1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

hệ quả tất yếu trong việc đa dạng hoá các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

13 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, vẫn cần thiết phải xây dựng một Luật Trọng tài bên cạnh Bộ luật Tố tụng Dân sự với những điểm chung trong thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tài phán kinh

Trang 1

I MỞ ĐẦU

Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất, kinh doanh không những nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng phục vụ, mà còn

mở rộng hợp đồng với rất nhiều đối tác Quá trình liên doanh, liên kết, mở rộng hợp đồng, sự phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ tư tất yếu sẽ nảy sinh những

vấn đề tranh chấp Sự ra đời của trọng tài như là một hệ quả tất yếu trong việc

đa dạng hoá các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Pháp

luật hoàn toàn cho phép các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức có quyền được lựa chọn mô hình mà mình yêu thích để giải quyết những tranh chấp phát sinh Chính điều này đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR), mà phương thức có vị trí quan trọng nhất trong số đó là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Do đó, ở các nước trên thế giới, ngoài toà

án, đều có một cơ quan tài phán khác là trọng tài

Việt Nam là nước theo truyền thống luật dân sự, nhưng pháp luật về Trọng tài cũng có lịch sử phát triển riêng của nó Vì vậy, dù có những tương đồng nhưng vẫn không thể áp dụng tất cả nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng Dân

sự hiện hành đối với hoạt động của Trọng tài Do đó, vẫn cần thiết phải xây dựng một Luật Trọng tài bên cạnh Bộ luật Tố tụng Dân sự với những điểm chung trong thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tài phán kinh tế nhưng cũng phải thể hiện những nét riêng trong hoạt động của Trọng tài với tính chất tài phán phi chính phủ để phân biệt với tài phán nhà nước Chính vì vậy, sau 6 năm chuẩn bị, soạn thảo trên 10 dự thảo khác nhau, tiến hành nhiều hội thảo lấy ý kiến, ngày 25/3/2003 Pháp lệnh Trọng tài thương mại (PLTTTM) đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2003 Sự ra đời của Pháp lệnh là bước hoàn thiện đáng

kể việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động trọng tài ở nước ta Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng vào thực tiễn pháp lệnh này đã bộc lộ những điểm hạn chế, không phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Để khắc phục những hạn chế trên, Luật trọng tài thương mại (TTTM) ra đời Với 13 chương,

Trang 2

82 điều, Luật TTTM đã thể chế hoá một cách đồng bộ cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trong tài ở nước ta trên cơ sở kế thừa các quy định của PLTTTM Bên cạnh đó, so với PLTTTM, Luật TTTM có nhiều quy định mới nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay Bài tập sau đây của nhóm chúng tôi sẽ giúp chúng ta tìm hiểu rõ hơn về những điểm mới của Luật TTTM 2010 so với PLTTTM năm 2003

1 Hiệu quả của PLTTTM 2003 trong 7 năm thực hiện:

Trước khi có sự ra đời của PLTTTM, hoạt động Trọng tài được điều chỉnh tản mạn bằng các văn bản của Chính phủ như Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 về Tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế, Quyết định 114/TTG ngày 16/2/1996 của Thủ tướng về mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam hoặc trong một số các Luật như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam 1987, Bộ luật hàng hải Việt nam 1990, Luật thương mại 1997 chính vì vậy, sự ra đời của PLTTTM đã tạo ra một nền tảng pháp lý thống nhất , có tính ổn định cao điều chỉnh hoạt động Trọng tài Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các Trung tâm Trọng tài, tạo ra tiền đề khách quan cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa chúng

1.1 Những ưu điểm của PLTTTM 2003

Từ khi ra đời cho đến trước khi bị thay thế bởi Luật TTTM 2010, PLTTTM đã thể hiện được những ưu điểm sau:

Thứ nhất, ý nghĩa về mặt điều chỉnh pháp luật Sự ra đời của PLTTTM là

mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật trọng tài của Việt Nam Đó

là nền tảng pháp lý cho Trọng tài hoạt động tiếp cận, hoà nhập với Trọng tài của các nước phát triển, khẳng định bản chất pháp lý và vai trò quan trọng của Trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Thứ hai, về mô hình, cơ cấu, tổ chức của trọng tài Trước ngày

01/07/2003 ở nước ta chỉ thừa nhận một hình thức Trọng tài duy nhất là Trọng

Trang 3

tài thường trực Tuy nhiên PLTTTM Việt Nam thừa nhận hai hình thức trọng tài: Trọng tài vụ việc (adhoc) và Trọng tài thường trực Sự thừa nhận hai hình thức trọng tài là điểm đổi mới đáng kể trong nội dung của pháp luật về Trọng tài Đây là lần đầu tiên hình thức trọng tài vụ việc được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp luật quan trọng áp dụng giải quyết tranh chấp trong quan hệ kinh tế trong nước và quan hệ kinh tế quốc tế Quy định tại Khoản 2 Điều 26 Pháp lệnh trọng tài Thương mại tạo điều kiện cho các bên tranh chấp toàn quyền tự do lựa chọn cho mình những người có hiểu biết, có uy tín tham gia giải quyết tranh chấp

Thứ ba, PLTTTM 2003 của Việt Nam xác định phạm vi thẩm quyền theo

cách liệt kê các loại việc Trọng tài được giải quyết (Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh

Trọng tài Thương mại) So với các quy định trước đây cách liệt kê này cũng đã

mở rộng phạm vi Trọng tài ở rất nhiều lĩnh vực

Thứ tư, PLTTTM đã xác định đầy đủ các nguyên tắc tố tụng trọng tài Thứ năm, PLTTTM 2003 đã quy định chặt chẽ về các giai đoạn của tố

tụng trọng tài

Thứ sáu, PLTTTM đã quy định sự hỗ trợ của nhà nước đối với các bên

tranh chấp tại Trọng tài Thương mại sau một thời gian dài của lịch sử lập pháp chúng ta không hề quy định về sự hỗ trợ của tài phán nhà nước đối với tài phán phi chính phủ trong pháp luật về tài phán kinh tế mà chỉ đơn thuần là sự quản lý hành chính nhà nước đối với hoạt động của Trọng tài Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho hình thức tài phán này ngày càng kém hiệu quả, không thuyết phục được các nhà kinh doanh lựa chọn yêu cầu giải quyết tranh chấp, mặc dù trên thế giới Trọng tài là phương thức rất được các doanh nhân ưa chuộng

1.2 Những hạn chế của Pháp lệnh trọng tài

Tuy nhiên, sau một thời gian khá dài thực hiện, PLTTT 2003 cũng đã bộc

lộ những bất cập và vướng mắc sau:

Thứ nhất, đó là vấn đề liên quan đến các quy định tại Điều 1 và kế đó là

Khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 Các quy định này

Trang 4

của pháp lệnh đã xác định phạm vi thẩm quyền theo cách liệt kê các loại việc mà Trọng tài được giải quyết Tuy nhiên, giữa các văn bản pháp luật như: Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Thương mại 2005, BLTTDS 2004 lại chưa có sự thống nhất về khái niệm tranh chấp thương mại Do đó, quy định thẩm quyền theo cách loại trừ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều trong thực tiễn áp dụng, bảo đảm hiệu lực pháp lý của phán quyết Trọng tài, hạn chế việc vô hiệu các phán quyết

do nhầm lẫn trong xác định phạm vi thẩm quyền

Thứ hai, vấn đề lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài trong giải quyết tranh

chấp có yếu tố nước ngoài Hiện nay, mỗi Trung tâm Trọng tài sau khi thành lập đều có quy tắc hoạt động riêng của mình Về nguyên tắc nếu các bên tranh chấp lựa chọn Trọng tài Ad – hoc thì họ có thể thoả thuận chọn áp dụng các quy tắc tố tụng của bất kỳ Trung tâm Trọng tài nào kể cả trong nước và quốc tế Nhưng điều này đối vớí hình thức trọng tài do các Trung tâm Trong tài Thương mại Việt Nam tổ chức thì không thể áp dụng được trong thực tiễn Quy định này tại khoản 2 Điều 49 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại đã cản trở hoạt động của Trọng tài và quyền khởi kiện của các bên tranh chấp

