1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng dân sự

22 434 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 189,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những hợp đồng bảo đảm đúng các yêu cầu của phápluật, thỏa mãn được ý chí của các chủ thể tham gia thì vẫn đang còn tồn tại không ít những HĐDS vô hiệu làm ảnh hưởng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về hợp đồng dân sự vô hiệu 1

1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu 1

1.2 Các đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu 2

II Các yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng dân sự: 2

2.1 Về chủ thể 2

2.1.1 Người tham gia giao kết hợp đồng là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự 2

2.1.2 Người tham gia giao kết không nhận thức và làm chủ được hành vi 3

2.1.3 Người tham gia giao kết hợp đồng không đúng thẩm quyền 3

2.2 Về ý chí 4

2.2.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131 BLDS) 5

2.2.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa 7

a) Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối 7

b) Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị đe dọa 9

2.3 Về nội dung 12

2 4 Về hình thức 13

III Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu 14

3.1 Đối với các bên tham gia hợp đồng 14

3.2 Đối với người thứ ba ngay tình 15

IV Một số hạn chế và giải pháp khắc phục trong chế định hợp đồng dân sự vô hiệu 17

KẾT LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống hằng ngày của con người, một yếu tố không thể thiếu được

là việc chuyển giao tài sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ giữa ngườinày, tổ chức này với người khác, tổ chức khác như mua bán tài sản hoặc khoán làmmột công việc nào đó Những giao dịch đó gọi là giao dịch dân sự (GDDS) Nhữnggiao dịch ấy được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên tham gia, đượcpháp luật ghi nhận từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ và buộc các bêntham gia phải thực hiện Sự thỏa thuận đó gọi là hợp đồng Như vậy, có thể thấy,hợp đồng là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên đểthỏa mãn nhu cầu trong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng là sự thừanhận, là yêu cầu của Nhà nước đối với các GDDS đó Hợp đồng là một trongnhững chế định quan trọng của pháp luật dân sự và là phương tiện pháp lý quantrọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Do vậy,dưới góc độ pháp lý, HĐDS là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấmdứt quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ dân sự

Tuy nhiên, bên cạnh những hợp đồng bảo đảm đúng các yêu cầu của phápluật, thỏa mãn được ý chí của các chủ thể tham gia thì vẫn đang còn tồn tại không

ít những HĐDS vô hiệu làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của cánhân cũng như của Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự.Những quy đinh về hợp đồng dân sự vô hiệu là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo ổnđịnh giao lưu dân sự, đồng thời là cơ sỏ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủ thể khi tham gia GDDS Đồng thời, thông qua các quy định vềđiều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự và hợp đồng dân sự vô hiệu, Nhà nước

có thể kiểm soát được các hợp đồng dân sự nhất định nếu thấy cần thiết vì lợi íchcủa Nhà nước, lợi ích công cộng

NỘI DUNG

I Khái quát chung về hợp đồng dân sự vô hiệu

1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 388 BLDS năm 2005) Để hợp đồng

dân sự có hiệu lực pháp lý thì hợp đồng phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệulực do pháp luật quy định

Điều 121 BLDS năm 2005 quy định: “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự” Như vậy, hợp đồng dân sự chính là một dạng của GDDS Do đó, điều

Trang 3

kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồngdân sự Điều 122 BLDS 2005 quy định các điều kiện có hiệu lực của GDDS:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trongtrường hợp pháp luật có quy định”

Từ những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, có thể hiểu hợp đồng

sẽ vô hiệu khi vi phạm những điều kiện kể trên Tuy nhiên, cần căn cứ vào từngtrường hợp cụ thể để xem xét và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự

vô hiệu Xuất phát từ lý do này, khoản 1 Điều 410 BLDS năm 2005 quy định: “các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến điều 138 của bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng dân sự vô hiệu”.

