1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số vấn đề chung về yếu tố lỗi trong TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng

18 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đồng, việc xác định mức độ lỗi không có ý nghĩa nhiều bởi dù có gây thiệt hại ở mức độ lỗi nào đi chăng nữa thì người gây thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm bồi thường do hành vi có lỗ

Trang 1

Bài làm.

Yếu tố lỗi là vấn đề nghiên cứu và liên quan đến nhiều nhành luật khoa học khác nhau Tuy nhiên ở đây, ta không bàn luận yếu tố lỗi trong tất cả các quan hệ pháp luật, mà chỉ bàn về yếu tố lỗi trong một số loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng với mục đích đáp ứng phần nào cách nhìn nhận về yếu tố lỗi trong việc xác định trách nhiệm dân sự Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh TNBT (Trạch nhiệm bồi thường) thiệt hại ngoài hợp đồng, là cơ sở để xác định TNBT, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường

I Một số vấn đề chung về yếu tố lỗi trong TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng.

1 Khái niệm và hình thức của lỗi.

Từ trước đến nay trong các sách báo pháp lí thường định nghĩa : ”Lỗi là thái

độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức lỗi vô ý hoặc cố ý”.

Định nghĩa trên cho thấy lỗi là thuộc mặt chủ quan của con người bao gồm hai yếu

tố là lí trí và ý chí Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người Như trên, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý Khoản 2 Điều 308 BLDS quy định:

“Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình

sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

Trang 2

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.’’

Tuy nhiên, lỗi chỉ được biểu hiện ra bên ngoài khi có hành vi có lỗi Hành vi có lỗi,

theo quy định tại Điều 308 BLDS thì "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô

ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Khoản 1

Điều 308 nói trên quy định lỗi do hành vi không thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người có hành vi đó bị coi là có lỗi

Trong lỗi cố ý gây thiệt hại, trường hợp người gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình là gây thiệt hại cho người khác, thấy rõ được hậu quả sẽ xảy ra, mong muốn hậu quả ấy xảy ra nhưng vẫn thực hiện hành vi, theo luật hình sự thì đây được coi là lỗi cố ý trực tiếp Cũng là lỗi cố ý nhưng ở mức độ thấp hơn là lỗi cố ý gián tiếp, người gây thiệt hại dù biết hậu quả xảy ra, không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra

Trong lỗi vô ý gây thiệt hại, trường hợp người gây thiệt hại không thấy trước hành

vi của mình có khả năng gây thiệt hại thì được gọi là vô ý do cẩu thả, còn trong trường hợp người gây thiệt hại đã thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được thì được gọi

là vô ý vì quá tự tin

Tuy nhiên việc xác định mức độ lỗi trong TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng không giống như trong vấn đề xác định mức độ lỗi của tội phạm của hình sự Trong lĩnh vực hình sự, việc xác định lỗi của tội phạm là vô cùng quan trọng, quyết định đến việc định tội và hình phạt Nhưng trong TNBT thiệt hại ngoài hợp

Trang 3

đồng, việc xác định mức độ lỗi không có ý nghĩa nhiều bởi dù có gây thiệt hại ở mức độ lỗi nào đi chăng nữa thì người gây thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm ( bồi thường) do hành vi có lỗi của mình gây ra

Ngoài ra, lỗi trong TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng có những trường hợp là lỗi suy đoán bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có lỗi Vấn đề này được thể hiện ở khoản 3 Điều 606

BLDS: “Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám

hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường” Vấn đề này sẽ được tìm

hiểu rõ ở phần sau – người chịu trách nhiệm bồi thường

2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến yếu tố lỗi.

Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi Điều 604

BLDS quy định: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Như vậy, không phân biệt hình thức lỗi, mức độ lỗi đến đâu, chỉ cần hành vi xâm

phạm đến sức khỏe, danh dự, nhâm phẩm, tài sản…mà “gây thiệt hại” thì người gây thiệt hại “phải bồi thường” Tuy nhiên, không phải lúc nào người trực tiếp gây

thiệt hại cũng phải bồi thường

a, TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng do người không có năng lực hành vi,

bị mất năng lực hành vi, người không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình gây ra.

Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi,có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức và

Trang 4

làm chủ được hành vi được coi là không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó Những người như vậy vì thế sẽ không phải chịu trách nhiệm Trong trường hợp này cha, mẹ, người giám hộ, bệnh viện, trường học là những người theo quy định của pháp luật phải quản lí, chăm sóc, giáo dục… được suy đoán là có lỗi khi không thực hiện các nghĩa vụ nêu trên và phải chịu trách nhiệm do lỗi của họ Điều này được thể hiện rất rõ tại Điều 606 và Điều 621 BLDS

Điều 606 BLDS quy định:

“2 Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó

để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Ðiều 621 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại

mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”

Điều 621 BLDS quy định:

“1 Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

Trang 5

2 Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lí thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

3 Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Ðiều này, nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.”

Như vậy quy cho cùng, khi thiệt hại do những người không có năng lực hành vi, bị mật năng lực hành vi, không thể nhận thức, làm chủ được hạnh vi của họ gây ra thì những người giám hộ, cha, mẹ, bệnh viện, trường học, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên Điều luật cũng quy định nếu người giám hộ, bệnh viện trường học, tổ chức khác chứng minh được là mình không có lỗi trong giám hộ, trong quản lí thì họ cũng không phải chịu TNBT Khi gặp phải những trường hợp này, người gây thiệt hại không phải bồi thường và theo ngành luật dân sự thì đó là những trường hợp rủi ro, người bị thiệt hại không có được một khoản bồi thường nào

Giữa Điều 606 với Điều 621 có mối liên hệ chặt chẽ Có những trường hợp

ta cần phải áp dụng kết hợp cả hai điều luật này mới giải quyết được vấn đề Theo khoản 3 Điều 621 thì khi bệnh viện, trường học…chứng minh được là mình không

có lỗi thì lúc này trách nhiệm sẽ được chuyển sang cha, mẹ, người giám hộ, đến lúc này ta sẽ áp dụng Điều 606 Cần chú ý là khi áp dụng khoản 3 Điều 606, người giám hộ mà cũng chứng minh được là mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không chủ thể nào phải chịu TNBT, và khi đó được coi là trường hợp rủi ro

b, TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng do lỗi của pháp nhân, của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng…

Trang 6

Trong TNBT ngoài hợp đồng, lỗi của pháp nhân, của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng… chính là lỗi của nhân viên các cơ quan này trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao Vì vậy, các cơ quan này phải bồi thường thiệt hại do thành viên của họ khi thực hiện nhiệm vụ được giao Điều này được thể hiện rõ tại các Điều 618, 619 và 620

Điều 618 BLDS quy định:

“Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.

Điều 619 BLDS quy định:

“Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ.

Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ.”

Điều 620 BLDS quy định:

“Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng.

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người

có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ.”

Trang 7

Không phải cứ nhân viên của pháp nhân, của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng… gây ra thiệt hại thì những cơ quan, tổ chức này phải chịu TNBT Chỉ khi nhân viên đang làm nhiệm vụ mà những cơ quan này giao cho mà gây thiệt hại thì những cơ quan tổ chức này mới phải chịu tránh nhiệm Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên: “con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi”, vì vậy những tổ

chức này có quyền yêu cầu nhần viên gây ra thiệt hại có lỗi “phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật” Khi xác định trách nhiệm hoàn trả của

thành viên pháp nhân cần chú ý: Điều luật chỉ quy định thành viên pháp nhân hoàn

trả ho pháp nhân “ một khoản tiền theo quy định của pháp luật”, chứ không quy

định hoàn trả toàn bộ số tiền mà pháp nhân đã bồi thường Do đó, cần căn cứ vào mức độ lỗi của thành viên pháp nhân khi gây thiệt hại để xác định số tiền hoàn trả cho hợp lí Trong trường hợp này, việc xác định mức độ lỗi cố ý hay không cố ý, mức độ nặng, nhẹ của lỗi lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì nó liên quan trực

tiếp đến việc xem xét “số tiền hoàn trả hợp lí” đó là bao nhiêu, nhiều hay ít …

Ngoài ra, ta cũng cần chú ý đến TNBT do người làm công Người học nghề gây ra

Điều 622BLDS quy định:

“Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và

có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”

Việc xem xét số tiền hoàn trả sẽ căn cứ vào mức đọ lỗi của người làm công, người học nghề cũng như căn cứ vào hợp đồng được kí kết giữa người làm công, người học nghề với cá nhân, tổ chức hoặc chủ thể khác đã thuê người làm công, đào tạo nghề đó Nếu trong hợp đồng làm công không thỏa thuận về số tiền hoàn

Trang 8

trả thì lúc này ta mới xem xét mức hoàn trả được giải quyết theo quy định của pháp luật

c, TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng do nhiều người cùng gây ra.

