ĐẶT VẤN ĐỀĐảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật người khuyết tật Việt Nam.Để tìm hiểu rõ hơn về ng
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật người khuyết tật Việt Nam.Để tìm hiểu rõ hơn về nguyên tắc này nó được quy định như thế nào?Và trên
thực tế nguyên tắc này áp dụng ra sao? Cho nên, em xin chọn đề tài: “Phân tích nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật Nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật.Liên hệ thực tiễn”.
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1, Phân tích nguyên tắc.
Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 quy định: Điều 2 – Các
định nghĩa: “… Sự điều chỉnh hợp lí nghĩa là việc sửa đổi, điều chỉnh cần thiết và
thích hợp mà không áp đặt một ghánh nặng thiếu cân đối hay phi lí nào, ở nơi cần thiết trong trường hợp cụ thể, để đảm bảo người khuyết tật hưởng thụ hay thực thi, trên cơ sở bình đẳng với những người khác, tất cả quyền con người và sự tự do cơ bản” Khoản 1 Điều 4 – Các nghĩa vụ chung: “…a/ Thông qua tất cả các biện pháp bằng pháp luật, hành chính và các biện pháp khác thích hợp để thực hiện các quyền được công nhận trong công ước này” Đồng thời một trong các nguyên tắc
chung được quy định tại Điều 3 của công ước là nguyên tắc tiếp cận (mục f)
Từ các quy định trên ta có thể thấy rằng, sự điều chỉnh hợp lí đối với NKT là
vô cùng quan trọng, sự điều chỉnh của Nhà nước ta mà cụ thể là các chính sách, pháp luật đã quy định tương đối cụ thể về sự điều chỉnh này Sự điều chỉnh rất quan trọng đối với NKT, bởi trong thực tế thì tiếng nói của NKT không được coi trọng, nên họ phải nhờ vào những chính sách của Nhà nước đối với họ
Trang 2Luật người khuyết tật năm 2010 của Việt Nam quy định: “Tiếp cận là việc
người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để
có thể hòa nhập cộng đồng” (khoản 8 Điều 2 – Giải thích từ ngữ).
Ở quy định trên thì đã nêu rõ về một số lĩnh vực rất cơ bản đối với NKT có, đây là những lĩnh vực có thể nói là rất đỗi bình thường đối vơi mọi người, nhưng đối với NKT thì là cả một quá trình Luật NKT đã quy định khá rõ ràng những lĩnh vực mà NKT có thể tiếp cận và sử dụng Như đối với lĩnh vực sử dụng công nghệ thông tin đối với những người khiếm thị thì việc đó là một việc rất khó, họ không thể nhìn cho nên học rất khó khăn
Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật được đảm bảo không phải thuần túy
là sự xác định nghĩa vụ của Nhà nước và các chủ thể liên quan hay việc cung cấp cho họ các nhu cầu vật chất, chăm sóc…mà điều quan trọng là thông qua các quy định của pháp luật tạo cho người khuyết tật cơ hội, điều kiện, khả năng tiếp cận mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội: Đào tạo, việc làm giao thông, nhà ở, công trình công cộng trên cơ sở đó họ tự định đoạt các quyền và nghĩa vụ của công dân của mình Đồng thời, điều chỉnh các hành vi tương ứng của xã hội liên quan đến vấn đề này Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng ranh giới giữa nhu cầu, mong muốn với điều kiện đáp ứng; giữa tiếp cận và khả năng; giữa cơ hội, sự ưu đãi và phân biệt đối xử….là rất mỏng manh Chẳng hạn, các quy định về giảm giờ làm việc cho người khuyết tật trong Bộ luật lao động về hình thức bảo vệ, ưu đãi họ nhưng thực tế lại
là rào cản trong quá trình tìm việc của người khuyết tật Hay một số nước đưa vào trong luật về định chỉ tiêu việc làm bắt buộc cho người khuyết tật nếu không sẽ bị phạt khoản tiền nhất định nhằm bảo vệ việc làm cho người khuyết tật.Nhưng nhiều
ý kiến cho rằng đây chỉ là biện pháp đối xử ưu đãi tạm thời để nâng cao vị thế của những người ít vị thế, cơ hội tiếp cận việc làm Sẽ là tốt hơn nếu có các ưu đãi về tài chính khuyến khích người sử dụng lao động tạo nhiều cơ hội cho người khuyết
Trang 3tật tiếp cận việc làm Như vậy, điều quan trọng của nguyên tắc này không phải ở chỗ pháp luật quy định bao nhiêu quyền và phúc lợi cho người khuyết tật mà là xã hội sẽ ứng xử thế nào để người khuyết tật bằng khả năng và hành vi của mình thực hiện các quyền của họ với tư cách các quyền con người
2, Nguyên tắc được cụ thể hóa trong pháp luật NKT.