1.2 Các đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu

Cũng là một loại giao dịch dân sự vô hiệu, nên hợp đồng dân sự vô hiệucũng có những đặc điểm sau:

-Hợp đồng dân sự vô hiệu không được pháp luật bảo vệ, tức là pháp luật quy địnhkhông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng đó.-Tính vô hiệu được xác định từ thời điểm các bên xác lập (từ khi giao kết hoặctuyên bố ý chí)

-Hậu quả pháp lí có thể bất lợi cho các bên tham gia giao kết hợp đồng

II Các yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng dân sự:

Điều 410 BLDS 2005 có quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện”.

Trang 4

Sở dĩ quy định như trên vì người chưa thành niên, người bị mất năng lựchành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ không thể có đủ điềukiện để tự do ý chí tham gia hợp đồng Do vậy, việc giao kết hợp đồng của họ phảiđược xác lập, thực hiện dưới sự kiểm soát của người đại diện Khi hợp đồng dongười chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế nănglực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hợp đồng

đó được xác lập, theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bốhợp đồng vô hiệu, nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đạidiện của họ xác lập, thực hiện (Điều 136 BLDS 2005)

Người đại diện của họ cũng có quyền yêu cầu bên đã biết người thực hiệngiao dịch dân sự với mình là người chưa thành niên, người bị mất nămg lực hành

vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà vẫn giao dịch phải bồithường thiệt hại cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nếu hành vi đó gây ra thiệt hại

2.1.2 Người tham gia giao kết không nhận thức và làm chủ được hành vi

Trong trường hợp người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giaodịch dân sự vào đúng thời điểm không nhận thức và điều khiển được hành vi củamình, ví dụ như một người đang trong tình trạng say rượu, mộng du … cũng bị coi

là vô hiệu theo điều 133 BLDS Trong thời hạn 2 năm, người có quyền, nghĩa vụliên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu Trong trườnghợp này, người nào biết hoặc phải biết mình xác lập giao dịch với người khôngnhận thức và điều khiển được hành vi của mình mà vẫn cố tình xác lập giao dịch,thì phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra đối với người không nhận thức và điềukhiển được hành vi của mình

2.1.3 Người tham gia giao kết hợp đồng không đúng thẩm quyền

Đối với người chưa thành niên,người không có năng lực hành vi dân sự,người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, theoquy định của pháp luật khi giao kết hợp đồng phải thông qua hành vi của người đạidiện hợp pháp.Năng lực hành vi của chủ thể được coi là cơ sở pháp lí quan trọng

để xác nhận tư cách của chủ thể.Ví dụ, khi định đoạt tài sản chung thuộc sở hữucủa nhiều người nhưng chỉ có một chủ thể tự ý định đoạt khi chưa có sự thống nhất

ý chí của các chủ thể khác thì không thể chỉ căn cứ vào năng lực chủ thể đã giaokết hợp đồng để đánh giá xem hợp đồng có họp pháp hay không

- Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

Các chủ thể này tham gia vào HĐDS thông qua người đai diện của họ (đạidiện theo pháp luật,theo ủy quyền) Người đại diện xác lập, thực hiện HĐDS nhândanh người được đại điện Các quyền, nghĩa vụ do người đại diện xác lập làm phátsinh quyền và nghĩa vụ của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Đại diện của phápnhân phải hội đủ thẩm quyền kí kết hợp đồng Thông thường chỉ có người đứngđầu pháp nhân mới có quyền kí kết hợp đồng

Trang 5

Tuy nhiên pháp nhân chỉ tham gia các HĐDS phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ của pháp nhân Hộ gia đình chỉ được tham gia các hợp đồng liên quan đếnquyền sử dụng đất, đến hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một sốlĩnh vục kinh doanh khác theo quy đinh của pháp luật (Điều 106 BLDS 2005) Tổhợp tác chỉ được tham gia các hợp đồng liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của tổ chức được xác định trong hợp đồng hợp tác (Điều 111 BLDS 2005)

