1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này

16 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định này là hoàn toàn phù hợp vì thông qua quyền nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo có điều kiện để thực hiện một số quyền cơ bản như quyền bào chữa, quyền tham gia phi

Trang 1

BÀI LÀM

A MỞ ĐẦU

Xét xử sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình giải quyết vụ án hình sự vì đây là lần đầu tiên vụ án được giải quyết về nội dung Thông qua các thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm như bắt đầu phiên tòa, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án mà Tòa án sẽ giải quyết được vụ án như ra được bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội Để tìm hiểu sâu hơn quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm em xin chọn đề

bài “Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm và việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này”.

B NỘI DUNG

I Quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm: đó là cách thức tiến hành xét xử lần đầu tại phiên tòa theo một trật tự xác định nhằm giải quyết toàn diện nội dung vụ

án hình sự, được quy định trong BLTTHS Bao gồm thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án

1 Thủ tục bắt đầu tại phiên tòa.

Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ Điều 201 đến Điều 205 BLTTHS năm 2003 nhằm kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng và tạo điều kiện cần thiết cho phiên tòa

 Đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử

Điều 201 BLTTHS quy định “khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử” Quy định này là hoàn toàn phù hợp vì thông

qua quyền nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo có điều kiện để thực hiện một số quyền cơ bản như quyền bào chữa, quyền tham gia phiên tòa, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng… Thông qua nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử được đọc tại phiên tòa, các bị cáo và những

Trang 2

người tiến hành tố tụng có thể nắm được những thông tin cơ bản như thời gian, địa điểm mở phiên tòa, thành phần người tham gia tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, điều khoản của BLHS mà Viện Kiểm sát áp dụng để truy tố bị cáo Một trong những quyền cơ bản của bị cáo là được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS Thông qua đó, bị cáo mới có điều kiện để thực hiện một số quyền cơ bản như quyền bào chữa, quyền tham gia phiên tòa Việc bị cáo chưa nhận được Cáo trạng của Viện Kiểm sát hoặc quyết định đưa vụ án ra xét

xử của Tòa án trước khi mở phiên tòa là vi phạm tố tụng

 Kiểm tra căn cước và giải thích quyền, nghĩa vụ vủa những người được triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa

Kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng là việc của chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước của những người được triệu tập đã có mặt Đây là một thủ tục bắt buộc, mục đích là nhằm xác định xem họ có đúng là người có lý lịch được phản ánh trong hồ sơ vụ án không, để HĐXX có thể xác định được mức độ hợp pháp hoặc không hợp pháp trong quá trình tiến hành tố tụng của

Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát trước khi mở phiên tòa

Trường hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án và lời khai của người được triệu tập

về căn cước của họ có sự khác nhau, HĐXX cần xác định chính xác căn cước của họ Nếu tài liệu trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ để xác định chính xác căn cước của bị cáo thì HĐXX ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.1

Sau khi kiểm tra căn cước, chủ tọa giải thích quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa theo quy định tại Điều 203, Điều 204 BLTTHS

 Giải quyết các yêu cầu trong thủ tục bắt đầu phiên tòa

- Điều 205 BLTTHS thì người tham gia tố tụng có quyền “đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu” vì nó có thể là những chứng cứ mà họ đã cung cấp qua lời khai hoặc là chứng cứ tài liệu mới Tại phiên tòa nếu có người tham gia tố tụng

Trang 3

vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hỏi Kiểm sát viên, bị cáo… xem ai có yêu cầu hoàn phiên tòa để triệu tập người vắng mặt hay không Mặt khác, Điều

202 BLTTHS quy định rõ chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem họ có yêu cầu đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch Vì hoạt động của những người này có ảnh hưởng rất lớn đối với kết quả của quá trình

tố tụng Vì vậy nếu họ làm việc không vô tư, khách quan sẽ có nguy cơ làm sai lệch kết quả xét xử nên việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiếm sát viên, thư ký Tòa án là hợp lý Và người giám định cũng như người phiên dịch có mặt để giúp đỡ cho việc tố tụng được thuận lợi Do đó những người tham gia tố tụng có quyền đề nghị thay đổi người này giúp cho quá trình xét

xử được khách quan và toàn diện

2 Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.