Với tư cách là thành viên của ILO và đã tham gia kí Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, pháp luật Việt Nam cần phải và đã bước đầu nội luật hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong Công ước Song khác với một
số nước, Luật người khuyết tật năm 2010 của Việt Nam không có điều luật cụ thể quy định các nguyên tắc, cũng như nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lí đối với người khuyết tật Cụ thể:
Ngay tại khoản 8 Điều 2 Luật người khuyết tật đã quy định về tiếp cận Với cách giải thích từ ngữ theo luật người khuyết tật thì đã có sự khái quát tương đối cụ thể đối với các cách tiếp cận của người khuyết tật như: sử dụng các công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin…chỉ nêu rất đơn giản nhưng chúng ta có thể hiểu khá rõ ràng về những gì mà người khuyết tật được hưởng
Còn về quyền và nghĩa vụ của NKT thì được quy định tại điều 4 của Luật NKT Quyền của NKT đã được quy định khá chi tiết như: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một
số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao,
du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật Các quyền của NKT đã quy định rất tốt trong thời buổi hiện nay, NKT với họ được hưởng những quyền này thì họ có thể hòa nhập một cách tốt nhất Giúp họ không có mặc cảm tự ti không giám hòa nhập với cuộc sống như những người bình thường khác Còn về nghĩa vụ thì được quy định tại khoản 2 của điều này, nghĩa vụ của NKT cũng không
Trang 4có gì khác đối với nguời bình thường, quy định này đã giúp NKT có thể không cảm thấy sự bình đẳng như bao nhiêu người bình thường khác Đây có thể nói là một trong những điểm tiến bộ của pháp lệnh nước ta hiện nay Luật quy định 10 nhóm giải pháp chính sách của Nhà nước (Điều 5 LNKT), trong đó nhấn mạnh việc bảo đảm nguồn lực, các điều kiện thực thi, xã hội hóa, tuyên truyền, đào tạo cán bộ thể hiện được sự cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về người khuyết tật Bên cạnh đó, cũng quy định các điều kiện đảm bảo để thực hiện các chính sách như cơ sở khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng… cho NKT.Thể hiện quan điểm tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu cầu và khả năng bằng các chính sách sách đối với người học, người dạy, cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục quy định NKT được nhập học ở
độ tuổi cao hơn so với quy định chung, được ưu tiên trong tuyển sinh và miễn giảm một số môn học, nội dung học mà cá nhân họ không đáp ứng được Đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thì không được từ chối tuyển dụng NKT có
đủ tiêu chuẩn vào làm việc và một số chính sách đặc thù đối với họ theo quy định Luật đã cải thiện đời sống người khuyết tật và làm thay đổi nhận thức xã hội về người khuyết tật; tạo môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi để người khuyết tật hòa nhập cộng đồng; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia trợ giúp người khuyết tật
Luật cũng quy định về chế độ bảo trợ xã hội, quy định cụ thể đối tượng và chính sách bảo trợ xã hội và bổ sung chính sách đối với cá nhân và hộ gia đình chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với người khuyết tật, có chính sách ưu tiên với trẻ em, người cao tuổi là người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng Điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc,
sự quan tâm, giúp đỡ của toàn xã hội đối những người khuyết tật, vốn là những người gặp nhiều khó khăn trong xã hội.