Người đại diện xác lập hợp đồng dân sự làm phát sinh quyền, nghĩa vụ củapháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi nhiệm vụ của chủ thể đó đượcđiều lệ hoặc pháp luật quy định Khi họ tham gia giao dịch thì họ chỉ được thựchiện những quyền trong phạm vi pháp luật cho phép và trong vi giới hạn mà người

ủy quyền đặt ra Khi người ủy quyền vượt quá thì giao dịch do họ xác lập do vượtquá bị tuyên bố là vô hiệu, nếu các bên không thỏa thuận được với nhau và giảiquyết hậu quả của giao dịch vô hiệu theo quy định của pháp luật.Người được ủyquyền thực hiện vượt quá phạm vi ủy quyền phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn

bộ thiệt hại do hành vi vượt quá của họ gây ra Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tạiTòa án cần xem xét trong giao dịch mà người được ủy quyền vượt quá phạm vi ủyquyền không hay họ thực hiện dúng phạm vi ủy quyền

Trang 6

2.2.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131 BLDS)

Điều 131 BLDS năm 2005 quy định :

“Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.

Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai nội dung của giao dịch mà tham giavào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Sự nhầm lẫn xuất phát từnhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫnphải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác địnhđược Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch

có thể được tuyên bố vô hiệu

Khi một bên nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng mà xác lập hợpđồng, thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó; nếu bên kiakhông chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn, thì bên bị nhầm lẫn cóquyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, lỗi ở đây chỉ có thể

là lỗi vô ý Nếu sự nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên đối tác thì khi đó sẽ thuộc trườnghợp hợp đồng vô hiệu do lừa dối

Khi hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, thì bên có lỗi trong việc xảy ranhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại

Để đánh giá về lỗi khiến cho hợp đồng vô hiệu thì theo điều 141 BLDS 1995hợp đồng dân sự có thể bị tuyên vô hiệu do nhầm lẫn bất kể do lỗi của bên nào gâyra.Nếu bên nào có lỗi sẽ phải bồi thường cho bên kia.Còn tại điều 131 BLDS 2005hợp đồng chỉ bị tuyên bố vô hiệu nếu như sự nhầm lẫn xảy ra do lỗi vô ý của bênđối tác.Nếu như chính bên bị nhầm lẫn có lỗi thì hợp đồng không bị vô hiệu,bênnhầm lẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng

Ở đây có ý kiến cho rằng cách giải quyết thứ nhất là hợp lí hơn, bởi lẽ chỉcần có sự nhầm lẫn xảy ra là đã không đáp ứng được yêu cầu về sự thống nhất nhấtgiữa ý chí và bày tỏ ý chí, do vậy, hợp đồng đã có thể bị tuyên bố vô hiệu Cònviệc xác định lỗi thuộc về ai là chỉ nhằm giải quyết vấn đề hậu quả phát sinh khiGDDS vô hiệu (bồi thường thiệt hại mà thôi)

Tình huốmg cụ thể: vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm bảo hiểm giữanguyên đơn là bà Trần Thị Ngạnh và bị đơn là công ty bảo hiểm thành phố Hồ ChíMinh có ông Lê Sơn Phong là đại diện ủy quyền

Trang 7

Nội dung vụ việc diễn biến như sau: Tháng 9/1999 bà Ngạnh mua một chiếc

xe Dream II trị giá 28.000.000 đồng của công ty Đô Thành Khi đến ci cục thuếTân Bình thành phố Hồ Chí Minh đóng thuế trước bạ, bà Ngạnh được báo số tiềnphải đóng là 1.424.000 đồng bao gồm 1.360.000 đồng tiền thuế trước bạ và 64.000đồng phí bảo hiểm Theo bà Ngạnh thì nhân viên chi cục Thuế giải thích rằng nếumất xe thì bà sẽ được bồi thường Ngày 31/3/2000 nhà bà bị kẻ gian cạy cửa và lấymất chiếc xe này Bà có trình báo công an phường 9 quận Tân Bình đến lập biênbản hiện trường Sau đó bà đến công ty bảo hiểm TP HCM làm thủ tục nhận tiềnbồi thường nhưng Công ty từ chối bồi thường nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết

Còn Công ty bảo hiểm TP HCM không đồng ý bồi thường vì cho rằng số phí64.000 đồng Công ty chỉ bảo hiểm trách nhiệm dân sự với người thứ ba và bảohiểm cho người ngồi trên xe chứ không bảo hiểm vật chất xe

Tại bản án sơ thẩm số 22/DSST ngày 25/4/2001 của TAND quận 1, TPHCM quyết định:

Buộc Công ty bảo hiểm TP HCM bồi thường thiệt hại vật chất xe HondaDream II và tiền lãi chậm trả cho bà Trần Thị Ngạnh là 25.652.000 đồng ngay saukhi án có hiệu lực

Bà Trần Thị Ngạnh phải nộp phí bảo hiểm vật chất xe cho Công ty bảo hiểm

TP HCM là 585.640 đồng ngay sau khi án có hiệu lực

Ngày 8/4/2001 Công ty bảo hiểm TP HCM có đơn kháng cáo

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 1772/DSPT ngày 12/9/2001 TAND TPHCM quyết định:

Buộc Công ty bảo hiểm TP HCM bồi thường thiệt hại vật chất xe HondaDream II cho bà Ngạnh là 24.200.000 đồng

Bác đơn yêu cầu đòi tiền lãi của bà Ngạnh

Bà Trần Thị Ngạnh có trách nhiệm nộp bổ sung phí bảo hiểm cho Công tybảo hiểm TP HCM là 585.640 đồng

TAND thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định:

Tại giấy chứng nhận bảo hiểm nêu trên, phần phí bảo hiểm có ghi con số64.000 đồng và phần các loại hình bảo hiểm có ghi 3 loại hình bảo hiểm gồm: bảohiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3, bảo hiểm người ngồi trên xe máy vàbảo hiểm vật chất xe

Phía Công ty bảo hiểm TP HCM cho rằng, với số phí 64.000 đồng bà Ngạnhchỉ mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba và bảo hiểm đối vớingười ngồi trên xe, chứ không mua bảo hiểm vật chất xe Tuy nhiên, hội đồng xét

xử nhận thấy nếu căn cứ vào giấy chứng nhận pbảo hiểm xe nêu trên thì không có

Trang 8

dấu hiệu nào để phân biệt sự việc như lời trình bày của phía Công ty bảo hiểm TPHCM, mà chỉ có thể xác định rằng với số phí 64.000 đồng, Công ty bảo hiểm TPHCM và bà Ngạnh đã đồng ý mua bán cả loại hình bảo hiểm nêu trên.

Rất có thể là nhân viên bảo hiểm đã sơ ý không gạch bỏ phần ghi loại hìnhbảo hiểm vật chất xe như lời giải thích của phía Công ty bảo hiểm TP HCM.Nhưng nếu đưa ra lý do này để từ chối bồi thường là không phù hợp Bởi lẽ việc sơ

ý của Công ty bảo hiểm TP HCM không làm cho hợp đồng ở vào tình trạng vôhiệu theo quy định tạo các điều 130 đến 131 của BLDS mà chỉ làm cho Công tybảo hiểm TP HCM phải chịu một mức thiệt hại nhất định

Ở đây, phiếu bán bảo hiểm đã được Công ty in sẵn, đã có chữ kí đại diện củabên bán bảo hiểm, nhân viên bán bảo hiểm cần căn cứ vào vào bên tham gia đóngphí đối với loại bảo hiểm nào thì sẽ được bảo hiểm loại hình bảo hiểm đó Quyđịnh này đã trở nên phổ biến một cách thông dụng, bên bán công bố giá cả còn bênmua đồng ý thì mua; không có việc thỏa thuận giá cả (mặc cả) như các GDDSkhác Như vậy, chứng tỏ rằng khi bán bảo hiểm, nhân viên bảo hiểm đã sơ xuấtkhông gạch bỏ loại hình bảo hiểm vật chất xe, nên làm cho bên mua bảo hiểmnhầm lẫn về đối tượng mua bán Trong trường hợp này, lẽ ra Tòa án các cấp phảituyên bố giao dịch trên là vô hiệu do nhầm lẫn và phải giải quyết hậu quả theo quyđịnh của điều 131 BLDS mới đúng

