Một số vấn đề về lý luận a, Khái niệm về biện pháp ngăn chặn tạm giam Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với b
Trang 1I GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính chất hà khắc nhất Việc sử dụng biện pháp tạm giam đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các cơ quan tiến hành tố tụng làm việc một cách có hiệu quả đồng thời biện pháp ngăn chặn tạm giam này để xét xử, điều tra cũng như truy tố một cách có hiệu quả, đảm bảo
sự công bằng cho mọi công dân Việt Nam
Vì vậy, để hiểu thêm về việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam em đã chọn đề tài
” tạm giam trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn này” Qua tìm hiểu em mong sẽ hiểu rõ như thế nào là tạm giam?
được áp dụng ra sao trong thực tiễn và quy định của pháp luật ra sao về vấn để này
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Một số vấn đề về lý luận
a, Khái niệm về biện pháp ngăn chặn tạm giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình
sự Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách li với xã hội trong một thời gian nhất định,
bị hạn chế một số quyền công dân.1
b, mục đích của biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự
Tạm giam được áp dụng cho các bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự vì thế mục đích chung thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án
việc áp dụng biện pháp tạm giam còn có mục đích riêng nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng
c, Căn cứ của biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bao gồm:
1 Giáo trình luật tố tụng hình sự trường đại học luật Hà Nội
Trang 2Căn cứ thứ nhất: khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có thể bỏ trốn tiêu hủy, làm giả, thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, … gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành
tố tụng trong việc xác định và làm rõ sự thật khách quan của vụ án
Căn cứ thứ hai: khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được thể
hiện qua các yếu tố phản án về nhân thân của các bị can, bị cáo Họ có thể là những phần tử xấu, tái phạm, tái nguy hiểm, là những tên tội phạm có tính chất chuyên nghiệp, những tên côn
đồ hung hăng coi thường pháp luật Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội còn thể hiện qua hành vi của bị can, bị cáo như đe dọa người làm chứng, người bị hạn và sự đe dọa có khả năng trở thành hiện thực
Căn cứ thứ ba : “để đảm bảo thi hành án” Công tác thi hành án hình sự là vấn đề vô cùng
quan trọng Các bản án, quyết định của tòa án khi đã có hiệu lực pháp luật cần phải được đưa
ra thi hành, có như vậy mới nâng cao được tính hiệu quả của pháp luật trong đời sống thực tế Khi cần bảo đảm thi hành án, tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tùy theo nhân thân của người bị kết án, tòa án có thể áp dụng BPNC thích hợp trong đó có BPNC tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án
Trong số các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tại điều 79 BLTTHS trên “căn cứ để kịp thời ngăn chặn tội phạm” không thể là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, vì đối
tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là bị cáo, bị can, hành vi phạm tội của họ là hành vi đã được thực hiện trong quá khứ Căn cứ này, chỉ áp dụng cho các trường hợp bắt người phạm tội quả tang theo điểm a, khoản 1, điều 181 BLTTHS nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, không để tội phạm xảy ra hoặc hoàn thành hay không để người phạm tội kết thúc hành vi phạm tội của mình, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội
d, đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Theo quy định tại khoản 1 điều 88 BLTTHS năm 2003 đối tượng có thể bị áp dụng BPNC tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo Tuy nhiên không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ áp dụng đối với trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất : bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng
mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội ( 3, điểm b, khoản 1, điều
Trang 388) Trong trường hợp cần thiết, CQTHTT có thể áp dụng BPNC khác như cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lĩnh
Trường hợp thứ hai : bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất
nghiêm trọng
Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này thì những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam có thể ra lệnh tam giam ngay mà không cần có thêm các căn cứ khác Tuy nhiên, trong trường hợp này phải thấy rằng tội phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện đó theo quy định của BLHS năm 1999 có khung hình phạt cao nhất chứ không phải mức hình phạt mà tòa án tuyên đối với họ Do đó, khi áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này một cách có căn cứ, những người có thẩm quyền của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, khi ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự hoặc khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phải xem xét cụ thể tội phạm mà
bị can, bị cáo thực hiện, mức độ thiệt hại đến đâu? Về tội phạm nào? Khung hình phạt nào?
Từ đó làm cơ sở để áp dụng BPNC tạm giam một cách có căn cứ và đúng pháp luật.2
e, Những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam
Thể hiện tính nhân đạo XHCN, BLTTHS năm 2003 quy định đối tượng không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bào gồm:
Bị can, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi và có nơi cư trú rõ ràng.
Bị can, bị cáo là những người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng
Ở nước ta hiện nay, điều kiện sinh hoạt trong các trại giam không thể đảm bảo đầy đủ nhu cầu thiết yếu của phụ nữ mang thai, đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng hơn nữa trong những trường hợp này bị can, bị cáo đã có nơi cư trú
rõ ràng, nếu họ không thuộc các trường hợp đặc biệt kể trên các QTHTT có thể áp dụng các BPNC khác để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của CQTHTT Tuy nhiên, đối tượng này vẫn có thể áp dụng BPNC tạm giam trong những trường hợp đặc biệt là:
Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc bị bắt theo lệnh truy nã
Bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử
Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm đến an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng không tạm giam đối với họ sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia ( điểm 3 khoản 2 điều 88).