Trang 5Bên cạnh đó, Luật Người khuyết tật đã quy định lộ trình cải tạo và nâng cấp tất cả các nhà chung cư, công trình công cộng để bảo đảm việc sử dụng thuận lợi cho NKT Phương tiện giao thông công cộng cũng phải được cải tạo cho NKT có thể tiếp cận được Đối với công nghệ thông tin và truyền thông, Luật Người khuyết tật khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thiết lập những chương trình triển khai lộ trình sử dụng ngôn ngữ tín hiệu, chữ nổi Braille, và những thiết bị kỹ thuật cho NKT Đối với những NKT nhất định, quyền bình đẳng
có nghĩa là họ có thể tiếp cận môi trường của họ.Quyền tiếp cận môi trường giúp cho NKT sống độc lập và tham gia đầy đủ vào môi trường xung quanh.Tính tiếp cận không chỉ là một vấn đề đối với NKT khi họ gặp khó khăn trong sử dụng các công trình nhà ở, đường đi và phương tiện giao thông mà còn là một vấn đề đối với những người khiếm khuyết thị lực và thính lực Để họ tiệm cận được xã hội, cần thiết phải có ngôn ngữ tín hiệu, chữ nổi Braille, băng casset, phông chữ cỡ to, và những công cụ phương tiện sử dụng công nghệ hỗ trợ Luật quy định cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trong việc phê duyệt thiết kế, tăng cường thanh tra, kiểm tra nghiệm thu các công trình xây mới, đưa vào sử dụng để bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật Quy định này còn tạo bước đột phá mới trong việc xóa bỏ rào cản về vật chất, xã hội đối với người khuyết tật, bảo đảm quyền bình đẳng của người khuyết tật trong tham gia các hoạt động xã hội để họ có điều kiện hòa nhập cộng đồng
3, Liên hệ thực tiễn.
3.1 Tình hình thực tế về người khuyết tật ở Việt Nam
Theo số liệu khảo sát năm 2005, cả nước có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6,34% dân số (trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật) Bao gồm 2,41% khuyết tật vận động, 16,83% thần kinh, 13,84% thị giác, 9,32% thính giác, 7,08% ngôn ngữ, 6,52% trí tuệ và
Trang 617% các dạng tật khác1 Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích
Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 35,8% do bẩm sinh, 32,34% do bệnh tật, 25,56% do hậu quả chiến tranh, 3,49% do tai nạn lao động và 2,81% do các nguyên nhân khác Dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Có tới 37% người khuyết tật đang sống trong hộ nghèo (cao gấp 3 lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); 24% ở nhà tạm, 34,4% từ 6 tuổi chưa biết chữ và 21,24% chưa tốt nghiệp tiểu học; 79,13% trong độ tuổi lao động không có khả năng tham gia lao động; 88,94% từ 16 tuổi chưa được đào tạo chuyên môn (trong đó chỉ có 2% đang học nghề); 79,13% sống dựa vào gia đình, người thân 2 Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hòa nhập cộng đồng
Vì vậy, đối với người khuyết tật, ngoài những quy định chung về quyền, nghĩa vụ như mọi công dân, cần thiết có hành lang pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích và các chính sách dành riêng cho họ
3.2 Thực trạng về thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp cận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lí đối với người khuyết tật hiện nay.