2.2.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

a) Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối

Theo ngôn ngữ pháp luật, lừa dối là một xảo thuật dùng để lừa gạt người

khác Theo pháp luật dân sự của nước ta thì Điều 132 BLDS quy định: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” Như vậy, lừa dối có tính chất quyết định

đến sự xác lập một hợp đồng là yếu tố có thể đưa đến vô hiệu của hợp đồng dân sự.Tính chất quyết định làm cho hợp đồng dân sự vô hiệu thể hiện ở chỗ nếu khôngdùng các mánh khóe làm cho đối phương hiểu sai về sự việc thì sẽ không xác lậpđược hợp đồng lừa dối này, phải do cố ý của một bên nhằm đạt mục đích cho đốiphương tham gia giao kết hợp đồng để đạt một lợi ích nào đó Tuy nhiên, trongthực tế, không phải trường hợp nào diễn ra sai về sự việc nhằm cho đối phươnggiao kết hợp đồng cũng đều được coi là lừa dối Ví dụ việc một người bán hàngkhoe không đúng sự thật về hàng hóa của mình hoặc người bán hàng nói giá quácao (nói thách) thì không bị xem là lừa dối, bởi lẽ trong các trường hợp này ngườitiếp nhận thông tin không buộc phải kí kết hợp đồng

Trang 9

Về mặt khách quan, lừa dối thường biểu hiện bằng hành vi, lời nói, tuynhiên, pháp luật của một số nước, trong một số trường hợp coi sự kiện không nói

ra điều mà người kí có trách nhiệm phải nói khi kí hợp đồng cũng được coi là hành

vi gian trá và trong một số trường hợp pháp luật cũng thừa nhận việc khai gian hay

im lặng trong trường hợp xét một cách hợp lý phải thông tin cho người cùng giaokết biết là lừa dối Khi đưa ra bộ nguyên tắc Unidroit2004 - hợp đồng thương mại

quốc tế, đã ghi nhận nguyên tắc: “Một bên có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối khi cam kết củah họ được thiết lậptừ những thủ đoạn gian lận (đặc biệt từ lời nói hay hành vi) của bên kia,hoặc khi người này, trái ngược với những yêu cầu

về thiện chí và trung thực trong lĩnh vực thương mại và một cách gian lận, đã không cho bên kia biết về những tình huống đặc biệt mà người này đáng lẽ phải phát hiện ra” Như vậy, pháp luật nhiều nước cũng như nguyên tắc thương mại

quốc tế không chỉ giới hạn sự biểu hiện của lừa dối ở hành vi, lời nói mà thừa nhận

cả trường hợp một bên không cung cấp thông tin hoặc im lặng khi xét một cáchhợp lí là họ phải có nghĩa vụ thông báo Pháp luật Việt Nam coi việc chủ thể biết

và có nghĩa vụ phải thông báo các thông tin cần thiết cho bên kia về đối tuợng, chủthể, tính chất, nội dung hợp đồng, nhưng họ im lặng không nói dẫn tới bên kia hiểusai lệnh mà giao dịch, thì giao dịch bị xác định vô hiệu do lừa dối Lưu ý, đối vớinhững thông tin rõ rệt (khuyết tật rõ rệt…) thì im lặng không bị coi là lừa dối

Lừa dối và nhầm lẫn đều có chung dấu hiệu là một hoặc các bên tham giagiao kết hợp đồng nhận thức không đúng bản chất nội dung của hợp đồng Song,

sự phân biệt giữa lừa dối và nhầm lẫn được xác định bởi tính chất và mục đích củaviệc trình bày gian lận của một bên, sự lừa dối khác với nhầm lẫm ở chỗ, sự nhầmlẫn vốn do người xác lập hợp đồng tự mình không tìm hiểu hoặc hiểu sai sự thật,còn sự lừa dối lại là sự hiểu sai do đối phương gây ra Do vậy, nhầm lẫn có thể xảy

ra đối với cả hai bên tham gia giao kết hợp đồng còn lừa dối chỉ xảy ra đối với mộtbên Việc một bên tạo lập cho bên kia một sự nhầm lẫn hoặc lạm dụng sự nhầm lẫn