2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam – Đàm Thị Trang
Trang 4Ngoài ra nếu có đầy đủ căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam như người đã thành niên chỉ
có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong trường hợp:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: nếu có đủ căn cứ tạm giam, chỉ áp dụng BPNC này thì họ phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: nếu có đủ căn cứ tạm giam chỉ áp dụng BPNC này khi họ phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng ( khoản 3 điều 103)
Như vậy, việc quy định của pháp luật như trên về độ tuổi là hợp lý, căn cứ vào thực tiễn về tâm sinh lý con người
f, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
Căn cứ Tại khoản 3 điều 88 BLTTHS năm 2003 và khoản khoản 1 điều 80 BLTTHS năm
2003, những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
Viện trưởng, phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp
Chánh án, phó chánh án tòa án nhân nhân và tòa án quân sự các cấp
Thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao, hội đồng xét xử.
Thủ trưởng phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp Trong trường hợp này, lệnh tạm giam phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Tuy nhiên, trong mỗi gia đoạn tố tụng khác nhau thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cũng khác nhau:
Trong giai đoạn điều tra: việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPNC tạm giam sẽ do chủ thể
được quy định tại điểm d khoản 1, điều 80 BLTTHS năm 2003 quyết định Lệnh tạm giam của những người này phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, nếu không
có sự phê chuẩn đó thì trong mọi trường hợp lệnh tạm giam đó không có hiệu lực pháp luật
Trong giai đoạn truy tố: thẩm quyền quyết định việc áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp
tạm giam sẽ do các chủ thể quy định tại điểm a, khoản 1 điều 80 BLTTHS quyết định Bởi “ sau khi nhận hồ sơ vụ án viện kiểm sát có quyền áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Thời hạn tam giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 điều này ( 3, khoản 2, điều 166)
Trong giai đoạn xét xử: thẩm quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hủy bỏ BPNC tạm
giam sẽ do chủ thể quy định tại điểm b, c, khoản 1 phân công chủ tọa phiên tòa có quyền
Trang 5quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn do chánh án hoặc phó chánh an tòa án quyết định ( khoản 3 điều 177)
Ngoài ra, theo quy định tại điều 228 BLTTHS thì hội đồng xét xử có quyền quyết định
việc tạm giam đối với bị cáo theo thủ tục luật định
Như vậy, thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam được quy định cho nhiều cơ quan với nhiều chủ thể khác nhau ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau Viện kiểm sát với chức năng là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ kiểm tra, giám sát hoạt động này, đặc biệt đối với lệnh tạm giam của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành
g, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giam.
Theo quy định của BLTTHS việc tam giam bị can, bị cáo phải có lệnh tạm giam Lệnh này phải do những người có thẩm quyền ký Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên chức vụ của người ra lệnh, họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam, lý do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản
Tạm giam không chỉ hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do và danh dự của công dân còn ảnh hưởng đến cá nhân của họ Chính vì vậy sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và chính quyền
xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú, làm việc biết ( điểm
3, khoản 4 điều 88) Quy định này nhằm mục đích áp dụng BPNC tạm giam đúng đối tượng
tránh hiện tượng bắt giam nhầm dẫn đến oan sai
Đồng thời khi tiến hành tạm giam một người cần phải đảm bảo các thủ tục liên quan khác như:
khi người bị tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người bị tàn tật, già yếu không có người chăm sóc thì cơ quan ra lện tạm giam những người đó cho người thân thích chăm sóc Nếu người bị tạm giam không có người thân thích thì cơ quan
ra lệnh tạm giam giap những người đó cho chính quyền sở tại chăm nom
Nếu người bị tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra lện tạm giam phải áp dụng những biện pháp trông nom bảo quản thích đáng
Cơ quan ra lện tạm giam phải thông báo cho người bị tạm giam biết những biện pháp đã
được áp dụng ( khoản 3 điều 9)
h, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Trang 6Trong BLTTHS năm 2003 vấn đề thời hạn tạm giam không được quy định tập trung ở một điều luật cụ thể mà quy định ở nhiều điều luật theo từng giai đoạn tố tụng khác nhau
Thời hạn tạm giam để điều tra: trong giai đoạn điều tra, điều 120 BLTTHS năm 2003 quy
định thời hạn tạm giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá
ba tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét thấy cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi, hủy bỏ BPNC tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam Theo quy định của BLTTHS thì việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:
đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng
đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng, lần thứ hai không quá một tháng.
Đối với phạm tội rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tam giam hai lần lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng.
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn giam ba lần, mỗi lần
không quá bốn tháng ( điểm 3 khoản 2 điều 120).