3.2.1 Một số thành tựu.
tàn tật
Trang 7Hiện nước ta đã có đầy đủ các hệ thống quy chuẩn quốc gia cho việc xây dựng các công trình nhà ở, công trình, đường và hè phố… đảm bảo cho NKT tiếp cận như QCXDVN 01 : 2002, TCXDVN 264 : 2002, TCXDVN 265 : 2002… Theo
đó các đơn vị quản lý phải dựa trên những quy chuẩn này để cải tạo các công trình
hạ tầng hiện có và xây dựng các công trình mới Thành phố Hà Nội cũng đã và đang triển khai thực hiện những quy định này của pháp luật trong quá trình cấp phép xây dựng các công trình nhà ở đảm bảo cho NKT tiếp cận
Ngày 8/3/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 280/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Đề án phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020 Theo Quyết định này, một trong các nội dung chủ yếu là việc phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt nhằm đáp ứng nhu cầu và tạo thuận lợi cho NKT khi sử dụng trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020
Vụ tài chính phối hợp với các cơ quan có liên quan để xuất chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn đối với doanh nghiệp đầu tư, cải tạo phương tiện giao thông bảo đảm QCKT về giao thông tiếp cận theo quy định tại khoản 3, Điều 14 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP
Cửa xe buýt được thiết kế để hỗ trợ người khuyết tật lên xuống xe dễ dàng
Trang 8Ở các Điều từ 11 đến 14 của Luật về miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ, thực hiện lộ trình cải tạo công trình công cộng, phương tiện giao thông tiếp cận đã được Nghị định cụ thể hóa từng chi tiết như: NKT nặng hoặc đặc biệt nặng được miễn giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông bằng xe buýt; được giảm giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông trên các tuyến vận tải nội địa bằng các phương tiện sau: Giảm tối thiểu 15% đối với máy bay; giảm tối thiểu 25% đối với tàu hỏa, tàu điện, tàu thủy, xe ô tô vận tải khách theo tuyến cố định NKT đặc biệt nặng được miễn giá vé, giá dịch vụ khi trực tiếp sử dụng dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí và
du lịch tại các cơ sở văn hóa, thể thao sau: Bảo tàng, di tích văn hóa - lịch sử, thư viện và triển lãm; nhà hát, rạp chiếu phim; các cơ sở thể thao khi diễn ra các hoạt động thể dục, thể thao trong nước; các cơ sở văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch khác… Nghị định cũng yêu cầu đơn vị tham gia vận tải công cộng có trách nhiệm
bố trí thiết bị, công cụ và nhân viên để trợ giúp hành khách là NKT lên, xuống phương tiện giao thông thuận tiện, phương án trợ giúp phải được thông báo tại các nhà ga, bến đón, trả khách ở những nơi dễ thấy Cũng theo Nghị định, đến năm
2015 có ít nhất 50% công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với NKT,
tỷ lệ này đến năm 2017 là 75% và đến ngày 1-1-2020 là 100%
Về công nghệ, thông tin và truyền thông đối với NKT: Theo ICTnews - Bộ TT&TT vừa ban hành Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT quy định việc áp dụng tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật (NKT) tiếp cận, sử dụng CNTT và truyền thông.Theo đó, các tiêu chuẩn hỗ trợ NKT tiếp cận, sử dụng CNTT và truyền thông được quy định áp dụng theo hai hình thức: bắt buộc áp dụng và khuyến nghị
áp dụng Cụ thể, bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán lẻ thiết bị viễn thông áp dụng tiêu chuẩn quy định sắp xếp ký tự số, ký tự chữ và ký hiệu trên máy điện thoại và các thiết bị khác; bắt buộc áp dụng tối thiểu phiên bản