đã tồn tại của bên kia để đưa đến việc giao kết hợp đồng sẽ bị coi là lừa dối Nhầmlẫn hay lừa dối đều đưa đến hậu quả là hợp đồng có thể bị vô hiệu do thỏa thuậnkhông thể hiện đúng ý chí đích thực của các bên

Ví dụ: Hợp đồng mua bán nhà giữa anh Đặng Hữu Mậu và chị Từ NgọcNhàn Ngày 27/9/2006 anh Mậu đã bán căn nhà KP4/97a thị trấn Gò Dầu, TâyNinh với diện tích 6m x 18m cho chị Từ Ngọc Nhàn với giá 20 lượng vàng ChịNhàn đã trả cho anh Mậu 18 lượng vàng, còn lại hai lượng thì thỏa thuận khi nàonhận nhà sẽ giao nốt Giấy tờ mua bán đã được UBND thị trấn chứng nhận, nhưngchưa làm thủ tục trước bạ sang tên Ngày 27/10/2006 anh Mậu bán 1/2 căn nhà trên

Trang 10

cho anh Nguyễn Văn Đức, diện tích 3m x 15m giá 15 lượng vàng Việc mua bánnày đã được sang tên, anh Đức dọn đến ở, khi anh Đức đến ở thì xảy ra tranh chấp.

Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã hủy hợp đồng mua bán nhà giữa anh Mậu

và anh Đức và công nhậ hợp đồng mua bán nhà giữa chị Nhàn và anh Mậu Trong

vụ kiện trên cho thấy, việc mua bán nhà giữa anh Mậu và chị Nhàn là hoàn toàn tựnguyện và chị Nhàn đã thực hiện nghĩa vụ gần như đã hoàn thành trên thực tế mặc

dù chưa làm thủ tục sang tên trước bạ Việc anh Mậu thực hiện mua bán với anhĐức vi phạm nguyên tắc tự nguyện, trong quan hệ này, anh Mậu có ý thức lừa dốivới mục đích tư lợi Về thực chất, quyền định đoạt của anh Mậu đối với ngôi nhàgần như không còn, nó bị hạn chế bởi quyền sở hữu nhà của chị Nhàn, khi đã hợpthức về thủ tục Quan hệ mua bán đã hoàn thành trên thực tế, chỉ còn chờ sự ghinhận của pháp luật mà thôi Bản án quyết định hủy hợp đồng mua bán giữa anhMậu và anh Đức của tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh là phù hợp với pháp luật

b) Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị đe dọa

“Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình” (Điều 132 BLDS 2005).

Nếu một người do bị đe doạ mà phải xác lập, giao kết một hợp đồng dân sự,thì tất nhiên ý chí của người này không phải là ý chí tự do,tự nguyện và vì thế giaodịch dân sự mà họ xác lập sẽ không có hiệu lực pháp luật

Để có thể xác định là hợp đồng dân sự được xác lập bởi sự đe dọa, sự đe dọaphải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Bên đe dọa thực hiện hành vi đe dọa với lỗi cố ý, mục đích là buộc chủ thểphía bên kia phải xác lập giao dịch dân sự với mình hoặc muốn xác lập giao dịchdân sự với mình hoặc xác lập giao dịch dân sự với chủ thể mà bản thân bên đe dọamong muốn;

- Hành vi đe dọa nhằm làm cho bên kia “sợ hãi”, tức là bản thân bên bị đedọa hoàn toàn tê liệt ý chí mà không thể có một sự lựa chọn nào khác;

