1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực tiễn áp dụng quy định chia tài sản của vợ chồng và một số kiến nghị

12 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài sản riêng của bên nào thì thuộc sở hữu của bên đó,tài sản chung được quy định tại Điều 223 Bộ luật Dân sự quy định về sở hữu chung của vợ chồng: Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu c

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I.Khái niệm chung về chế độ tài sản chung của vợ chồng 2

II.Các trường hợp chia tài sản giữa vợ và chồng 3

1.1.Điều kiện để chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân 4

1.2.Điều kiện chia tài sản khi ly hôn

1.3.Điều kiện để chia tài sản khi một bên chết

4 5

2 Nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng 5

2.2 Trong trường hợp vợ chồng ly hôn 5

2.3 Khi một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết 6

3.3 Khi một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết 9

III Thực tiễn áp dụng quy định chia tài sản của vợ chồng và một

số kiến nghị

9

A.LỜI MỞ ĐẦU

Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời

và không có tính đền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các

Trang 2

quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình Vì vậy, để tìm hiểu

rõ hơn về vấn đề này,trong bài tiểu luận dưới đây em xin đi vào phân tích “ Các

trường hợp chia tài sản của vợ chồng – những nét tương đồng và khác biệt”.

B.NỘI DUNG

I.Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng.

1.Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng.

Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền

và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 ( điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33 )

2.Nội dung xác định chế độ tài sản của vợ chồng.

2.1 Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng

Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng được quy định cụ thể trong khoản

1, Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Điều 32 Tài sản riêng của vợ, chồng

1 Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

Còn tài sản chung của vợ chồng thì được quy định tại khoản 1, Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

Điều 27 Tài sản chung của vợ chồng

1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập

do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của

vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

Trang 3

2.2.Nội dung quyền sở hữu

Tài sản riêng của bên nào thì thuộc sở hữu của bên đó,tài sản chung được quy định tại Điều 223 Bộ luật Dân sự quy định về sở hữu chung của vợ chồng:

Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất; vợ chồng cùng tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

II.Các trường hợp chia tài sản giữa vợ chồng – những nét tương đồng và khác biệt.

Có 3 trường chia tài sản giữa vợ chồng: chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, chia tài sản khi ly hôn và chia tài sản khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố

là đã chết

* Giống nhau:

Để thực hiện chia tài đều dựa vào ý chí của các bên và do các bên vợ hoặc chồng thực hiện Vì quan hệ hôn nhân là quan hệ gắn liền với chủ thể không thể chuyển giao cho người khác

* Khác nhau: Dưới đây em đi phân tích cụ thể các nội dung để làm rõ điểm khác biệt giữa các trường hợp chia tài sản của vợ chồng

1.Căn cứ chia tài sản của vợ chồng.

1.1 Trong thời kỳ hôn nhân.

Vấn đề chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân được quy định tại Điều

29 trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000:

Điều 29 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

1 Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2 Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ

về tài sản không được pháp luật công nhận.

Theo định trên thì chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại được tiến hành trong các trường hợp sau:

- Trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng đầu tư

Trang 4

kinh doanh thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng có tài sản riêng làm vốn kinh doanh

- Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: Nếu vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự mà họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ, chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình

- Trường hợp có lý do chính đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ, chồng khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích của vợ chồng hoặc của người thứ ba Vì vậy, lý do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại tùy từng trường hợp có khác nhau

1.2 Căn cứ chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Để chia tài sản khi ly hôn thì phải có sự kiện ly hôn giữa vợ và chồng, đó là khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn ( ly hôn do một bên yêu cầu ), hoặc cả hai vợ chồng đều có yêu cầu ly hôn ( thuận tình ly hôn )

Điều 89 Căn cứ cho ly hôn

1 Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin

ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Vậy căn cứ để chia tài sản khi ly hôn không phải vì mục đích đầu tư kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc có lý do chính đáng khác, mà là khi quan

hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể tiếp diễn như quy định trên

1.3 Điều kiện để chia tài sản khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án

tuyên bố là đã chết.

Trong cả hai trường hợp trên việc chia tài sản diễn ra do ý chí của cả hai bên vợ chồng, khi cả hai đều còn sống, còn trong trường hợp này việc chia tài sản diễn

ra khi một bên vợ hoặc chồng chết

2.Nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng.

