Chị Hòa có nhờ anh Hải đứng tên trong hợp đồng với anh Lân để thuận tiện cho chị Hòa làm thủ tục cấp sổ đỏ và có xác nhận của địa phương vào ngày 15/1/2006, hai bên không giao tiền cho n
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch, qua đó bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra Trong tìm hiểu thực tế, số vụ việc trach chấp liên quan đến hình thức của giao
dịch dân sự khá phổ biến Chính vì vậy chúng em đã lựa chọn đề số 8: “ Tìm hiểu 03 vụ việc có tranh chấp liên quan đến hình thức cuat giao dịch dân sự”.
II NỘI DUNG:
1 Hình thức của giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật:
Giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch đó
-Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức miệng được coi là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay mặc dù hình thức này có độ xác thực thấp nhất Hình thức miệng thường được áp dụng đối với các giao dịch được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó (mua bán trao tay) hoặc giữa các chủ thể có quan hệ mật thiết, tin cậy, giúp đỡ nhau (bạn bè, người thân cho vay, mượn tài sản…) Nhưng cũng có trường hợp giao dịch dân sự nếu được thể hiện bằng hình thức miệng phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị (di chúc miệng – Điều 625 BLDS)
- Hình thức văn bản:
+Văn bản thường: Được áp dụng trong các trường hợp các bên tham gia giao dịch dân sự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện bằng hình thức văn bản Nội dung giao dịch được thể hiện trên văn bản có chữ
kí xác nhận của các chủ thể cho nên hình thức này là chứng cứ xác định chủ thể
đã tham gia vào một giao dịch dân sự rõ ràng hơn so với trường hợp giao dịch được thể hiện bằng lời nói
Trang 2+Văn bản có công chứng chứng nhận, UBND cấp có thẩm quyền chứng thực: Được áp dụng trong những trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân
sự bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thỏa thuận phải có, chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (ví dụ: chuyển quyền sử dụng đất)
-Hình thức giao dịch dân sự bằng hành vi: Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những hành vi dân sự nhất định theo quy định trước Ví dụ:
sử dụng các dịch vụ tự động… Đây là hình thức giản tiện nhất của giao dịch, có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết, phổ biến nhất là tại các quốc gia có nên công nghiệp tự động hóa phát triển
2 Phân tích 3 vụ việc thực tế
2.1.Vụ việc thứ nhất:
Vụ việc xảy ra tại thôn Nhuế, xã Kim Trung, Đông Anh, Hà Nội
- Nguyên đơn: Anh Vũ Công Lân, sinh năm 1960, trú tại 47 làng Thủ Lệ,
Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Uỷ quyền cho anh Phạm Quang Tuyền, sinh năm 1970, trú quán tại Tô Hiệu, Thường Tín, Hà Tây Tạm trú tại 81B Trần Quốc Toản, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Bị đơn:
1 Anh Phạm Quốc Hải, sinh năm 1963, trú quán: thôn Nhuế, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội
2 Chị Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1964, , trú quán: thôn Nhuế, Kim Chung Đông Anh, Hà Nội
3 Chị Nguyễn Thị Hòa, sinh năm 1955, trú quán: Đản Dị, Uy Nỗ, Đông Anh,
Hà Nội
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Hoa, sinh năm
1953, trú quán: 14 tổ 9A ngõ 151 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội
* Tóm tắt vụ việc:
Diện tích nhà đất tranh chấp tại thôn Nhuế, xã Kim Chung, Đông Anh trước thuộc quyền quản lý sử dụng của vợ chồng anh Phạm Quốc Hải và chị
Trang 3Nguyễn Thị Yên được UBND xã cấp cho năm 1987 làm đất ở Anh chị đã làm nhà mái bằng bê tông một tầng Do nợ tiền nhà chị Hòa ở Đản Dị, Uy Nỗ, Đông Anh nên anh chị đã gán nợ cho chị Hòa toàn bộ diện tích nhà trên, thể hiên trên giấy tờ viết tay có chữ kí của anh Hải, Chị Yên và chị Hòa, không có xác nhận của chính quyền địa phương
