1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn hoạt động cho vay và một số hạn chế pháp luật phát sinh trong quá trình cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng

21 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 145,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn hoạt động cho vay và một số hạn chế pháp luật phát sinh trong quá trình cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng: 9 III.. Tuynhiên, hoạt động này tiềm ẩn không

Trang 1

Mục lục

I Khái quát về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các TCTD: 1

1, Chủ thể tham gia giao dịch cho vay giữa các TCTD với khách hàng. 2

2, Hợp đồng tín dụng - hình thức pháp lý của hoạt động cho vay. 3

2.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức của hợp đồng tín dụng. 3

II Thực tiễn hoạt động cho vay và một số hạn chế pháp luật phát sinh trong

quá trình cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng: 9

III Những giải pháp để giải quyết hạn chế pháp luật phát sinh trong quá

Trang 2

Đề bài: Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tíndụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý, đề xuất hướng giải quyết để giải quyếthạn chế pháp luật phát sinh trong quá trình cho vay.

Bài làm

A LỜI NÓI ĐẦU.

Hiện nay nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, có tốc

độ phát triển kinh tế cao và khá ổn định, vì thế mà việc đáp ứng nhu cầu về vốnphục vụ cho phát triển đất nước là rất cần thiết Hoạt động cho vay theo hợpđồng tín dụng của các tổ chức tín dụng là hình thức huy động vốn chiếm tỷ trọnglớn đem lại hiệu quả cao đối với các doanh nghiệp lẫn các tổ chức tín dụng Tuynhiên, hoạt động này tiềm ẩn không ít rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay, vìtheo cam kết bên cho vay chỉ đc đòi tiền vay sau một thời hạn nhất định, do đó

có nhiều tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng hơn so với các loại hợp đồngkhác Với vai trò quan trọng của hoạt động cho vay, việc tìm hiểu hoạt động,phát hiện những hạn chế để có biện pháp khắc phục để hoàn thiện khung phápcho hình thức cho vay là vô cùng cần thiết

sự tín nhiệm của mình với người đó

Trang 3

Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng là một trong những hình thức cấptín dụng của tổ chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao cho bênvay (khách hàng) một khoản vốn tiền tệ, bên vay sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đótrong một khoảng thời gian nhất định, sau đó sẽ hoàn trả cho tổ chức tín dụng cảgốc và lãi theo hoả thuận.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động cho vay của các tổ chứctín dụng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Đối với các tổ chức tín dụng, hoạtđộng cho vay đem lại lợi nhuận chủ yếu trong các dịch vụ của ngân hàng, tạođiều kiện duy trì hoạt động và phát triển về quy mô lẫn chất lượng Đối với chủthể đi vay, họ có được nguồn vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của mình.Việc tiếp cận được nguồn vốn kịp thời sẽ giúp họ nắm bắt tốt được các cơ hộikinh doanh Đối với nền kinh tế nói chung, hoạt động này đã tăng khả năng sinhlời của những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội Ngoài ra, hoạt động tín dụng nàycòn là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các chính sách của mình như ưu đãi một

số ngành, vùng kinh tế trọng điểm, thông qua hoạt động cho vay để xây dựngmột số công trình công cộng,…

1, Chủ thể tham gia giao dịch cho vay giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng.

Trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng luôn xuất hiện hai bên

chủ thể là bên cho vay và bên vay Bên cho vay luôn là các tổ chức tín dụng - là

bên có tài sản chưa dùng đến và muốn cho người khác sử dụng để thỏa mãn một

số lợi ích của mình Bên cho vay là các tổ chức tín dụng có đủ những điều kiện

do pháp luật quy định : có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng nhànước cấp; có điều lệ do Ngân hàng nhà nước chuẩn y; có giấy chứng nhận đăng

kí doanh nghiệp hợp pháp; có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giaokết hợp đồng tín dụng với khách hàng

