Bởi lẽ lừa dối trong giao dịch mà bị phát hiện và yêu cầu xử lí giao dịch đó thì giao dịch đó không có hiệu lực, hay nói khác đi hợp đồng các bên ký kết bị vô hiệu.. Sự lừa dối trong gia
Trang 1Mục lục
Mục lục 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I.Một số khái niệm 3
a.Lừa dối 4
b.Nhầm lẫn 5
c.Đe dọa, cưỡng ép 10
III.Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện 11
1.Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối do vi phạm sự tự nguyện 11
2.Giao dịch vô hiệu tuyệt đối do vi phạm sự tự nguyện 13
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự là là một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định Giao dịch là sự tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên, bên cạnh đó pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân thủ theo – đó là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa
vụ của chủ thể tham gia giao dịch Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện là một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch Trên thực tế
có rất nhiều giao dịch dân sự không có sự tự nguyện do không có tự do ý chí
và bày tỏ ý chí Khi giao dịch thiếu tự do ý chí và bày tỏ ý chí (sự tự nguyện) của chủ thể thì sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý Vì vậy để hiểu rõ về
vấn đề này em xin chọn đề tài: “Một số vấn đề về giao dịch dân sự vi phạm
sự tự nguyện của chủ thể”.
NỘI DUNG
Trang 3Sự tự nguyện là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình thiết lập giao dịch Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ
ý chí Nếu không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí thì không có sự tự nguyện hoặc nếu có nhưng không có sự thống nhất giữa hai bên thì cũng không có sự
tự nguyện là vi phạm pháp luật Một giao dịch dân sự thiếu sự tự nguyện sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý
I.Một số khái niệm.
*Giao dịch dân sự: là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
*Sự tự nguyện: là quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào
Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng
*Ý chí: là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình để đạt được mục đích đó Ý chí là ý muốn tiềm ẩn ý chí chủ quan của các chủ thể, là mầm mống thúc đẩy các chủ thể hướng tới một giao dịch nào đó để thỏa mãn ý muốn, nhưng phải tuân theo ý chí nhà nước đó là không trái vơi pháp luật Ý chỉ của chủ thể và ý chí nhà nước là một thể thống nhất được thể hiện dưới hình thức nhất định trong đó ý chí của chủ thể phải phù hợp với ý chí của nhà nước
Trang 4*Vi phạm ý chí: là hành vi cố ý hoặc vô ý không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết, thỏa thuận, điều kiện mà một bên đưa ra và được bên kia chấp nhận Ngoài ra, các chủ thể vi phạm điều cấm của pháp luật được coi là vi phạm ý chí của nhà nước
II.Các trường hợp vi phạm sự tự nguyện:
a.Lừa dối.
Lừa đối là một vấn đề mà ta rất hay bắt gặp trong đời sống hàng ngày Thực tế có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về lừa dối Theo cách hiểu thông thường thì lừa dối là bằng thủ đoạn nói dối gian lận để làm cho người khác lẩm tưởng mà tin rằng đó là sự thật Lừa dối là hành vi cố ý đưa thông tin sai nhằm để người khác tin đó là sự thật
Dưới các khía cạnh khác nhau, lừa dối lại được quan niệm khác nhau Trong ngôn ngữ pháp lý, các nhà khoa học cho rằng lừa dối là một xảo thuật dung để gạt người khác Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó ( điều 132 BLDS) Sự lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên chủ thể, nó chỉ thể hiện đúng ý chí của một bên trong giao kết, còn ý chí của phía đối tác đã bị bóp méo đi do bị lừa dối Sự lừa dối trong giao kết hợp đồng có tính chất quyết định đến sự tồn tại của hợp đồng Tính chất quyết định của sự lừa dối thể hiện ở chỗ: Nếu một bên vì mục đích tư lợi riêng của mình mà không dùng các mánh khóe, thủ đoạn để lừa dối bên đối tác thì sẽ không có giao kết hợp đồng “Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn của một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì phía bên kia đã không ký kết hợp đồng” Đây là một loại giao dịch không có tự do
ý chí và bày tỏ ý chí của cả hai bên, mà ý chí của một bên đã bị bóp méo khi
Trang 5bị lừa gạt Khi mỗi bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu tòa tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu
Sự lừa dối trong giao kết hợp đồng có tính chất quyết dịnh đến hiệu lực của hợp đồng Bởi lẽ lừa dối trong giao dịch mà bị phát hiện và yêu cầu xử lí giao dịch đó thì giao dịch đó không có hiệu lực, hay nói khác đi hợp đồng các bên ký kết bị vô hiệu Sự lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi hành vi cố
ý của một bên chủ thể, nó chỉ thể hiện đúng ý chí của một bên trong giao kết, còn ý chí của phía đối tác đã bị nhầm lẫn do tưởng tượng sai nội dung, thỏa thuận hoặc sai về đối tượng do bị lừa dối, có nghĩa là lí trí của họ không đồng nhất Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi giao dịch đều bị coi là lừa dối
Như vậy có thể xác định là lừa dối trong giao dịch dân sự phải có hai điều kiện:
+Một bên phải sử dụng thủ đoạn để lừa người khác,
+Người bị lừa phải nghe theo, làm theo một việc nào đó
Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng khi một bên
cố ý làm cho bên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý muốn thực và tham gia vào hợp đồng sẽ bị thiệt hại nhưng đem lại lợi ích cho bên đã lừa dối
b.Nhầm lẫn.