Trang 91.0 tiêu chuẩn hướng dẫn khả năng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin của trang thông tin điện tử đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, các đơn vị sự nghiệp sử dụng ngân sách nhà nước để thiết kế và xây dựng trang thông tin điện tử Theo Thông tư, từ 2/11/2010 các đài truyền hình Trung ương có trách nhiệm áp dụng công nghệ hỗ trợ người khiếm thính tiếp cận chương trình thời sự chính trị phát hàng ngày tối thiểu trên một kênh Cụ thể: thành phố Hà Nội cũng đã khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân, khuyến khích các hoạt động nhằm hỗ trợ sự tiếp cận công nghệ thông tin của NKT Theo đó, thành phố tuân thủ những chính sách mà Nhà nước đưa ra như: miễn, giảm thuế, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất, cung cấp dịch vụ, phương tiện hỗ trợ NKT tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông…, và ihiện nay trên địa bàn thành phố đã có rất nhiều trung tâm công nghệ thông tin và truyền
thông đào tạo miễn phí cho NKT có nhu cầu học công nghệ thông tin Ví dụ: Dự
án “Đào tạo công nghệ thông tin cho NKT”- dự án hợp tác giữa Trường Trung cấp
kỹ thuật tin học Hà Nội (ESTIH) với Tổ chức CRS do Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Tổ chức CRS đồng tài trợ, theo đó, học viên tham gia khóa học được miễn phí hoàn toàn kinh phí đào tạo, những học viên ở xa sẽ được ở nội trú miễn phí và tùy theo hoàn cảnh gia đình có thể được xét miễn một phần sinh hoạt phí theo chương trình phối hợp năm 2012
Về nhu cầu tiếp cận và tìm kiếm việc làm: Cuộc điều tra dân số năm 2009 tại Việt Nam cho thấy 7,8% dân số (tương đương 6,1 triệu người Việt Nam) là người khuyết tật Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ước tính, 69% người khuyết tật đang ở độ tuổi lao động (từ 16 đến 55 hoặc 60 tuổi) và chỉ có 30% trong số này
có việc làm, thu nhập ổn định Tỉ lệ việc làm thấp gây chi phí đáng kể cho gia đình của họ và buộc chính phủ phải có các chính sách hỗ trợ Với con số khá khiêm tốn
ở trên thì ta có thể thấy việc làm đối với người khuyết tật là rất khó khăn, cho nên người khuyết tật rất cần những cơ hội việc làm từ cộng đồng để có thể tìm thấy ý
Trang 10nghĩa cuộc sống, tự tin hòa nhập với xã hội bằng chính khả năng và sức lao động của mình
Ví dụ: Đồng hành cùng với người khuyết tật thì một trang điện tử nổi tiếng
về tìm việc đó là Tìm Việc Nhanh đã chính thức tuyển dụng 12 nhân viên là người khuyết tật tại Nhà May Mắn Maison Chance cho các vị trí quản trị website, diễn đàn Sau hơn một năm vừa được đào tạo, vừa làm việc, các nhân viên khuyết tật này không ngừng cố gắng và chứng tỏ được sự hiệu quả của mình trong công việc
Bên cạnh đó, tháng 11 - 2010, Tìm Việc Nhanh chính thức công bố dự án website việc làm người khuyết tật tại địa chỉ www.vieclamnguoikhuyettat.edu.vn Đây là diễn đàn do chính người khuyết tật quản trị, cung cấp những thông tin về việc làm dành cho người khuyết tật, chia sẽ những vấn đề về tâm lý, kinh nghiệm
và giúp nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống Đây thật sự là một cộng đồng tích cực dành cho người khuyết tật
Tháng 3 - 2011, Tìm Việc Nhanh chính thức mở chuyên mục đăng tin Việc làm người khuyết tật trên website tìm việc làm nổi tiếng www.timviecnhanh.com3
Nhận xét chung về đảm bảo quyền dành cho người khuyết tật là khá sát với thực tế hiện nay Các chính sách của Nhà nước cùng với sự quan tâm của cả xã hội đối với các đối tượng này đã được nâng cao một cách rõ rệt thông qua các chính sách, và các hành động thiết thực của các tổ chức, cá nhân như thành lập ra các quỹ dành cho NKT, thành lập các tổ chức giúp đỡ NKT tạo công ăn việc làm…góp phần tạo một xã hội công bằng không phân biệt kỳ thị với người khuyết tật, đồng thời giúp cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng một cách tốt hơn
3.2.2 Một số hạn chế.
Hiện tại hầu hết các công trình công cộng trên địa bàn cả nước điển hình nhất là địa phận Hà Nội: bệnh viện, trường học, chung cư, công viên, siêu thị, nhà chờ xe buýt… có rất ít những hạng mục hỗ trợ lối đi, cũng như các biển chỉ dẫn