Trang 4

Bên đi vay là các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có đủ điều kiện đi

vay - là những người đang cần sử dụng loại tài sản đó để thỏa mãn nhu cầu vềkinh doanh, tiêu dùng…Về yêu cầu với nhóm chủ thể này là phải có năng lựcpháp luật và năng lực hành vi dân sự, các điều kiện này có thể xem xét qua giấy

tờ, tài liệu khách hàng xuất trình, hoặc chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu,…

Thứ hai là phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, điều kiện này phảiđược ghi trong hợp đồng tín dụng như một điều khoản Ngoài ra, còn một sốđiều kiện bắt buộc khác nếu tổ chức tín dụng yêu cầu như bên vay có khả năngtài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết; có phương án sử dụng vốn khảthi hiệu quả; có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba trên

cơ sở hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh

2, Hợp đồng tín dụng - hình thức pháp lý của hoạt động cho vay.

2.1 Khái niệm, đặc điểm, hình thức của hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng vớikhách hàng là tổ chức, cá nhân, theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trướcmột số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định, với điều kiện

có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm

Đặc điểm của hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng phải được lập dưới hình thức bằng văn bản, trong đó

có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiềnvay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương

thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận (Điều 17 – Quyết

định 1627/2001/QĐ-NHNN về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng).

Tuy nhiên, trên thực tế thì bên vay thường phải chấp nhận những điều khoảnthiên về ràng buộc chặt chẽ đối với bên vay và có lợi hơn cho ngân hàng

Trang 5

Về chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiệnluật định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện vay vốn do phápluật quy định Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền, bao gồmtiền mặt và bút tệ.

Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên chovay Do bên cho vay chỉ có thể đồi tiền của bên vay sau thời hạn nhất định nênnếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn

Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay củabên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề choviệc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay

Về hình thức, theo quy định tại Điều 17 – Quyết định NHNN, mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá

1627/2001/QĐ-trị pháp lý Văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu bao gồm văn bản viết và vănbản điện tử

Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụthể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợpđồng tín dụng Nó còn là một sự công bố công khai, chính thức về mối quan hệpháp lý giữa những người lập ước để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó

mà có những phương cách xử sự hợp lý, an toàn trong trường hợp cần thiết Mặtkhác, hợp đồng tín dụng bằng văn bản khiến cho các cơ quan Nhà nước thi hànhcông vụ được tốt hơn

2.2 Nội dung của hợp đồng tín dụng:

Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có

đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp

với pháp luật Theo Điều 17 – Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, nội dung của

hợp đồng tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:

Trang 6

- Điều khoản về điều kiện vay vốn: Trong hợp đồng tín dụng cần ghi rõnhững tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thì hợp đồng tín dụng mới cóhiệu lực.

- Điều khoản về đối tượng hợp đồng Trong điều khoản này, các bên phảithỏa thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tíndụng đáo hạn

- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay: Các bên phải ghi rõ trong hợpđồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từngày ký hợp đồng Ngoài ra, các bên có thể dự liệu trước về khả năng gia hạnhợp đồng

- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: Các bên phải thỏa thuận

rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay là trả toàn bộmột lần khi hợp đồng vay đáo hạn Nếu thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bêncũng có thể dự liệu trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp vớikhả năng tài chính của bên vay khi trả nợ

- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: Về nguyên tắc, bên vay vốnđược sử dụng vốn vay vào bất kỳ mục đích nào nếu không bị pháp luật cấmnhưng để hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bênvay sử dụng vốn một cách tùy tiện vào mục đích mạo hiểm Ngoải ra, các bên cóquyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ vàđiều kiện sử dụng vốn đã thay đổi

- Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Các bên cóquyền thỏa thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường thươnglượng, hòa giải hoặc lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp chomình Nếu không ghi điều khoản này, việc giải quyết tranh chấp phát sinh sẽđược thực hiện theo quy định của pháp luật

Trang 7

2.3 Giao kết hợp đồng tín dụng.

Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuậtnghiệp vụ – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định Việc giaokết hợp đồng tín dụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:

- Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực hiện

dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chímong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng Thông thường, bên đề nghị giaokết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đềnghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu chứng minh tưcách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn vay

- Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng:

Việc thẩm định hồ sơ tín dụng sẽ do nhân viên chuyên trách của ngân hàng thựchiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó màquyết định cho vay hay không Trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụngphải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và nêu rõ căn cứ xác đáng Quyếtđịnh cho vay của tổ chức tín dụng chưa được coi là hợp đồng đã kí kết mà chỉhoàn thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trựctiếp các điều khoản của hợp đồng và người đại diện có thẩm quyền của các bên

đã trực tiếp ký tên vào bản hợp đồng tín dụng

- Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối cùng

của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng Trong giai đoạn này, các bên gặp nhau

để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng Giai đoạn này được coi làkết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức ký tên vào văn bản hợp đồng tíndụng

2.4 Hiệu lực của hợp đồng tín dụng.

Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng

Trang 8

Hợp đồng tín dụng là một loại hình giao dịch dân sự đặc thù chỉ có hiệulực khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự

2005, cụ thể như sau:

Một là chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng có đủ năng lực phápluật và năng lực hành vi dân sự Đối với chủ thể là tổ chức thì người đại diện hợppháp của tổ chức phải thỏa mãn điều kiện có đủ năng lực pháp luật và năng lựchành vi dân sự Ngoài ra còn các điều kiện khác do các bên thỏa thuận như cóphương án sử dụng vốn khả thi, có tài sản bảo đảm,…

Hai là mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật và đạo đức

xã hội Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi chung, giá trị đạo đức đã được Nhànước và xã hội thừa nhận

Ba là có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng và tự do ý chí Một hợp đồng tín dụng được coi là không có

sự đồng thuận khi sự thỏa thuận đó giữa các bên bị các khiếm khuyết như sựnhầm lẫn, lừa dối, lừa gạt hoặc sự ép buộc trong khi giao kết hợp đồng Trênnguyên tắc, các khuyết tật này phải ảnh hưởng mang tính quyết định đến ý chígiao kết của các bên mới được coi là sự kiện pháp lý làm cho hợp đồng tín dụng

vô hiệu

Thứ tư là hình thức của giao dịch, để ngăn ngừa các rủi ro pháp lí phápluật ngân hàng quy định hợp đồng tín dụng phải được xác lập dưới hình thức vănbản hay tài liệu giao dịch hợp thức và có giá trị chứng cứ chứng minh nội dungcam kết của các bên

Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng:

Ở nước ta, do hợp đồng tín dụng thuộc loại hợp đồng ưng thuận nên phápluật quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là thời điểm các bên đãthỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã kí tên, đóngdấu và văn bản hợp đồng tín dụng

Trang 9

2.5 Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu

Tùy vào mức độ vi phạm các điều kiện, sự vô hiệu được xem xét ở haitrường hợp là vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối

Hợp đông tín dụng được coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung vàhình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xãhội hoặc phương hại đến lợi ích chung Do đó nếu bất kì ai quan tâm đến lợi íchchung đều có thể yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu

Hợp đông tín dụng được coi là vô hiệu tương đối vi phạm các quy tắc cómục đích bảo vệ lợi ích tư như không có năng lực hành vi dân sự, không có sự tựnguyện,…Trường hợp này, Nhà nước tôn trọng quyền tự định đoạt của các bênbằng cách tuyên bố vô hiệu khi các bên có yêu cầu hoặc cho các bên tự khắcphục các vi phạm trong hợp đồng

2.6 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.

Vi phạm hợp đồng tín dụng là hành vi của 1 bên hoặc cả 2 bên tham giahợp đồng cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tíndụng và phải thỏa mãn các điều kiện:

- Người thực hiện hành vi phải là các bên tham gia hợp đồng tín dụng

- Trái với các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng

- Bên thực hiện hành vi có 1 lỗi xác định là cố ý hoặc vô ý

- Hành vi đó xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của bên đối ước hoặc quyền

và lợi ích chung của toàn xã hội hoặc của tổ chức, cá nhân khác

Tùy thuộc vào mức độ hậu quả thực tế xảy ra mà có 2 loại trách nhiệm pháp lýphát sinh khi có việc vi phạm hợp đồng tín dụng:

Trang 10

- Trách nhiệm nộp phạt vi phạm: Đây là loại trách nhiệm này do các bênthỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định pháp luật nhằm để nâng cao tính kỷ luậthợp đồng nên không cần phải chứng minh có thiệt hại vật chất xảy ra .