Nhầm lẫn theo cách hiểu thông thường là hành vi được thực hiện hoặc nhận thức không đúng với ý chí của người thực hiện hành vi hay nhận thức ví
dụ như: đi nhầm đường, hiểu nhầm ý người khác Trong khoa học pháp lý nhầm lẫn là sự thể hiện không chính xác ý muốn đích thực của một bên hoặc các bên khi tham gia giao kết Nói một cách khác đó là sự không trùng hợp giữa mong muốn bên trong vơi việc thể hiện ý chí ra bên ngoài Có quan điểm
Trang 6khác cho rằng nhầm lẫn là sự không phù hợp giữa niềm tin và thực tế Song
dù nói thế nào thì nó cũng chính là sự không phù hợp giữa việc thể hiện ý chí của chủ thể với sự việc xảy ra trong thực tế
Điều 131 BLDS quy định: “khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia
nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên kia
bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toàn án tuyên
bố giao dịch đó vô hiệu…” Qua điều luật này cho thấy bộ luật dân sự đã
khẳng định nhầm lẫn có thể dẫn tới hợp đồng vô hiệu
Nhầm lẫn là hậu quả nhận thức sai của chính bản thân chủ thể do thiếu kiến thức chuyên môn hoặc những điều kiện nhất định để hiểu rõ được ý tưởng của phía đối tác Ví dụ: anh A làm nghề kinh doanh điện tử điện lạnh,
do có học qua kĩ thuật sửa chữa nên anh có tân trang lại một chiếc ti vi hiệu Samsung Anh B là bạn anh A trong một lần đến chơi cảm thấy thích chiếc ti
vi nên đã hỏi mua về để sử dụng mà không biết đó là tivi cũ đã được bọc lớp
áo mới Trong trường hợp này sự nhầm lẫn hoàn toàn thuộc về phải anh B Anh B rất thích chiếc tivi của anh A nhưng không biết đó là tivi cũ nên mua Còn anh A thấy khách hàng mua là bán, vì anh B không hỏi han gì về chất lượng nên anh A không nói đây là tivi cũ Theo điều 131 BLDS đã viện dẫn thì điều luật này chỉ đề cập sự nhầm lẫn của một bên tham gia hợp đồng với
tư cách là điều kiện làm cho hợp đồng vô hiệu mà không hề đưa ra trường hợp cả hai bên tham gia giao kết mà cùng nhầm lẫn thì sao? Liệu một hợp đồng được ký kết mà cả hai bên tham gia vào giao kết hợp đồng cùng bị nhầm lẫn thì có được coi là điều kiện có tính bản chất của hợp đồng dân sự là sự thể hiện ý chí đích thực của các bên Nếu các bên không có sự thống nhất ý chí thì không có hợp đồng Trường hợp cả hai bên cùng có sự nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng tức là ý chí của họ không phù hợp với nhau hoặc không đúng
Trang 7với mong muốn giao kết Vì vậy cũng cần phải xem xét một hợp đồng được
ký kết mà có sự nhầm lẫn đến từ hai phía (các bên tham gia giao kết) là yếu tố dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng
Xác định yếu tố nhầm lẫn để hủy bỏ một hợp đồng là một vấn đề không đơn giản Sự nhầm lẫn do kiến thức hiểu biết có hạn dẫn đến không hiểu rõ nội dung bên trong hợp đồng quy định đã đặt bút ký vào hợp đồng do loại hợp đồng đó đã sử dụng những ngôn từ kỹ thuật mà do trình độ hiểu biết
có hạn họ hiểu không rõ ràng về nó dẫn đến nhầm lẫn khi ký kết hay nói khác
đi đây chính là sự vô ý do thiếu hiểu biết dẫn đến ký kết hợp đồng một cách nhầm lẫn