Xét hỏi là thủ tục trong xét xử do HĐXX, Kiểm sát viên và những người khác theo quy định của pháp luật thực hiện bằng cách đặt câu hỏi trực tiếp cho

bị cáo và những người tham gia tố tụng, xem xét vật chứng, xem xét hiện trường xảy ra vụ án nhằm kiểm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa để giải quyết vụ án 2 Mục đích của việc xét hỏi là xem xét công khai những chứng cứ

đã thu thập ở giai đoạn điều tra và chứng cứ mới để chứng minh vụ án

 Đại diện Viện Kiểm sát đọc bản cáo trạng:

Mở đầu xét hỏi là việc Viện Kiểm sát đọc bản cáo trạng – thủ tục bắt buộc (Điều 206 BLTTHS) Sau đó, Kiểm sát viên có thể trình bày bổ sung ý kiến (nếu có) thể hiện sự truy tố công khai của Viện Kiểm đối với bị cáo

Việc đọc bản cáo trạng giúp cho người tham gia tố tụng cũng như người tham dự phiên tòa nắm được toàn bộ diễn biến nội dung vụ án, quan điểm truy

tố của Viện Kiểm sát Hơn nữa, giúp cho bị cáo đối chiếu, so sánh với nội

Trang 4

dung bản cáo trạng mà bị cáo đã được giao trước đó, qua đó đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa, và các quyền tố tụng khác tại phiên tòa

 Việc cách ly những người tham gia tố tụng

Nếu thấy cần thiết, trước khi xét xử Chủ tọa ra quyết định cách ly người làm chứng, bị cáo để tránh việc khi khai báo tại phiên tòa, lời khai của người này

có thể ảnh hưởng bởi sự có mặt của người khác Đối với bị cáo bị cách ly thì sau khi họ trở lại phòng xử án thì Chủ tọa phiên tòa cần thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước đó

 Nội dung và trình tự xét hỏi tại phiên tòa

Nội dung xét hỏi: Hội đồng xét xử xét hỏi tại phiên tòa là toàn bộ các tình tiết,

sự việc trong vụ án phục vụ cho việc kiểm tra chứng cứ nhằm xác định sự thật

vụ án Đối với việc tham gia xét hỏi, theo k.2 Đ209 “Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội và gỡ tội bị cáo Người bào chữa được hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa Người bảo

vệ quyền lợi của đương sự được hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo

vệ quyền lợi đương sự Những người tham gia phiên tòa có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.”

Trình tự xét hỏi tại phiên tòa : theo k.2 Điều 207 thì khi xét hỏi từng người

Chủ tọa hỏi trước rồi đến Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo

vệ quyền lợi của đương sự, người giám định Tuy nhiên, do chức năng và tư cách tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể này khác nhau nên phạm

vi, nội dung xét hỏi cũng khác nhau

Thứ tự xét hỏi: những người tham gia xét hỏi có thể xét hỏi lần lượt từng

người, theo thứ tự nhất định và chủ tọa phiên tòa phải xác định cần xét hỏi người nào trước, người nào sau Sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng xong chủ tọa phiên tòa hỏi xem bị cáo có ý kiến gì về bản cáo trạng hay không, bị cáo bị truy tố về tội gì theo điểu khoản nào của Bộ luật Hình sự Trong trường

Trang 5

hợp Kiểm sát viên bổ sung bản cáo trạng làm cho nội dung bản cáo trạng có thay đổi lớn, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem bị cáo có ý kiến gì không Nếu bị cáo yêu cầu hoãn phiên tòa thì HĐXX phải xem xét quyết định Theo Điều 210 BLTTHS, tiếp đến là hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó trình bày về những tình tiết của vụ án Sau đó, HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn

Khi hỏi người làm chứng, HĐXX hỏi riêng từng người và không để cho những người làm chứng khác biệt được nội dung xét hỏi đó HĐXX phải làm

rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với bị cáo và các đương sự khác trong

vụ án, yêu cầu họ trình bày rõ những tình tiết mà họ biết về vụ án Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha,

mẹ, người đỡ đầu hoặc thày cô giáo giúp đỡ xét hỏi

Hỏi người giám định: người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến công tác giám định HĐXX yêu cầu người giám định trình bày kết luận giám định và sau đó hỏi thêm những vấn đề chưa rõ Tại phiên tòa, người giám định có quyền giải thích, bổ sung trên cơ sở kết luận giám định Nếu người giám định vắng mặt thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định

 Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra:

Theo khoản 2 Điều 208 BLTTHS chỉ được công bố lời khai của người được xét hỏi tại Cơ quan điều tra trong những trường hợp sau:

- Lời khai tại phiên tòa của người được xét hỏi có mâu thuẫn với lời khai của chính họ tại Cơ quan điều tra

- Người được xét hỏi không trả lời những câu hỏi được đưa ra tại phiên tòa

- Người được xét hỏi vắng mặt tại phiên tòa hoặc đã chết

Trang 6

Việc công bố lời khai tại phiên Cơ quan điều tra của những người tham gia

tố tụng có mặt tại phiên tòa chỉ được thực hiện sau khi đã hỏi nhưng họ không trả lời hoặc nội dung trả lời mâu thuẫn với lời khai tại Cơ quan điều tra Sau khi công bố lời khai của người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa, HĐXX

có thể hỏi vì sao có sự mâu thuẫn giữa các lời khai như thế, nhưng không bắt buộc người được hỏi phải trả lời lý do Mục đích của việc công bố lời khai không phải để khuất phục bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác mà

để đảm bảo nguyên tắc khi xét xử tất cả các chứng cứ trong vụ án đều phải được xem xét một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

 Xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ:

Khoản 1 Điều 212 BLTTHS quy định vật chứng, ảnh, biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên tòa Xem xét tại chỗ căn cứ theo Điều

213 BLTTHS “ Nếu xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa tố tụng đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án” Kiểm sát viên, người bào chữa, và những người khác tham gia phiên tòa

có quyền trình bày những nhận xét của mình về những nơi đó, HĐXX có thể hỏi thêm những người tham gia phiên tòa về vấn đề liên quan đến nơi đó

 Kết thúc xét hỏi:

Khi nhận thấy các tình tiết vụ án đã được xem xét đầy đủ, chủ tọa phiên tòa hỏi kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa xem có yêu cầu xét hỏi gì nữa không Nếu có người yêu cầu và thấy là cần thiết thì chủ tọa phiên tòa sẽ quyết định tiếp tục việc xét hỏi Nếu không có yêu cầu hoặc yêu cầu không hợp lý chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi, chuyển sang phần tranh luận

3 Tranh luận tại phiên tòa

Trang 7

Tranh luận là “bàn cãi để tìm ra lẽ phải”.3 Tranh luận bao gồm trình tự phát biểu tại phiên tòa, đối đáp tại phiên tòa, trở lại việc xét hỏi, xem xét việc rút quyết định truy tố, kết thúc tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo

Trong phần tranh luận bên buộc tội và bên bào chữa sẽ đưa ra các đánh giá, kết luận của mình về chứng cứ của vụ án đã được làm rõ trong quá trình xét hỏi trước đó Để đảm bảo những quan điểm của mình, các bên tham gia tranh tụng trên cơ sở phân tích chứng cứ, tài liệu có liên quan để có những lý lẽ, lập luận phản bác lại quan điểm của bên kia HĐXX lắng nghe các bên tranh luận, đối đáp là cơ sở cho việc nghị án và đưa ra các phán quyết phù hợp, đúng đắn

 Các chủ thể trực tiếp tham gia vào tranh luận

Bao gồm: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự và người tham gia tố tụng khác trừ người làm chứng, người giám định và phiên dịch

 Trình tự phát biểu khi tranh luận :

Trước hết, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Kiểm sát viên có thể đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn Nếu kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn, HĐXX vẫn tiếp tục Trường hợp nếu không có căn cứ kết tội bị cáo, Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và

đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội Vì theo quy định khoản 1 Điều

217 BLTTHS năm 2003 quy định thì luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa vào ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa

3

Từ điển Tiếng Việt năm 2003 của Viện ngôn ngữ học Việt Nam

Trang 8

Sau đó, bị cáo có thể tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình theo quy định của pháp luật (khoản 3 điều 217 BLTTHS) Trong quá trình thực hiện việc bào chữa, người bào chữa phải sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh bị cáo không có tội hoặc có tội nhưng ở mức độ nhẹ hơn luận tội của Kiểm sát viên và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo

Hơn nữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền

và lợi ích liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Nếu có người bảo vệ quyền lợi của đương sự tham gia, thì họ có quyền trình bày bổ sung ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho người mà mình bảo vệ Sau khi người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình, Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến có liên quan đến vụ án Trường hợp người bào chữa

có nhiều người bào chữa cho bị cáo và những người bào chữa đều có cùng ý kiến về nội dung bào chữa thì Kiểm sát viên có thể tổng hợp để đối đáp chung một lần cho các ý kiến đó

Trong trường hợp người tham gia tranh luận có ý kiến khác nhau thì họ có quyền phản bác lại ý kiến mà mình không đồng ý Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án Đối với những ý kiến có liên quan đến vụ án chưa được Kiểm sát viên tranh luận thì chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải tranh luận và đáp lại Trong quá trình tranh luận nếu xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ mới thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong phải tiếp tục tranhluận Sau khi những người tham gia tranh luận không còn trình bày gì thêm nữa, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận và bị

Trang 9

cáo được nói lời sau cùng Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì HĐXX phải quyết định trở lại việc xét hỏi (Điều 220 BLTTHS)

4 Nghị án và tuyên án

4.1 Nghị án

Nghị án là “thảo luận riêng để quyết định hình thức xử lý về một vụ án”.4

Trong TTHS được hiểu là việc HĐXX đưa ra các quyết định để giải quyết toàn diện các vấn đề trong vụ án Theo quy định tại Điều 222 BLTTHS thì

“Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án”, khi nghị án chỉ được

căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa Nếu thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì HĐXX phải quyết định trở lại xét hỏi và tranh luận theo trình tự được quy định trong BLTTHS

Mặc dù BLTTHS không quy định nội dung phải xem xét, giải quyết trong quá trình nghị án nhưng thông thường bao gồm: bị cáo có tội hay không, nếu

bị cáo có tội thì là tội gì, loại và mức hình phạt, bị cáo có được hưởng án treo hay không, những vấn đề khác như bắt giam hoặc trả tự do…

Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố khi trình bày lời luận tội thì khi nghị án HĐXX vẫn tiến hành thảo luận Nếu có căn cứ cho rằng bị cáo không có tội thì tuyên bị cáo vô tội, nếu thấy việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên không có căn cứ thì HĐXX phải quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét

4

Từ điển Tiếng Việt 2003 của Viện ngôn ngữ học Việt Nam

Trang 10

Sau khi kết thúc nghị án các thành viên của HĐXX phải ký vào biên bản nghị

án trước khi tuyên án Thành viên của HĐXX có ý kiến thiểu số thì có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản riêng và được đưa vào hồ sơ vụ án

4.2 Tuyên án

Tuyên án là việc HĐXX đọc toàn bộ nội dung bản án đã được thông qua trong phòng nghị án tại phiên tòa Sau khi nghị án chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX chỉnh lý lại bản án theo nội dung mà HĐXX đã thảo luận và thông qua khi nghị án Sau khi bản án được thông qua thì HĐXX trở lại phòng xử án để tuyên án Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trường hợp bản án quá dài chủ tọa có thể chỉ yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi đọc phần mở đầu và phần quyết định của bản án Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của HĐXX đọc bản án sau đó có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo

II Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm.

1 Những bất cập, hạn chế của quy định BLTTHS về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Chất lượng xét xử vụ án hình sự ngày càng được nâng cao thể hiện việc người

bị kết án oan sai ngày càng giảm: năm 2004 có 5 người bị kết án oan, năm

2005 có 4 người bị kết án oan, và năm 2006 không có trường hợp nào Tòa án kết án oan Tuy nhiên theo quy định của BLTTHS về thủ tục phiên tòa sơ thẩm vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, quy định về tình tự xét hỏi, tranh luận chưa thể hiện được yêu cầu của tòa án phải có vai trò khách quan, công bằng, vô tư của một

vị trọng tài đứng giữa phán xét

 Về thủ tục bắt đầu phiên tòa :

Ngày đăng: 30/01/2016, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w