Năm 2006, chị Hòa đã nhượng lai căn nhà này cho anh Vũ Công Lân với giá 260 triệu đồng Chị Hòa có nhờ anh Hải đứng tên trong hợp đồng với anh Lân để thuận tiện cho chị Hòa làm thủ tục cấp sổ đỏ và có xác nhận của địa phương vào ngày 15/1/2006, hai bên không giao tiền cho nhau Giữa chị Hòa và anh Lân kí thêm một hợp đồng mua bán nhà không có xác nhận của chính quyền địa phương Anh Lân đã giao 203,8 triệu đồng và hẹn sẽ trả nốt số tiền còn lại sau khi chị Hòa hoàn tất giấy tờ thủ tục mua bán Năm 2007, hai bên không thực hiện tiếp hợp đồng nên chị Hòa có gửi đơn cho anh Hải mang đến UBND xã xin hủy hợp đồng mua bán với anh Lân và lập hợp đồng mua bán với chọ Hoàng Thị Hoa có xác nhận của chính quyền địa phương Khi anh Lân đến kiểm tra nhà thì đã xảy ra tranh chấp với chị Hòa
Phía anh Hải chị Yên khai phù hợp với lời khai của anh Lân và anh Tuyền Nay anh Lân khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh và chị Hòa tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán và cho rằng anh Hải chị Yên và chị Hòa tự ý hủy hợp đồng nên phải chịu toàn bộ trách nhiệm
Phía chị Hòa trình bày: chị không chấp nhận việc anh Lân khởi kiện yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng vì chị đã nhượng căn nhà cho chị Hoa Chị chấp nhận trả lại số tiền anh Lân đã đưa cho chị là 203,8 triệu đồng Về hợp đồng mua bán nhà giữa chị với chị Hoa, giữa vợ chồng anh Hải chị Yên với chị Hoa, chị không yêu cầu tòa xem xét
Phía chị Hoa cũng trình bày: hợp đồng mua bán nhà giữa chị với anh Hải chị Yên không liên quan gì tới anh Lânvà được UBND xã xác nhận Mua bán xong chị đã nhờ người trông coi Nay anh Lân khởi kiện tiếp tục yêu cầu thực hiện hợp đồng của anh Lân với anh Hải, chị Yên và chị Hòa, chị không có ý kiến gì và đề nghị tòa giải quyết theo pháp luật
Trang 4Tổng giá trị nhà đất tranh chấp được tòa thẩm định giá vào ngày 8/9/2008
là 848 triệu đồng (năm 2006 là 260 triệu đồng)
* Phán quyết của Tòa án:
Vụ việc đã được Tòa án Nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo đó:
- Tuyên bố hủy hợp đồng mua bán nhà giữa vợ chồng anh Hải chị Yên với anh Lân, không bên nào phải bồi thường
- Tuyên bố hủy hợp đồng giữa chị Hòa và anh Lân được lập vào tháng 6/2006, buộc chị Hòa phải thanh toán cho anh Lân 497,8 triệu đồng gồm tiền đã nhận mua bán nhà là 203,8 triệu đồng và 294 triệu đồng tiền thiệt hại do hợp đồng vô hiệu
- Không xét đến hợp đồng mua bán nhà giữa cợ chồng anh Hải với chị Hoa theo yêu cầu của các bên đương sự Các đương sự phải nộp án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
* Bình luận của nhóm về cách giải quyết của tòa.
- Thứ nhất, về việc hủy hợp đồng giữa vợ chồng anh Hải chị Yên với anh Lân
Hợp đồng mua bán nhà được kí kết giữa hai bên nhưng cả hai bên đều không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà thay vào đó nó được kí kết để che dấu một hợp đồng khác thực tế giữa chị Hòa và anh Lân Do vậy, hợp đồng này là hợp đồng giả tạo mà theo Điều 129 Bộ Luật Dân sự hợp đồng này bị coi là vô
hiệu: Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.
Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.”
Do đó tuyên bố của Tòa án hủy bỏ hợp đồng mua bán nhà giữa vợ chồng anh Hải và anh Lân là có căn cứ của pháp luật
* Về hợp đồng thực tế giữa chị Hòa và anh Lân
Hợp đồng mua bán nhà giữa chị Hòa và anh Lân không có sự chứng thực của chính quyền địa phương Theo Điều 450 về hình thức hợp đồng mua bán
Trang 5nhà ở: “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng
hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Do vậy hợp
đồng này là giao dịch dân sự vi phạm về hình thức theo khoản 2 Điều 122 Bộ
Luật Dân sự 2005: “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự
phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.”