Song, có phải tất cả mọi sự nhầm lẫn trong giao kết đều bị coi là vô hiệu để hủy bỏ một hợp đồng đã ký kết hay không, người ta cần xem xét đến hậu quả của sự nhầm lẫn có làm cho chủ thể tham gia giao dịch bị thiệt hại hay không? Và sự nhầm lẫn đó có tính chất quyết định đến sự tồn tại của hợp đồng hay không? Do vậy, việc coi sự nhầm lẫn nào là yếu tố có thể dẫn đến
sự vô hiệu của hợp đồng còn tùy thuộc vào cách tiếp cận vấn đề này trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Để sự nhầm lẫn được coi là chính đáng người ta phải dựa vào những tiêu chuẩn khách quan và chủ quan
Thứ nhất: Cần phải xem xét: “ liệu một người bình thường cùng hoàn cảnh và cùng đốimặt với sự nhầm lẫn tương tự như bên bị nhầm lẫn” nếu biết được sự thật của sự việc vào thời điểm giao kết hợp đồng thì họ có giao kết hợp đồng với những điều khoản như vậy hay không hay sẽ chỉ giao kết hợp đồng với các điều khoản khác
Thức hai: phải xem xét các điều kiện liên quan đến các bên của hợp đồng Bên nhầm lẫn có thể hủy bỏ hợp đồng chỉ khi rơi vào một trong các trường hợp sau:
Trang 8- Cả hai bên cùng nhầm lẫn và sự nhầm lẫn này chỉ liên quan đến sự việc vào thời điểm giao kết hợp đồng
Ví dụ: anh A có đến công ty của anh B để mua xe nhưng tưởng mình đã thỏa thuận với anh B là mua 10 chiếc xe máy nên đã không nói lại Phía anh
B do khách hàng đặt hàng quá nhiều nên anh cũng nhầm tưởng là anh A đặt
20 chiếc xe máy Vì thế phía anh B đã đưa ra bản hợp đồng với giá bán 20 chiếc xe máy Trong vụ việc này anh A có quyền yếu cầu hủy bỏ hợp đồng vì
có sự nhầm lẫ từ hai phía anh B và anh A
- Sự nhầm lẫn của bên nhầm lẫn phải do bên kia gây ra do vô tình, bất cẩn mà trình bày sai hoặc im lặng
Ví dụ: anh A đến cửa hàng thuê xe du lịch anh bất cẩn không hỏi cửa hàng cho thuê xe có những loại xe nào cho thuê mà cứ tưởng mình đã thỏa thuận thuê xe 30 chỗ anh cần Còn phía cửa hàng do vô tình không để ý đến việc người thuê muốn thuê xe bao nhiều chỗ 30 hay 50 mà cứ thế đưa hợp đồng ra, không ý thức được rằng người thuê xe muốn thuê xe 30 chỗ Cả hai bên đều vô tình, bất cẩn dẫn đến sự nhầm lẫn này Sự nhầm lẫn chỉ được phát hiện khi cửa hàng cho thuê xe đưa xe đến chở khách
- Bên kia phải biết hoặc lẽ ra phải biết về nhầm lẫn của bên nhầm lẫn nhưng để mặc cho bên kia bị nhầm lẫn
Ví dụ: anh C có đi nước ngoài, gặp được người quen và giới thiệu cho anh
về một bài thuốc quý, do sự thiếu hiểu biết và bất cẩn nên anh chỉ được biết công dụng của nó là dùng để chữa bệnh đau lưng Sau khi về nước vì ham món lợi nhuận đặt ra trước mắt nên anh đã tiến hành bày bán mặc dù không
có hướng dẫn sử dụng chỉ biết nếu sử dụng sai quy cách thì người sử dụng sẽ
bị nguy hiểm Anh D một bệnh nhân với căn bệnh lâu ngày lại thấy thuốc mới
Trang 9nên mua dùng thử nhưng do không có hướng dẫn sử dụng nên hậu quả là bệnh anh nặng càng thêm nặng
