Trọng tài thương mại TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp luật
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật Thương mại 2005
2 Luật Trọng tài thương mại 2010
3 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003
4 Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế
5.Trần Bảo Yến, Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Khóa luận tốt nghiệp
6 www.viac.org.vn
7.http://moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?
ItemID=2775
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu
1 Trọng tài thương mại – phương thức giải quyết tranh chấp thương mại 1
1.2 Ưu điểm 1
2 Sự cần thiết phải ban hành Luật Trọng tài thương mại 3
3 Những điểm mới cơ bản của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh
3.1 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài 4
3.2 Về thỏa thuận trọng tài 5
3.3 Về trọng tài viên và tiêu chuẩn trọng tài viên 8
3.4 Về trọng tài qui chế 9
3.5 Về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 9
3.6 Về qui định mất quyền phản đối 11
3.7 Về quyền của người tiêu dùng 12
3.8 Về mối quan hệ giữa trọng tài và Tòa án 12
3.9 Về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 13
3.10 Về thời hiệu khởi kiện 14
4 Đánh giá những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại 14
Tài liệu thạm khảo
MỞ ĐẦU
Hiện nay, đất nước ta đang nỗ lực xây dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Các chủ thể kinh doanh lớn mạnh cả về chất và lượng, các hoạt động thương mại ngày càng phong phú và đa dạng; và đương nhiên những xung đột về lợi ích xảy ra, những tranh chấp thương mại phát sinh là điều không thể tránh khỏi Do vậy, việc nghiên cứu các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại là cần thiết trong bối cảnh hiện nay, và cần thiết hơn khi Trọng tài thương mại vẫn còn là phương
Trang 3thức giải quyết tranh chấp khá mới mẻ ở Việt Nam Xuất phát từ yêu cầu đó, nhóm
em xin chọn đề tài: “Tìm hiểu những điểm mới cơ bản của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003”.
1 Trọng tài thương mại – phương thức giải quyết tranh chấp thương mại 1.1 Khái niệm.
Trọng tài thương mại (TTTM) là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp luật quy định, giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên tồn tại dưới hai hình thức trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài qui chế (trọng tài thường trực) với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột trong quá trình tiến hành các hoạt động thương mại bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Về bản chất, phương thức TTTM
là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán, điều này được cụ thể hóa qua những đặc điểm sau:
- Nhân danh ý chí các bên, không nhân danh quyền lực tư pháp của Nhà nước
- Trọng tài chỉ xét xử một lần, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp
- Thủ tục tố tụng trọng tài đơn giản, mềm dẻo, linh hoạt và không công khai
1.2 Ưu điểm.
- Nhanh chóng: Theo thủ tục tố trụng trọng tài, thời gian thụ lý giải quyết
tranh chấp chỉ thu gọn trong vài tháng Ở đây không có quá trình điều tra, xác minh
mà tự các bên liên quan phải cung cấp đầy đủ căn cứ, tài liệu theo luật định cho Trung tâm trọng tài Hội đồng trọng tài sẽ dựa trên những chứng cứ đó và các bộ luật
để phân tích, đánh giá, phán quyết Khi cần yêu cầu bổ sung thêm tài liệu, hồ sơ, Trung tâm trọng tài sẽ thông báo cụ thể đến bên liên quan và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
- Sâu về chuyên môn: Các trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài bao gồm
hai nhóm: nhóm chuyên gia và nhóm luật sư Nhóm đầu là những chuyên gia đầu ngành của nhiều lĩnh vực được Trung tâm mời làm trọng tài viên tham gia xử các vụ
Trang 4việc có liên quan đến chuyên ngành mà chuyên gia đang làm việc và có nhiều kinh nghiệm Vì vậy, cùng với các luật sư trong hội đồng trọng tài, các khía cạnh chuyên môn được mổ xẻ, phân tích một cách khoa học, khách quan và nhanh chóng Đây là một trong các ưu điểm nổi trội của phương pháp này
- Hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực: Trong một vụ tranh chấp, dù là nguyên
đơn hay bị đơn, một khi đã ra toà thì uy tín của thương hiệu ít nhiều giảm sút nơi khách hàng Ảnh hưởng đó mờ nhạt hơn khi giải quyết bằng con đường trọng tài Trong thời đại Internet thì mọi thông tin đều có khả năng lan truyền rất nhanh và rất rộng vì thế giữ vững uy tín và thương hiệu luôn luôn là phương châm phát triển bền vững của các doanh nghiệp
- Phán quyết trọng tài là chung thẩm: Khi hội đồng trọng tài đã ra phán
quyết thì phán quyết đó là chung thẩm, được pháp luật bảo hộ thi hành Ở toà án có nhiều cấp hơn là sơ thẩm, phúc thẩm và chung thẩm vì thế phức tạp hơn và cũng kéo dài hơn
- Sự công nhận quốc tế: Phán quyết trọng tài được công nhận rộng rãi:cho đến
nay đã có nhiều Công ước quốc tế về trọng tài thương mại được ký kết và phê chuẩn bởi nhiều quốc gia như Công ước New York 1958, Công ước Washington 1965, Công ước Liên Mỹ về trọng tài thương mại quốc tế;do đó, các phán quyết của trọng tài được công nhận rộng rãi hơn và dễ thực thi hơn so với các phán quyết ở tòa án
Với những ưu điểm nổi trội như vậy, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là xu thế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế Điều này tạo nên thách thức cho các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam phải làm sao xây dựng được khung pháp lí phù hợp, cần thiết để cụ thể hóa những lợi thế vốn có của TTTM, đáp ứng được nhu cầu giải quyết tranh chấp ngày càng phức tạp