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: được áp dụng khi có thiệt hại vật chấtthực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm Số tiền bồi thườngthiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ quan tài phán

- Giải quyết bằng phương thức thương lượng hoặc hòa giải qua trung gian

Cơ chế này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, tránh những chi phíkhông cần thiết do phải theo kiện trước tòa

- Giải quyết tranh chấp bằng cơ chế tài phán: đây là giải pháp cuối cùng đểphân định quyền lợi giữa các bên Theo điều 22 BLTTDS 2004 tòa án theo thủtục dân sự sẽ có thẩm -quyền giải quyết trừ trường hợp các bên có thỏa thuậnđiều khoản lựa chọn trọng tài thương mại khi có tranh chấp phát sinh,lúc này sẽ

áp dụng theo Pháp lệnh trọng tài thương mại

II Thực tiễn hoạt động cho vay và một số hạn chế pháp luật phát sinh trong quá trình cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng:

Để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng, các cá nhân, tổ chức tham giacác hoạt động tín dụng một cách an toàn, hiệu quả, Nhà nước đã ban hành nhiềuvăn bản pháp luật và đã tạo được một hành lang pháp lý khá vững chắc Tuy

Trang 11

nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định này còn bộc lộ nhiều bất cập khôngphù hợp với thực tiễn nến kinh tế, cụ thể ở những điểm sau:

1, Mức lãi suất cho vay

Quy định về mức trần lãi suất huy động chỉ còn mang tính hình thức, bởihiện tại lãi suất huy động lại vượt trần, chuyện mà bất kỳ khách hàng và ngânhàng nào cũng hiểu với nhau Mức lãi suất tỷ lệ thuận với số tiền gửi của kháchhàng Theo những lời quảng cáo của nhân viên chi nhánh của một ngân hàng tại

Hà Đông, hiện mức lãi suất huy động thấp nhất tại chi nhánh của ngân hàng này

là 16%/năm được áp dụng đối với khoản tiền dưới 100 triệu đồng Khoản tiền từ

100 triệu đến 1 tỷ đồng được áp mức lãi suất từ 16,5 đến 17%/năm, còn trên 1 tỷ

có thể được áp dụng mức lãi suất lên tới 17,5%/năm Các ngân hàng thường

"lách luật" bằng cách như tự nguyện chịu phạt do vi phạm hợp đồng để tăng lãisuất huy động cho khách hàng hoặc trả chi phí môi giới cho người thân củakhách hàng để tăng lãi suất vượt trần…

Kéo theo đó, với mức lãi suất huy động phổ biến đã vượt khá xa so vớimức trần lãi suất quy định của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng bắt buộcphải đẩy lãi suất cho vay lên mức rất cao để đảm bảo kinh doanh có lãi AnhNguyễn Văn Minh, người dân ở Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội vay 300 triệu đồngtại ngân hàng TMCP Quốc Tế (VIB) từ tháng 11 năm 2010 Anh Minh cho biết,cách đây 1 tuần, anh nhận được thông báo của ngân hàng là từ tháng 5 khoảntiền của anh sẽ bị tính mức lãi suất lên tới 23%/năm thay cho mức 20%/năm vàotháng trước Không riêng khách hàng cá nhân bị điều chỉnh mức lãi suất tăngthêm vài %/năm, những khách hàng doanh nghiệp cũng gặp khó khăn với sựđiều chỉnh lãi suất của các ngân hàng Ví dụ như trường hợp của anh Vi KhắcTuyên, Giám đốc một công ty chuyên cung cấp thiết bị chống trộm cho biết,

Ngày đăng: 30/01/2016, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w