Nhầm lẫn chỉ có ý nghĩa với tư cách là yếu tố xác định hợp đồng vô hiệu nếu nó xảy ra trong giai đoạn hợp đồng được hình thành Trường hợp có sự nhầm lẫn dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng thì một trong các bên có thể yêu cầu tuyên bố vô hiệu ngay từ khi ký kết Nếu phát hiện ra hợp đồng bị nhầm lẫn nhưng các bên vẫn mặc nhiên thực hiện không yêu cầu sửa đổi thì hợp đồng đó vẫn có hiệu lực
Trong thực tế, vấn đề xác định một người có bị nhầm lẫn hay không phải dựa vào việc xác định thông tin mà họ nhận được do bên đề nghị đặt ra có sai không hay sự nhầm lẫn do điều kiện hoàn cảnh mang đến cho chính họ: do sự thiếu hiểu biết về đối tượng đưa ra giao dịch, hiểu sai về những yếu tố kỹ thuật, hoặc do yếu tố tâm lý của người tham gia giao dịch mà mà dẫn đến họ diễn đạt sai ý muốn của mình Thực tế có những trường hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn ngày từ khi giao kết hợp đồng
Đối với trường hợp giao kết hợp đồng bị nhầm lẫn thì xử lý theo điều 131
BLDS quy định: “khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch
mà xác lập giao dịch thì có quyền yếu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó; nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu…”.
Khi giao dịch vô hiệu do bị nhầm lẫn thì bên có lỗi trong việc xảy ra nhầm lẫn cần phải bồi thường thiệt hại
Nhầm lẫn là một trong những căn cứ để hủy giao dịch, tuy nhiên những trường hợp pháp luật quy định buộc chủ thể phải biết điều kiện tham gia hợp đồng, điều kiện được bồi thường theo hợp đồng… nhưng chủ thể không đưa vào hợp đồng những điều kiện hoặc không thông báo cho đối tác biết các điều
Trang 10kiện đó mà tưởng rằng đối tác đã biết, sau đó xảy ra tranh chấp về điều kiện thực hiện hợp đồng thì được coi là nhầm lẫn
c.Đe dọa, cưỡng ép.
Bộ luật dân sự Việt Nam có quy định: khi một bên tham gia giao dịch dân
sự do bị lừa dối hoặc đe dọa thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu
Đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ
ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm,tài sản của mình hoặc của cha,
mẹ, vợ, chồng con của mình( điều 132 BLDS)
Như vậy có thể thấy hành vi đe dọa trong giao dịch dân sự là việc một bên
có hành vi cố ý làm cho đối tác (người mà họ định tham gia giao kết hợp đồng khiếp sợ đến mức họ phải thiết lập một giao dịch không theo ý muốn chủ quan của họ)
Khi xem xét một giao dịch vô hiệu khi bị đe dọa cần phải xem xét hành vi
mà người đe dọa gây ra cho họ có phải là hành vi cố ý hay không và có làm cho người bị đe dọa sợ đến mức phải ký kết hợp đồng để tránh những thiệt hại
về vật chất, hay tinh thần cho chính họ hoặc những người than thích của họ như điều luật nêu hay không? Việc xác định người bị đe dọa có thực sự sợ hãi hay không không chỉ dựa vào đối tượng của sự đe dọa mà cần phải dựa vào những yếu tố khác như: nội dung, tính chất và hình thức của sự đe dọa; thời gian, địa điểm, hoàn cảnh cụ thể nơi diễn ra sự đe dọa; thái độ và những biểu hiện của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa Trên cơ sở đó mới xác định giao dịch mà họ tham gia ký kết bị vô hiệu nếu người bị đe dọa yêu cầu tòa án xem xét Song đây vẫn là một vấn đề khó giải quyết vì pháp luật chưa có tiêu chí