2 Sự cần thiết phải ban hành Luật TTTM.
Để đáp ứng nhu cầu của hoạt động trọng tài trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, ngày 25/02/2003, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương
Trang 5mại (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2003) tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại Pháp lệnh Trọng tài thương mại về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế Tuy nhiên, qua hơn sáu năm thực hiện, Pháp lệnh này đã bộc lộ không ít những hạn chế
và bất cập như: Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; chủ thể của các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; việc triệu tập nhân chứng; vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; việc hủy quyết định trọng tài; cách tính thời hiệu khởi kiện v.v…
Theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC), trong năm 2007 TAND Thành phố Hà nội đã xử gần 9.000 vụ án trong đó có khoảng 300 vụ tranh chấp kinh tế và TAND Tp Hồ Chí Minh xử gần 42.000 vụ án, trong đó có 1000 vụ tranh chấp kinh tế thì VIAC với tư cách là tổ chức trọng tài lớn nhất Việt Nam cũng chỉ tiếp nhận 30 vụ tranh chấp trong năm 2007 và 58 vụ trong năm 2008 Trong khi mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm, ở Toà kinh tế Tp Hồ Chí Minh xử 50 vụ một năm thì mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một năm
Để lí giải cho thực trạng trên, các trung tâm trọng tài và trọng tài viên cho rằng, có rất nhiều lý do dẫn đến việc trọng tài ít được nhớ đến trong các vụ tranh chấp thương mại Trong đó có 3 lý do được nói đến nhiều nhất đó là hiệu lực thi hành của quyết định trọng tài thấp (61,4%), nhiều người chưa tin tưởng phương thức này (68,6%), và có rất nhiều người chưa biết đến phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài (74,3%)
Từ thực tế này, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM) vẫn chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chủ trương của Nhà nước khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thương mại
và các tranh chấp khác Cần phải ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại -Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh TTTM trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn
Trang 63 Những điểm mới cơ bản của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003.
Xuất phát từ nhu cầu bức thiết trên, ngày 17/6/2010, Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011 đã được Quốc hội khóa XII
kỳ họp thứ 7 thông qua, thay thế cho Pháp lệnh TTTM Đây là một tín hiệu đáng mừng đối với hoạt động trọng tài thương mại các tổ chức trọng tài ở Việt Nam Luật TTTM 2010 ra đời đã khắc phục được những thiếu sót của Pháp lệnh TTTM 2003, kịp thời bổ sung những qui định phù hợp với xu hướng quốc tế khuyến khích sử dụng TTTM trong giải quyết tranh chấp
3.1 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM.
Nếu như Pháp lệnh TTTM 2003 trong qui định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM bị giới hạn chỉ là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh với nhau Theo đó, hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật;
li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật (Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh TTTM).Với cách liệt kê như trên, sẽ dễ dàng trong việc nhìn ra những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM nhưng lại không dự liệu được hết các trường hợp tranh chấp xảy ra trong thực tế Ví dụ: Tranh chấp liên quan đến góp vốn, mua bán cổ phiếu có thuộc phạm vi thẩm quyền của TTTM hay không?
Với cách qui định không rõ ràng, không bao quát như vậy, Luật TTTM đã dỡ
bỏ hạn chế trên thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của TTTM Điều 2 Luật TTTM, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài gồm: (1) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (2) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (3) Tranh chấp khác giữa các bên
mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Trang 7Như vậy, theo Luật TTTM, luật không có giới hạn về phạm vi chủ thể tranh chấp Tổ chức, cá nhân bất kỳ đều có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp miễn là lĩnh vực tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc những tranh chấp khác mà trong tương lai pháp luật có thể qui định đều có thể thỏa thuận giải quyết bằng TTTM Các tranh chấp khác này có thể là: các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…
Sự cải tiến này là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM
so với Pháp lệnh TTTM, là rất cần thiết vì nó sẽ giúp giảm gánh nặng xét xử cho Tòa
án, bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân sự,
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại, và các luật chuyên ngành khác, phù hợp với xu thế chung của Pháp luật các nước và Luật mẫu về Trọng tài Ví dụ: Luật Trọng
tài Đức: “Bất kì khiếu nại nào có liên quan đến một lợi ích kinh tế đều có thể là đối
tượng của thỏa thuận trọng tài, trọng tài có quyền giải quyết ngoại trừ tranh chấp về hoạt động thuê nhà trên lãnh thổ Đức thì trọng tài không có quyền giải quyết”.
