mà còn cho cả bên phía vợ, chồng tham gia giao dịch

Vì vậy có thể nói việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hoàn toàn hợp lý và cần thiết nó phù hợp với sự phát triển của xã hội, cũng như sự tiến bộ trong quan hệ hôn nhân hiện nay

b Thứ hai dựa trên cơ sở pháp lý thì việc nói: “ Pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhân ly thân”, thì hoàn toàn sai và không hợp lý:

Hiện nay theo pháp Luật hôn nhân và gia đình thì việc chia tài sản chung trong thời

kì hôn nhân không làm chấm dứt các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng Mặc dù

có sự phân chia tài sản giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại, vì

Trang 6

vậy thì các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng không hề thay đổi, vợ chồng tiếp tục phải thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nhằm mục đích tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh riêng vì không muốn ảnh hưởng đến lợi ích cũng như là để bảo vệ cuộc sống gia đình mình, mặt khác là đảm bảo đời sống ổn định của gia đình, đây là điểm tích cực cần khuyến khích phát triển trong pháp luật hôn nhân, mặt khác khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm ảnh hưởng đến quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng, vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo pháp luật thừa kế

Còn đối với chế định ly thânthì hiện nay pháp Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không có chế định nào nói về vấn đề này, hiện chỉ có Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986 có quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại như chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn, như vậy việc Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định như trên thì ta cũng có thể hiểu rằng pháp luật thời này cho phép “ ly thân” trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước thì chế định này đã được thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới của xã hội nước ta hiện này và điều này được thể hiện tai Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khác với năm 1986 luật hôn nhân năm

2000 không quy định cụ thể phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ quy định “ Vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung” Nếu vợ chồng thỏa thuận được trong việc chia tài sản thì thỏa thuận đó được lập thành văn bản và việc phân chia tài sản được pháp luật công nhận Trong trường hợp vợ chồng “ không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết” Như vậy luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tôn trọng sự thỏa thuận của

vợ chồng, ngoài ra Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã dự liệu và hạn

Trang 7

chế việc quy định rõ, cụ thể việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm bổ qua chế độ ly thân trong hôn nhân

c Tuy nhiên việc pháp luật quy định chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân không gián tiếp công nhận ly thân nhưng trên thực tế quy định này đang để lại những hậu quả pháp lý và những hạn chế nhất định:

Thứ nhất: Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy

định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẫn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản

để tự nuôi mình

Thứ hai: Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có

quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000) Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ

Trang 8

và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản

Thứ ba: Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể

thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không quy định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một quy định quá “mở” Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Như vậy, từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể nhận thấy Luật Hôn nhân và gia đình đã khẳng định vợ, chồng có quyền chia tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân và việc chia tài sản này là hoàn toàn hợp lý mở ra sự lựa chon mới cho các cặp vợ chồng trong việc phân chia tài sản Ngoài việc phân chia tài sản chung được phân chia sau ly hôn thì vợ chồng còn lựa chọn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân điều naỳ phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội hiện nay, với quy định này thì pháp luật Hôn nhân không phải gián tiếp quy định chế định ly thân Hơn nữa Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay không có quy định hay văn bản pháp luật nào nói về chế định ly thân, tức là chế định “ ly thân” ở nước ta đã không được công nhận nữa Vậy ý kiến cho rằng “ pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhận ly thân” là không hợp lý và không có cơ sở

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

2 Văn bản Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986 và năm 2000

3 Văn bản Luật Dân sự Việt Nam năm 2005

4 Các web: Thongtinphapluatdansu.com

Trang 10

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Một số quy định của pháp luật về vấn đề: Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và ly thân.

a Thời kỳ hôn nhân.

b Những quy định của pháp luật về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng:

c Vấn đề ly thân:

II Ý kiến cá nhân về vấn đề: “ Có ý kiến cho rằng pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhận ly thân”:

a Trước tiên phải khẳng định việc pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chung sống với nhau là hoàn toàn cần thiết và hợp lí đám ứng được nhu cầu thực tiễn trong hôn nhân hiện nay:

b Thứ hai dựa trên cơ sở pháp lý thì việc nói: “ Pháp luật cho phép vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gián tiếp công nhân ly thân”, thì hoàn toàn sai và không hợp lý:

c Tuy nhiên việc pháp luật quy định chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân không gián tiếp công nhận ly thân nhưng trên thực tế quy định này đang để lại những hậu quả pháp lý và những hạn chế nhất định:

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Ngày đăng: 30/01/2016, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w