Trước hết, ta chỉ đi vào phân tích yếu tố lỗi có liên quan đến vấn đề này chứ không phải đi sâu vào phân tích trường hợp cụ thể trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Điều 616 BLDS quy định:

“Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”

Nguyên tắc chung khi nhiều người cùng gây thiệt hại là họ phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, một người chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó Do đó nếu chúng

ta xác định được mức độ lỗi của từng người thì người gây thiệt hại sẽ bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi đó Điều đó có nghĩa rằng khi xác định được mức độ lỗi thì sẽ phân hóa người chịu TNBT ít, người chịu TNBT nhiều tương ưng với mức độ lỗi mà mình gây ra Song, đây là vấn đề hết sực phức tạp khi ta xác định lỗi của mỗi người trong số những người cùng gây thiệt hại, bởi lỗi là yếu tố mang tính chủ quan Mặc dù vậy, đánh giá lỗi là vấn đề mang tính khách quan, do

đó chúng ta sẽ xem xét mức độ lỗi, hình thức lỗi của những người gây thiệt hại để buộc họ bồi thường cho hợp lí

Trang 9

Nếu không xác định được mức độ lỗi của những người gây thiệt hại thì họ phải bồi thường bằng nhau Điều này không có nghĩa là pháp luật áp dụng biện pháp “cào bằng” – tức là quy bằng trách nhiệm cho từng người để dễ giải quyết Ta phải hiểu rằng khi nhiều người cùng gây thiệt hại mà không thể xác định được mức

độ lỗi của mỗi người, do đó những người cùng gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau

Một số Điều luật khác cũng quy định về việc liên đới bồi thường thiệt hại

khi có yếu tố lỗi Ví dụ khoản 4 Điều 623BLDS quy định: ” Trong trường hợp

nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”

d, TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp người bị thiệt hại

có lỗi.

Một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì họ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra Tuy vậy, có những thiệt hại xảy ra không chỉ do lỗi của người gây thiệt hại mà còn do lỗi của người bị thiệt hại

Khi phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng cần thiết phải hiểu rõ quy định tại Điều 617 BLDS quy định:

“Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.”

Trang 10

Như vậy, thiệt hại xảy ra do lỗi của người gây thiệt hại bao nhiêu thì họ chỉ

phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi mà họ gây ra thiệt hại Ví dụ: Một người

lái xe mày phóng nhanh đâm vào người khác gây thiệt hại, tuy nhiên người bị thiệt hại cũng có lỗi là họ đi đường ngược chiều Do đó, trong trường hợp này, việc xác

định mức độ lỗi của người gây thiệt hại là quan trọng để xác định mức bồi thường hợp lí cho người bị thiệt hại

Có những trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường Quy định này nhằm hướng có lợi cho người gây thiệt hại và giải thoát trách nhiệm cho người gây thiệt hại Lỗi của người bị thiệt hại có thể do vô ý hoặc cố ý nhưng phải xác định được lỗi đó hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại, theo đó người gây thiệt hại phải là người hoàn toàn không có lỗi thuộc hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay ở mức độ khác thì người có đó không phải bồi thường Người gây thiệt phải chứng minh được là mình hoàn toàn không có lỗi, mà lỗi hoàn toàn thuộc về phía người

bị gây thiệt hại Rất nhiều ví dụ có thể lấy để chứng minh cho trường hợp này như: lao vào ô tô đang chạy trên đường để tự tử; cố tình vượt barie chắn đường ,có đèn báo hiệu để chạy ngang qua đường sắt và thiệt hại… Tuy nhiên, trường hợp này cần xem xét cụ thể có đùng thiệt hại hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hay còn nguyên nhân nào khác để quyết định việc không bồi cho người gây thiệt hại một cách hợp lí

e, TNBT thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp đặc biệt.

Như đã phân tích ở phần trước, trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức lỗi, mức độ lỗi ảnh hường ít đến việc xác định trách nhiệm Thậm chí người gây ra thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi (khoản

3 Điều 623 BLDS)

Ngày đăng: 30/01/2016, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w