- Chủ thể bị đe dọa có thể là một bên trong giao dịch nhưng cũng có thể làngười khác Trước đây BLDS năm 1995 xác định những người khác này là “ngườithân thích”, còn theo quy định của BLDS 2005 thì những người này là cha, mẹ, vợ,chồng, con của người bị đe dọa

- Hành vi đe dọa chưa gây thiệt hại về đối tượng đe dọa mà hành vi đóhướng tới, tức bên bị đe dọa mới chỉ sợ hãi về hậu quả của sự đe dọa có thể xảy ra

Trang 11

Khoa học pháp lí nước ta cũng như các nước khác đều chỉ rõ sự đe doạnhằm buộc một người phải tham gia xác lập,thực hiện giao dịch hợp đồng dưới haihình thức là :đe doạ về thể chất và đe doạ về tinh thần

Đe doạ về thể chất là sự đe doạ làm cho người bị đe doạ mất hoàn toàn ý chí

tự do Ví dụ: ông A cầm dao doạ ông B buộc phải kí kết hợp đồng bán nhà cho A

Đe doạ về tinh thần không làm cho người bị đe doạ bị mất ý chí tự chủ vàkhông xảy ra ngay lập tức A doạ B nếu không mua của A chiếc xe máy sẽ báo chogia đình B biết B có con riêng

Tuy nhiên, không phải mọi hành vi đe dọa đều bị coi là trái pháp luật và làcăn cứ để xác định hợp đồng dân sự vô hiệu Tuy nhiên không phải mọi hành vi đedoạ đều bị coi là hành vi trái pháp luật và là căn cứ để xác định là hợp đồng vôhiệu: sự đe doạ phải có thực và phải mang tính chất nghiêm trọng và sự đe doạ làyếu tố quyết định việc người đe doạ tham gia xác lập,thực hiện hợp đồng dân sự.Nếu sự đe dọa mà không nhằm mục đích xâm phạm đến lợi ích của người bị đedọa hoặc người thân của họ thì không thể coi là căn cứ để tuyên bố hợp đồng dân

sự vô hiệu do bị đe dọa được

Ví dụ: vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa nguyên đơn bà PhạmThị Loan với bị đơn là bà Nguyễn Thị Lịch

Nội dung vụ việc như sau: theo bà Loan trình bày,ngày 10/3/1999 bà Lịchviêt giấy bán cho bà Loan căn nhà cấp 4,tại xã Hợp Minh,với giá 30.000.000 đồng,

bà Lịch đã nhận đủ tiền và làm thủ tục theo quy định, bà Loan được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 nhưng bà Lịch không chịu giao nhà nên

bà Loan yêu cầu bà Lịch trả nhà theo họp đồng mua bán Còn phía bà Lịch chorằng, bà có vay của bà Loan 10 triệu đồng, lãi 10%/tháng,từ tháng 6/1997, tính đếntháng 3/1999 thì bà nợ bà Loan 30.000.000 đồng,nhưng vì không có tiền trả nên bàLoan đã bắt nhốt bà vào tầng 2 của nhà bà Loan, ép bà phải viết giấy bán nhà cho

bà Loan, vì sợ bà Loan đánh nên bà phải kí Sau đó bà có báo chính quyền địaphương.Tại UBND xã, chính con rể bà Loan thừa nhận có ép bà kí vào giấy muabán nhà Do vậy, bà yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán nhà với bà Loan

Tại bản án sơ thẩm số 03/DSST ngày 31/3/2004, TAND huyện Trấn Yên,tỉnh Yên Bái công nhận hợp đồng mua bán nhà giữa bà Loan với bà Lịch.Vì chorằng việc mua bán này là hoàn toàn tự nguyện,không có sự ép buộc Sau khi có bản

án sơ thẩm, bà Lịch kháng cáo Tại bản án phúc thẩm số 12/DSPT ngày 21/6/2004TAND tỉnh Yên Bái tuyên bố hợp đồng mua bán giữa bà Loan với bà Lịch vô hiệu,

do bị ép buộc

Ngày đăng: 30/01/2016, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w