Chính vì vậy, tòa án tuyên bố hủy bỏ hợp đồng này là đúng
-Về khoản tiền 497,8 triệu đồng Tòa án yêu cầu chị Hòa thanh toán lại cho anh Lân, bao gồm tiền đã nhận mua bán nhà là 203,8 triệu đồng và 294 triệu đồng tiền thiệt hại do hợp đồng vô hiệu
Ta thừa nhận 203,8 triệu đồng tiền chị Hòa phải trả lại cho anh Lân là đúng khi hợp đồng mua bán nhà của hai người bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, theo
khoản 3 Điều 425 quy định về việc hủy bỏ hợp đồng dân sự: “Khi hợp đồng bị
huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền”.
Vậy tại sao chị Hòa phải trả thêm 294 triệu đồng cho anh Lân mà không phải là 588 triệu đồng (khi xảy ra tranh chấp tổng giá trị nhà đất là 848 triệu đồng, chênh lệch với giá tiền thỏa thuận giữa anh Lân và chị Hòa năm 2006 là
588 triệu đồng), tức là chị Hòa chỉ phải trả 50% thiệt hại của tài sản Nghi vấn này được giải thích như sau:
-Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, anh Lân đã thanh toán 203,8 triệu đồng và hẹn sẽ thanh toán nốt khi đã hoàn tất thủ tục mua bán thì đến năm 2007 chị Hòa
tự ý làm đơn và đưa cho anh Hải đến UBND xin hủy hợp đồng mua bán và lập một hợp đồng mua bán khác với chị Hoa mà không thông báo cho anh Lân biết
Do vậy, chị Hòa được xác định là bên có lỗi
- Thứ hai, về phía anh Lân đã tham gia kí kết hợp đồng giả tạo với anh Hải và hợp đồng trái pháp luật với chị Hòa Trong lời khai của các bên đương sự thì trong quá trình thực hiện hợp đồng đến năm 2007 anh Lân cũng không thực
Trang 6hiện trả nốt phần tiền còn lại cho chị Hòa nên chị Hòa đã tự ý hủy hợp đồng Chính vì thế, anh Lân cũng được xác định là có lỗi
Kết quả là trong việc thực hiện hợp đồng cả hai bên chị Hòa và anh Lân đều được xác định là có lỗi và lỗi là như nhau Bởi vậy tòa án xác định mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại do hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là hợp lý Việc xác định trách nhiệm bồi thường của bên có lỗi được quy định tại khoản 4 Điều 425
Bộ Luật Dân sự 2005: “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi
thường thiệt hại.”
Tóm lại, căn cứ vào việc phân tích các quyết định về hủy hợp đồng giữa anh Hải và anh Lân, của chị Hòa với anh Lân, việc chị Hòa thanh toán trả lại cho anh Lân 497,8 triệu đồng từ thiệt hại do hợp đồng bị hủy, nhóm chúng tôi nhận thấy cách giải quyết của Tòa án Nhân dân huyên Đông Anh là đúng với căn cứ của pháp luật
2.2 Vụ việc thứ hai
-Nguyên đơn: anh Nguyễn Hữu Nhường – sinh năm 1969
Trú quán: số 10, tổ 22 Lường Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
- Bị đơn: chị Dương Thị Nam – sinh năm 1950
Trú quán: số 295 E11 khu tập thể Z153 thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh
- Người có quyền và lợi ích liên quan:
1 anh Dương Minh Phúc – sinh năm 1973
Trú quán: tổ 4, Tiền Châu, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
2 anh Nguyễn Văn Điển (chồng chị Nam)
Trú quán: số 295-E11 khu tập thể Z153 tổ 43 thị trấn Đông Anh huyện Đông Anh
3 anh Doãn Văn Hồng – sinh năm 1959
Trú quán: 450/16/17/5 đường Trương Công Định phường 8 thành phố Vũng Tàu
- Nơi xảy ra vụ việc: Vụ việc xảy ra tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
*Tóm tắt vụ việc:
Trang 7Tháng 5 năm 1995 anh Nguyễn Hữu Nhường và anh Dương Minh Phúc
có mua chung nhà của vợ chồng ông Hồng tại tổ 31, thị trấn Đông Anh trị giá
156 triệu đồng, trong đó mỗi người góp 78 triệu đồng Tổng tài sản bao gồm 2 gian nhà cấp 4 cũ trên diện tích đất 160 m2 Sau khi thỏa thuận ông Hồng giao nhà cho anh Phúc quản lí
Năm 2007, anh Nhường chuyển công tác Đến cuối năm 2007 anh Phúc lập hợp đồng bán nhà với chị Dương Thị Nam và anh Nguyễn Văn Điển với giá