3.2 Về thỏa thuận trọng tài.
Về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Điều 9 Khoản 1 Pháp lệnh TTTM: “Thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng
văn bản Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản” Quy định trên đã xác định
được tiêu chí hình thức bắt buộc đó là Thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm “văn bản” vẫn còn hẹp so với Luật mẫu về trọng tài và luật trọng tài các nước Sự không tương thích này có thể dẫn tới việc cùng một vụ việc cùng một thỏa thuận trọng tài nhưng trọng tài nước ngoài lại có thể giải quyết tranh chấp trong khi đó trọng tài nước ta lại không thể giải quyết Điều này sẽ phần nào cản trở quá trình hội nhập quốc tế của nước ta
Xuất phát từ hạn chế đó, Luật TTTM đã mở rộng nội hàm của khái niệm “văn bản” hơn nhiều, bổ sung nhiều hình thức được coi là thỏa thuận bằng văn bản như: bằng telegram, thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền
Trang 8ghi chép lại bằng văn bản, các hình thức trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phản đối, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác Như vậy, với qui định này, Luật TTTM đã có bước tiến đáng kể trong việc xác lập hình thức thỏa thuận trọng tài phù hợp với Luật mẫu về trọng tài cũng như luật trọng tài các nước phát triển, mở rộng phạm vi thỏa thuận cho các chủ thể đảm bảo quyền tự do thỏa thuận mà pháp luật đã khẳng định
Về thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Là trường hợp các bên thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng thỏa thuận đó không được công nhận hiệu lực.Theo đó, Điều 18 của Luật TTTM giới hạn 6 tình huống thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu gồm:
- Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài theo quy định tại Điều 2 của Luật này.
- Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.
- Một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
- Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Như vậy, Luật Trọng tài thương mại có những quy định cụ thể và rõ ràng hơn
so với những quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Đặc biệt Luật đã bỏ quy định về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, Luật cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại Trong trường hợp không thỏa thuận được thì bên khởi kiện (Nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn
tổ chức trọng tài mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 9hợp pháp của mình (Khoản 5 Điều 43) Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp
Bổ sung trường hợp thỏa thuận trọng tài không thực hiện được
Được hiểu là những thỏa thuận trọng tài thỏa mãn tất cả các điều kiện về nội dung, chủ thể kí kết, hình thức, phạm vi tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài nhưng lại không thể tiến hành giải quyết bằng trọng tài được Ví dụ, có một số điều
khoản trọng tài quy định: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ được giải
quyết trước tiên tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam sau đó sẽ được giải quyết chung thẩm tại Tòa án”; hoặc “Tranh chấp nếu có sẽ được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và Tòa án Trọng tài Quốc tế ICC”
Những điều khoản trọng tài này không thể thực hiện được trong thực tiễn bởi thỏa thuận có sự mâu thuẫn Vậy vấn đề này sẽ được giải quyết như thế nào? Các bên
sẽ đưa tranh chấp ra cơ quan nào để giải quyết? Điều này thì Pháp lệnh TTTM không
hề đề cập Từ thiếu sót đó, Luật TTTM đã qui định: “Trong trường hợp các bên
tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được” (Điều 6).
Đây là một điểm mới cơ bản của Luật TTTM so với Pháp lệnh TTTM, hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế và luật trọng tài các nước Chẳng hạn, Khoản 1
Điều 8 Luật mẫu về trọng tài quy định “Tòa án, nơi có khiếu kiện về vấn đề đối tượng
của thỏa thuận được đưa ra, nếu một bên yêu cầu không muộn hơn thời gian khi nộp bản giải trình đầu tiên của mình về nội dung tranh chấp, sẽ chuyển tranh chấp ra trọng tài trừ khi thấy rằng thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không có hiệu lực hoặc không thể thực hiện được” Điều II Công ước New York 1958 quy định “Tòa án của một quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên ra trọng tài , trừ khi Tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên không có hiệu lực hoặc không thể thực hiện được”
Trang 103.3 Về trọng tài viên và tiêu chuẩn trọng tài viên.
Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại
2010 vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội Theo đó cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên (theo Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật TTTM) Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn Trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật có quy định mở đó là trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu của quy định tại điểm b cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên (theo Điểm c Khoản 1 Điều 20 Luật Trọng tài thương mại) Quy định này đã tạo điều kiện cho các bên đương sự có thể lựa chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn, uy tín của nhà chuyên môn nào đó và trong trường hợp đó thì nhà chuyên môn này cũng có thể được các bên chọn làm Trọng tài cho vụ việc của họ
Điểm mới tiếp theo, Luật Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
Về thay đổi trọng tài viên, so với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM qui định thêm
một căn cứ: “Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước
khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản”(Điểm d khoản 1 điều 42).Qui định này là cần thiết, bởi lẽ
chính mối quan hệ trước đó của trọng tài viên đối với một bên tranh chấp trong cùng một vụ việc cũng ảnh hưởng đến tính vô tư, khách quan của trọng tài viên trong quá
trình ra phán quyết trọng tài.
3.4 Về trọng tài qui chế.