2.1 Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể chia toàn bộ hoặc chia một

Trang 5

phần tài sản chung, tùy theo sự thỏa thuận của vợ chồng Nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

2.2 Nguyên tắc chia tài sản khi vợ chồng ly hôn.

Việc chia tài sản của vợ chồng dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng Nếu

vợ chồng thỏa thuận được thì Tòa án công nhận bằng văn bản Trường hợp nếu

vợ chồng không tự thỏa thuận được thì căn cứ Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Trong trường hợp vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản khi

ly hôn theo các nguyên tắc sau:

1 Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thỏa thuận

được thì yêu cầu Toà án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền

sở hữu của bên đó.

2 Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3 Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải theo đúng nguyên tắc được quy định tại Điều 95 Ngoài ra, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng các quy định tại Điều 96, 97, 98 Luật Hôn nhân và gia đình

2.3 Nguyên tắc chia tài sản giữa vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án

tuyên bố là đã chết.

Theo quy định tại Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ, chồng khi một bên chết được quy định như sau:

Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản ( khoản 2, điều 31 )

Như vậy, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người còn sống sẽ được thừa kế tài sản của vợ chồng mình đã chết Vợ, chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo

Trang 6

luật cùng với cha, mẹ và các con của người chết Trong trường hợp cần chia di sản của vợ chồng đã chết theo yêu cầu của những người thừa kế thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi; phần tài sản của người vợ, chồng đã chết được chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế

3.Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản.

3.1 Trong thời kỳ hôn nhân.

3.1.1 Hậu quả pháp lý về nhân thân.

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ

vợ chồng trước pháp luật, do đó giữa vợ chồng vẫn tồn tại nghĩa vụ vợ chồng như nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa vụ chung thủy,… Vì vậy, việc chia tài sản này không có nghĩa là quy định về ly thân Đa số trường hợp sau khi chia tài sản chung vợ chồng vẫn chung sống bình thường Do đó, quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại, khối tài sản phát sinh sau khi đã chia về nguyên tắc vẫn là sở hữu chung hợp nhất Đây cũng là điển khác biệt cơ bản so với các trường hợp chia tài sản khác

3.1.2 Hậu quả pháp lý về tài sản.

a, Quyền sở hữu riêng của vợ chồng đối với phần tài sản được chia Theo quy định tại Điều 29, 30 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với tài sản đã được chia Khoản 1, Điều 8, Nghị định số

70/ ND-CP cũng quy định: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia

thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”.

b,Quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với phần tài sản chung

Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “… phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”, Điều 8 Nghị định 70/ ND-CP quy định rõ thêm: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng” Đối với phần tài sản chung này, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng không tuyệt đối Chế độ sở hữu chung của vợ chồng chưa chấm dứt, nó vẫn đương nhiên tồn tại và là sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng sau khi chia một phần tài sản chung sẽ gồm:

- Phần tài sản chung của vợ chồng chưa chia

- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ những tài sản này

Trang 7

- Tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung sau khi chia tài sản chung Vì quan hệ Hôn nhân vẫn đang tồn tại nên tài sản

mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung là tài sản thuộc

sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung

- Quyền sử dung đất mà mỗi bên vợ hoặc chồng có được sau khi chia tài sản chung do được nhà nước giao, giao khoán, hoặc được thuê của nhà nước… Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và các Điều 24, 25 Nghị định số 70/ND-CP thì đây là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ chồng có được chỉ là tài sản chung của vợ chồng nếu nó không liên quan đến ly do chia tài sản chung của

vợ chồng

- Vấn đề tài sản mà vợ chồng làm ra sau khi chia tài sản chung được quy định tại khoản 2, Điều5 Nghị định 70/ND-CP: “Thu nhập lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác” Theo em quy định này là chưa hợp lý, mâu thuẫn với quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Việc khôi phục chế độ tài sản chung chỉ có thể đặt ra khi vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Việc khôi phục chế độ tài sản chung phải theo thuận bằng văn bản của vợ chồng

3.2 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản khi ly hôn.