Thứ ba: Về thời hiệu khởi kiện tại Trọng tài Điều 21 Pháp lệnh Trọng tài

Thương mại quy định: “Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng Trọng tài là

2 năm kể từ ngày xảy ra tranh chấp…” Cách quy định này dẫn đến nhiều khó khăn cho đương sự và cả Trọng tài khi xem xét thụ lý Bởi không biết căn cứ vào cơ sở nào để xác định chính xác ngày xảy ra tranh chấp Thực tiễn kinh doanh cho thấy, ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm với ngày xảy ra tranh chấp không phải lúc nào cũng là một, thông thường người ta chỉ có thể có căn cứ để xác định ngày lợi ích bị xâm phạm chứ khó có thẻ có căn cứ để xác định ngày xảy ra tranh chấp Hiện nay, BLTTDS, Luật Thương mại đều xác định thời hiệu khởi kiện kể từ ngày quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, nên cách quy định này của Pháp lệnh đã thể hiện sự bất cập và gây nhiều khó khăn cho thực tiễn áp dụng

Trang 5

Thứ tư: Vấn đề lựa chọn Trọng tài viên PLTTTM đã là đã tạo nên sự bất

bình đẳng giữa các bên trong vụ tranh chấp của Việt Nam với nhau và các bên tranh chấp trong vụ việc có yếu tố nước ngoài về các thức thực hiện quyền lựa chọn Trọng tài viên Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, khoản 3 Điều 49 quy định: “Trọng tài viên do các bên chọn hoặc do toà án chỉ định có thể là Trọng tài viên có tên trong danh sách hoặc ngoài danh sách Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài của Việt Nam hoặc là Trọng tài viên nước ngoài theo quy định của pháp luật về trọng tài nước đó” Tuy nhiên, nếu cả hai bên tranh chấp đều là các bên Việt Nam thì việc lựa chọn Trọng tài viên nước ngoài không được thừa nhân theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Do vậy, với các bên tranh chấp đều là Việt Nam mà thoả thuận chọn Trọng tài viên nước ngoài thì thoả thuận đó không có giá trị thực hiện

Thứ năm, về Trọng tài viên: PLTTTM 2003 quy định cụ thể về điều kiện,

tiêu chuẩn để trở thành Trọng tài viên Có thể thấy, theo quy định này thì người nước ngoài không được làm Trọng tài viên của các Trung tâm Trọng tài Việt Nam Điều này sẽ hạn chế quyền tự do lựa chọn của các bên tranh chấp, đồng thời hạn chế sự tiếp cận của Trọng tài Việt Nam đối với kinh nghiêm và thực tiễn giải quyết tranh chấp của các trọng tài các nước Việc mời chuyên gia nước ngoài làm Trọng tài viên không chỉ bảo đảm quyền tự do định đoạt của các bên tranh chấp mà còn tăng tính cạnh tranh cho hoạt động Trọng tài, giúp các Trọng tài viên Việt Nam nâng cao trình độ trong qua trình hội nhập và thúc đẩy sự phát triển của Trọng tài Việt Nam

Thứ sáu, về thời hiệu yêu cầu xem xét thoả thuận trọng tài vô hiệu: Tại

Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại có quy định sáu trường hợp thoả thuận trọng tài bị vô hiệu Tại khoản 6 có quy định: “Thời hiệu yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu là 6 tháng kể từ ngày ký kết thoả thuận trọng tài nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp đầu tiên giải quyết vụ tranh chấp” Trong thực tiễn áp dụng quy định này đã vướng mắc ở 2 vấn đề:

- Thời hiệu 6 tháng áp dụng chung cho cả 6 trường hợp tại Điều 10 hay chỉ áp dụng cho trường hợp thứ 6 là do bị lừa dối, đe doạ mà ký kết thoả thuận

Trang 6

trọng tài Nếu áp dụng riêng cho khoản 6 thì các trường hợp còn lại có được hiểu

là vô thời hạn hay không? Nếu áp dụng cho tất cả thì cách thực hiện kỹ thuật lập pháp của Điều 10 không thể hiện điều đó, đương sự khiếu nại sẽ giải quyết như thế nào?

- Thoả thuận trọng tài thường được các bên ghi vào trong hợp đồng khi ký kết Thời hạn của hợp đồng có thể là 6 tháng nhưng cũng có thể còn dài hơn rất nhiều Vậy khi hợp đồng đang còn hiệu lực, các bên chưa tranh chấp về hợp đồng họ có thể gửi đơn đến Trọng tài để yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài

vô hiệu mà không yêu cầu giải quyết tranh chấp hay không? Nếu không được thì chờ đến khi tranh chấp hợp đồng mới yêu cầu thì lại hết thời hạn 6 tháng, lúc này sẽ giải quyết thế nào

Thứ bảy, trong PLTTTM có một số quy định làm hạn chế sự quản lý, can

thiệp mang tính chất hành chính- mệnh lệnh nhằm thực sự thừa nhận tính chất

phi chính phủ của Trọng tài Bản chất của Trọng tài là phi chính phủ, tồn tại và

hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào uy tín và hiệu quả trong thực tế của chính

nó Trong sự phát triển của các quan hệ kinh tế thị trường sự can thiệp của nhà nước là cần thiết tuy nhiên chỉ nên dừng lại ở việc định ra khung pháp luật để Trọng tài hoạt động, không thể áp dụng nguyên tắc quản lý hành chính đối với Trọng tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các điều kiện kinh tế xã hội ngày càng thay đổi, cùng với những hạn chế trên, có thể thấy rằng, sự ra đời của một văn bản pháp luật khác thay thế cho PLTTTM 2003 là thực sự cần thiết Văn bản pháp luật mới này sẽ khắc phục được những thiếu sót, tồn tại của PLTTTM 2003, phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của các nước trên thế giới từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hội nhập

2 Những điểm mới của Luật TTTM 2010 so với PLTTTM 2003

Những điểm mới của luật trọng tài thương mại năm 2010

Ngày 17/6/2010 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII đã chính thức thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 thay thế cho PLTTTM 2003 So với Pháp

Trang 7

lệnh Trọng tài thương mại, Luật Trọng tài thương mại có những điểm mới quan trọng, khắc phục được những tồn tại của Pháp lệnh

+ Điểm mới đầu tiên là Luật TTTM có phạm vi điều chỉnh rộng hơn so

với PLTTTM Nếu phạm vi điều chỉnh của PLTTTM chỉ là “quy định về tổ chức

và tố tụng trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên” (Điều 1 PLTTTM) thì phạm vi điều

chỉnh của Luật TTTM bao gồm: “quy định về thẩm quyền của Trọng tài thương

mại, các hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài; tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, thi hành phán quyết trọng tài”.

+ Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong Luật TTTM cũng được cũng được mở rộng hơn so với trong PLTTTM Nếu tại điều 3 PLTTTM chỉ quy định hai nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

thương mại đó là: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc

sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài” (khoản 1) và “khi giải quyết tranh chấp, Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư, phải căn

cứ vào pháp luật và tôn trọng thỏa thuận của các bên”(khoản 2), thì trong Luật

TTTM quy định tới 5 nguyên tắc, đó là:

“1 Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận

đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội

2 Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật

3 Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

4 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

5 Phán quyết trọng tài là chung thẩm.” (Điều 4 Luật TTTM)

Trang 8

+ Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích

của các bên (Điều 2 Luật TTTM) Theo quy định tại Điều 1 PLTTTM 2003 thì

trọng tài sẽ chỉ giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên Theo quy định tại khoản 3, Điều 2 của Pháp

lệnh thì hoạt động thương mại: “là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương

mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, thẩm quyền giải quyết của Trọng tài theo PLTTTM 2003 sẽ chỉ

là những tranh chấp xảy ra khi thực hiện một hay nhiều hành vi được liệt kê tại khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh Còn trong Luật TTTM 2010, ngoài việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, Trọng tài còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại và tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài (Khoản 2, khoản 3 Điều 2 Luật TTTM) Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM so với PLTTTM và

phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của các nước trên thế giới

+ Về hình thức thỏa thuận trọng tài, ngoài thư, điện báo, telex, fax, thư

điện tử thì khoản 1 Điều 9 PLTTTM quy định “hình thức văn bản khác thể hiện

rõ ý chỉ của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản”

Trong khi đó, Luật TTTM đã liệt kê rõ ràng các hình thức thỏa thuận được coi là được xác lập dưới dạng văn bản gồm:

“a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram,

fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

Trang 9

b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.” (Khoản 2

Điều 16 Luật TTTM)

Như vậy, so với PLTTTM 2003, Luật TTTM đã quy định chi tiết, cụ thể

và mở rộng hơn về các hình thực thỏa thuận trọng tài

+ Luật TTTM mới cũng đã khắc phục được sự không rõ ràng của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 về các trường hợp vô hiệu thoả thuận trọng tài Điều 18 Luật TTTM giới hạn 6 trường hợp theo đó thoả thuận trọng tài vô hiệu với những quy định cụ thể và rõ ràng hơn so với những quy định tại Điều

10 của PLTTTM Luật TTTM còn quy định trường hợp thỏa thuận trọng tài không rõ ràng thì bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn tổ chức trọng tài thích hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quy định này sẽ hạn chế tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc không xác định được cơ quan nào giải quyết tranh chấp

+ Một điểm mới đáng chú ý khác là tại Điều 17 của Luật TTTM đã bổ sung quy định nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong việc lựa chọn phương thức

giải quyết tranh chấp, theo đó “Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng

hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận” Quy định

này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở vị thế có

Trang 10

nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do đó, quy định này thể hiện rõ thái độ bảo vệ người tiêu dùng trong trường hợp người tiêu dùng bị đặt vào thế bị động, đồng thời nó cũng là biện pháp để hạn chế những phương thức giải quyết tranh chấp không có lợi cho khách hàng thường hay bị người cung cấp dịch vụ cài sẵn trong các hợp đồng và ép buộc bên sử dụng dịch vụ phải chấp nhận

+ Về tiêu chuẩn trọng tài viên, Luật TTTM cũng đã kế thừa và quy định

rõ hơn tiêu chuẩn trọng tài viên so với PLTTTM Cũng giống như PLTTTM, những người có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS; có trình

độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên sẽ đủ tiêu chuẩn để làm trọng tài viên Nhưng ngoài ra, Luật dành cho các Trung tâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng tài viên trong danh sách của mình (khoản 3, Điều 20) Trong trường hợp đặc biệt, các bên đương sự có thể lựa chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn, uy tín của cá nhân đó và trong trường hợp đó thì nhà chuyên môn nào cũng có thể được các bên chọn làm Trọng tài cho vụ việc của

họ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 Luật TTTM: “chuyên gia có trình

độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên”

Khắc phục những hạn chế của PLTTTM 2003, Luật TTTM 2010 cũng không quy định trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

+ So với Pháp lệnh 2003, Luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế thay cho khái niệm “Hội đồng trọng tài được thành lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh 2003 quy định Theo đó, Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trung tâm trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài

Ngày đăng: 30/01/2016, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w