500 triệu đồng Trước khi lập hợp đồng, anh Phúc cho biết vì 1 căn nhà đang xây dựng dở nên chưa thể làm thủ tục hoàn công, do đó cần đợi them một thời gian nữa mới hoàn tất được thủ tục Anh Điển và chị Nam đồng ý nên đã đặt trước 200 triệu đồng đợi khi nào hoàn tất các thủ tục mua bán sẽ thanh toán hét hợp đồng Nay anh Nhường yêu cầu phía chị Nam và anh Điển hủy một phần hợp đồng với anh Phúc vì trong số giá trị tài sản đem bán có cả một phần là tài sản của anh
Phía chị Nam và anh Điển cho biết: Năm 2007 chị đã mua bán nhà với anh Phúc với tổng số tiền là 500 triệu đồng, đã thanh toán 200 triệu đồng còn
300 triệu đồng thì đợi hoàn tất thủ tục rồi thanh toán Đang trong quá trình làm thủ tục thì anh Nhường yêu cầu hủy một phần hợp đồng Nhưng nay anh chị yêu cầu hủy toàn bộ hợp đồng vì trước khi giao kết anh Phúc không cho biết rõ toàn bộ diện tích này không phải là của riêng anh, việc hủy hợp đồng là do lỗi của anh Phúc nên yêu cầu anh Phúc phải bồi thường thiệt hại
Phía anh Phúc có xác nhận mua bán chung nhà với anh Nhường, mỗi bên góp 78 triệu đồng Anh thừa nhận đã bán nhà này cho chị Nam, anh Điển giá
500 triệu đồng và đã nhận 200 triệu đồng tiền đặt cọc Nay anh Nhường kiện anh không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật
Ông Hồng khai: năm 1955 ông mua lại nhà đất tại tổ 31 thị trấn Đông Anh Do không sử dụng nên tháng 5 năm 1995 đã nhượng lại cho anh Nhường
và anh Phúc với giá 156 triệu đồng Hai bên giao nhận đủ số tiền và nhà Việc anh Phúc và anh Nhường mỗi người bỏ ra bao nhiêu tiền và có việc tranh chấp ông không biết, không có ý kiến vì đã mua bán xong
Trang 8Theo quyết quả định giá của Tòa án, tổng giá trị 2 căn nhà đang có tranh chấp là 969.414.000 đồng
Vụ việc đã được tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã xét
xử sơ thẩm
* Nội dung giải quyết và quyết định của Tòa án:
Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Nhường, xác định tài sản chung của anh Phúc và anh Nhường là toàn bộ diện tích nhà đất 160 m2 tại tổ
31 thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh Buộc chị Nam anh Điển phải giao trả cho anh Nhường sở hữu, sử dụng ½ diện tích nhà đất trên
Buộc anh Phúc phải hoàn trả lại số tiền 200 triệu đồng đã nhận và bồi thường thiệt hại do lỗi gây ra hợp đồng vô hiệu, tổng giá trị bồi thường là 500 triệu đồng
Các bên nộp án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
*Bình luận về cách giải quyết của Tòa án và cách giải quyết của nhóm.
Nhóm chúng em hoàn toàn nhất trí với cách giải quyết như trên của Tòa
án nhân dân huyện Đông Anh Những quyết định trên của Tòa án huyện Đông Anh là hoàn toàn chính xác, đúng đắn và có căn cứ pháp luật Đây là những quyết định nhân danh nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ công lý, lẽ phải đảm bảo cho quyền lợi của công dân
- Trước hết việc Tòa án quyết định: Chấp nhận đơn kiện của anh Nguyễn Hữu Nhường và chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Nhường buộc chị Nam, anh Điển phải giao trả lại cho anh Nhường sở hữu, sử dụng ½ diện tích nhà đất đang có tranh chấp là đúng quy định của pháp luật bởi các lẽ sau: Toàn bộ diện tích nhà đất do anh Nhường và anh Phúc cùng góp tiền (mỗi người một nửa) là
78 triệu đồng, cả anh Nhường và anh Phúc đều thừa nhận điều đó Khoản 2 –
Điều 216 quy định: “mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền và nghĩa vụ đối
với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Do đó mỗi người sẽ được hưởng ½ Tuy nhiên
anh Phúc tự ý lập hợp đồng mua bán với chị Nam, anh Điển với tổng giá trị tài sản chung mà không hỏi ý kiến anh Nhường là không đúng pháp luật vì anh
Trang 9không phải là chủ sở hữu của toàn bộ diện tích nhà trên Hành vi này của anh Phúc đã xâm phạm đến quyền định đoạt tài sản của anh Nhường được ghi nhận
tại Khoản 1 – Điều 223 BLDS, 2005: “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có
quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật” Chính vì vậy theo quy định tai Khoản 2 – Điều 169 BLDS
về bảo vệ quyền sở hữu: “chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kì
người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật”,anh Nhường có những yêu cầu trên là hoàn toàn đúng và phù hợp để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Việc Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa chị Nam, anh Điển với anh Phúc là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quy định của pháp luật
- Thứ hai, do toàn bộ diện tích nhà trên là của anh Phúc và anh Nhường mua chung nên khi anh Phúc đơn phương kí hợp đồng chỉ là giao dịch giữa anh Phúc
và chị Nam, anh Điển Do đó hợp đồng vẫn có hiệu lực đối với phần tài sản của anh Phúc trong khối tài sản chung, nhưng do chị Nam, anh Điển có yêu cầu hủy toàn bộ hợp đồng với lý do trước khi kí hợp đồng anh Phúc không cho biết chính xác về căn nhà Theo quy định tại Khoản 2 – Điều 443 BLDS, 2005 bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán: “Trong trường hợp tài sản bị người thứ ba tranh chấp thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua, nếu người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn
bộ tài sản thì bên mua có quyền hủy hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại” Do đó việc chị Nam, anh Điển yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng và bồi thường thiệt hại là đúng quy định của pháp luật, Tòa án chấp nhận yêu cầu này
là có căn cứ pháp luật và hợp lý
- Thứ ba, việc Tòa án buộc anh Phúc phải bồi thường thiệt hại và xác định tổng giá trị bồi thường là 500 triệu đồng là hoàn toàn thấu tình, hợp lý, bởi lẽ:
Theo kết quả định giá của Tòa án 2 căn nhà đâng tranh chấp hiện tại trị giá: 969.414.000 đồng Vì toàn bộ tài sản là của chung của anh Phúc và anh
Trang 10Nhường nên phần giá trị tài sản này chia đôi, do đó phần giá trị nhà của anh Phúc trong trường hợp này là được xác định là 484.707.000 đồng – 78.000.000 đồng là giá trị nhà trước đây = 406.707.000 đồng là giá trị thiệt hại do hợp đồng
bị hủy cộng them 200.000.000 đồng tiền đã thanh toán; xác định lỗi hủy hợp đồng hoàn toàn là do anh Phúc nên tổng giá trị anh Phúc phải bồi thường là 606.707.000 đồng Tuy nhiên vì chị Nam, anh Điển có đề nghị nên anh Phúc chỉ phải thanh toán giá trị thiệt hại là 500.000.000 đồng
2.3 Vụ việc thứ ba:
Trong các ngày từ 22 đến ngày 27/8/2008, tại trụ ở TAND TP Hà Nội xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/TLDT-DS ngày 01/1/2008 về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản theo quyết định đưa ra vụ án xét xử số 355/QĐXX ngày 11 tháng 8 năm 2008 giữa các đương sự
* Các đương sự:
- Nguyên đơn : Cụ Nguyễn Thị Ân sinh năm 1919, trú tại: Phố Sủi, thôn Phú
Thị , huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
- Bị đơn: Ông Cao Văn Thức, trú tại: Phố Sủi, thôn Phú Thị , huyện Gia Lâm,
TP Hà Nội
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1 Ông Cao Văn Giáp, sinh năm 1942, trú tại : Phố Sủi, thôn Phú Thị , huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
2 Ông Cao Văn Tám, sinh năm 1950, trú tại : Phố Sủi, thôn Phú Thị , huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
* Tóm tắt nội dung vụ việc:
Vợ chồng cụ Cao Văn Học và cụ Nguyễn Thị Ân tạo lập được hai khối tài sản chung, bao gồm: Mảnh đất trong làng Phú Thị được cấp trong thời kỳ cải cách có diện tích 357 m² hiện vợ chồng ông Cao Văn Thức đang sử dụng Ngày 29/9/2004 ông Thức đã kê khai và được UBND huyện Gia Lâm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Cao Văn Thức (bút lục 69) Mảnh đất có nhà ngói xây dựng có 06 gian nằm trên diện tích đất 210 m² tại Phố Sủi, thôn Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội Sau khi cụ Học chết, cụ Ân có lập giấy