3.2.1 Hậu quả pháp lý về nhân thân.

Theo nguyên tắc chung, kể từ khi bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu, quan hệ hôn nhân chấm dứt về mặt pháp

lý, các đương sự không còn phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa

vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

3.2.2 Hậu quả pháp lý về tài sản.

a, Quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng

Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc sở hữu của bên đó Sau khi ly hôn

vợ , chồng có tài sản riêng thì có quyền lấy về, tuy nhiên phải chứng minh được

đó là tài sản riêng của mình, nếu không chứng minh được thì tài sản đó là tài sản

Trang 8

chung Trong trường hợp vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung mà tài sản đó đã chi dùng cho gia đình không còn nữa thì không được đòi lại hoặc đền bù Đối với những đồ trang sức mà vợ, chồng được cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng tặng cho riêng trong ngày cưới là tài sản riêng

b, Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung được chia theo nguyên tắc quy định tại khoản 2, Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình.Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

do vợ chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình thì thực hiện theo quy định tại Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình 2000

Trong trường hợp nhà thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia thì chia theo quy định tại Điều 95, nếu không thể chia thì bên sử dụng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà người đó được hưởng Trường hợp nhà thuộc sở hữu riêng của một bên đã đưa vào sử dụng chung khi ly hôn nhà đó vẫn thuộc sở hữu riêng nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà dựa vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà ( Điều 99 )

Vấn đề chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, bên cạnh Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự năm 2005 của Nhà nước ta từ Điều 679 đến Điều 732 đã quy định về chuyển quyền sử dụng đất Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định việc chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

c, Giải quyết vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi ly hôn, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia

có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình” Theo đó, nghĩa vụ cấp dưỡng đặt ra đối với cả hai vợ chồng nếu đảm bảo các quy định về điều kiện cấp dưỡng

d, Hậu quả pháp lý về con cái

Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:

1.Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục,nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

2 Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án

Trang 9

quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

3.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản khi một bên chết trước hoặc

bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

3.3.1 Quan hệ nhân thân.

Khi một bên vợ chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì quan

hệ hôn nhân giữa vợ chồng đương nhiên chấm dứt Các quyền và nghĩa vụ giữa

vợ và chồng phát sinh từ khi kết hôn sẽ chấm dứt Người vợ chồng còn sống vẫn được hưởng các quyền lợi phát sinh từ hôn nhân với người vợ chồng đã chết Một trong số các quyền đó không phụ thuộc vào việc người đó có lấy vợ, chồng khác hay không Khác với trường hợp khi ly hôn, trong trường hợp này nghĩa vụ sau khi ly hôn như cấp dưỡng cũng không được thực hiện, vì quan hệ hôn nhân gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác

3.3.2 Quan hệ tài sản.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 31 Luật HN&GD năm 2000: “Khi vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản

lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản”.

Như vậy, vợ chồng còn sống có quyền quản lý tài sản chung của vợ, chồng đã chết Điều này còn được quy định tại Điều 673 Bộ luật Dân sự năm 2005

III Thực tiễn áp dụng quy định chia tài sản của vợ chồng và một số kiến nghị.

1.Chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Hiện nay, thực tế áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình trong trường hợp này vẫn còn nhiều mâu thuẫn và thiếu sót Chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh.Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với

gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “mở” Luật Hôn nhân

không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 của bộ luật này hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo

Trang 10

dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân

sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

2.Chia tài sản khi vợ chồng ly hôn.

Vấn đề chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn đã được quy định trong Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định về chuyển quyền sử dụng đất Tuy nhiên Tòa án chưa có những hướng dẫn cụ thể, nên các trường hợp vợ chồng ly hôn liên quan đến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất còn phải xử nhiều lần Cấp dưỡng là vấn đề đặc biệt khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt nên pháp luật cần có những quy định đầy đủ và cụ thể hơn về quyền yêu cầu cấp dưỡng, thời điểm yêu cầu cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng,… Qua đó sễ tạo

cơ sở pháp lý trong việc giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn một cách hợp tình hợp lý

3.Chia tài sản khi một bên vợ chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết.

Thực tế áp dụng cac quy định của pháp luật về chia tài sản trong trường chưa có nhiều quy định cụ thể mà, các Nghị định, văn bản pháp luật khác cũng chứa ít quy định cụ thể Vậy các nhà làm luật nên quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trường hợp này để việc giải quyết được dễ dàng hơn, tránh những tranh chấp xảy ra

Ngày đăng: 30/01/2016, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w