Thời hạn tạm giam để truy tố: trong giai đoạn truy tố “ thời hạn tạm giam để truy tố
không được quá thời hạn “ (quy định tại khoản 1 điều 166) Trong thời hạn hai mươi ngày đối
với tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, viện kiểm sát phải ra một quyết định sau: quyết định truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng, quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Trường hợp cần thiết, viện trưởng viện kiểm sat có thể gia hạn tạm giam nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Thời han tạm giam để xét xử sơ thẩm: điều 177 BLTTHS quy định : “ thời hạn tạm giam
để chuẩn bị xét xử sơ thẩm không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điều 176 của bộ luật này” Căn cứ tại điều 176 BLTTHS thì thời hạn chuẩn bị xét xử là ba mươi ngày
đối với tội ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội nghiêm trọng, hai tháng đối với tội rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án Đối với những vụ án phức tạp chánh tòa án có thể quyết định gia hạn nhưng không quá mười lăm
Trang 7ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng không quá ba mươi ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì htowif hạn tạm giam để mở phiên tòa là từ mười lăm ngày đến ba mươi ngày Ngoài ra, đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu cần thiết tòa án có thể ra lệnh tạm giam cho đến hệt khi kết thúc phiên tòa
Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm: BLTTHS quy định sau khi nhận hồ sơ vụ án, tòa
án phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPNC Việc áp dụng hoặc thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam do chánh án, phó chánh án TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu, thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh tò tòa án phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao quyết định Thời hạn tạm giam trong trường hợp này không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm tại điều 242 BLTTHS năm 2003 Theo quy đinh tại điều 242 BLTTHS tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn sáu mươi ngày, tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn chín mươi ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ
vụ án Như vậy, trong thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm ở tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa
án nhân dân cấp quân khu là sáu mươi ngày, thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm ở tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân cấp trung ương là chín mươi ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án
Thời hạn tạm giam để đảm bảo thi hành án: sau khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc
thẩm hội đồng xét xử có thể quyết định việc tam giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án Đối với giai đoạn xét xử sơ thẩm, theo quy định tại điều 228 BLTTHS thì với vị cáo đang tạm giam mà bị phạt tù nhưng ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì hội đống xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án Trong trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt tù thì họ chỉ bị bắt giam để chấp hành hình phạt khi bản án
có hiệu lực pháp luật Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam ngay bị cáo nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tôi, Thời hạn tạm giam bị cáo trong trường hợp này là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày tuyên án Tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định điều 243 BLTTHS nếu bị cáo đang bị tạm giam, bị xử phạt tù mà đến hết ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 điều 127 của bộ luật này Thời hạn tạm giam là bốn mươi lăm ngày kể từ ngày tuyên án
i, một số quy định khác của tạm giam.
Trang 8Thứ nhất, về chế độ tạm giam: chưa có bản án kết tội của tòa án thì người bị tạm giam vẫn
được coi là người chưa có tội Vì vậy thời gian bị tạm giam họ không bị đối xử như một người
có tội Nhà tạm giam chỉ tiếp nhận những người đã có lệnh tạm giam hoặc lệnh truy nã Người
bị tạm giam không được giam chung một buồng Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng tài sản danh dự nhân phẩm của người bị tạm giam Giám thị trạm giam thông báo bằng văn bản cho cơ quan thụ lý vụ án có người bị tạm giam biết việc hết hạn tạm giam lần thứ nhất trước năm ngày, việc tạm giam lần thứ hai trước mười ngày và yêu cầu cơ quan thụ lý đến nhận hoặc giải quyết các trường hợp hết thời hạn tạm giam
Việc tạm giam được bố trí theo khu vực phân loại: phụ nữ, người chưa thành niên, người nước ngoài, người có bệnh truyền nhiễm… không được giam chung buồng những người cùng một vụ án điều tra, truy tố, xét xử Bình quân diện tích tối thiểu nơi giam đối với người bị giam là 2m2/ người
Thứ hai, bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giam tại
điều 260
Thứ ba, về chế độ chăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam quy
định cụ thể tại điều 90
Thứ tư, pháp luật cũng quy định việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời hạn chấp hành
hình phạt tù Một ngày tạm giam bằng một ngày tù ( điều 33)
2 Thực tiễn thi hành biện pháp tạm giam
a, Những điểm tích cực trong việc thi hành biện pháp tạm giam
Trong những năm qua, tạm giam đã được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách có hiệu quả
Đa số việc tạm giam có căn cứ, đúng pháp luật, tình trạng tạm giam không có lệnh, quá hạn tạm giam từng bước được khắc phục
Những trường hợp không cần thiết phải tạm giam thì cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như: bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Việc tiếp nhận giải quyết cho ra khỏi trại tạm giam phân trại tạm giam nhìn chung thực hiện đúng theo quy định của pháp luật
Các chế độ đối với người tạm giam phạm nhân được giám thị trại giam thực hiện theo đúng quy chế giam giữ, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo có đủ các điều kiện được giám thị trại giam đề nghị cho tạm đình chỉ thi hành án phát tù theo đúng quy định pháp luật
Trang 9b những hạn chế vướng mắc:
Về đường lối áp dụng biện pháp tạm giam có nơi, có vụ chưa chính xác chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật, Những vi phạm về thời hạn tạm giam, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam, thẩm quyền ra lệnh tạm giam, chế độ tạm giam quản lý giam giữ… còn xảy ra nhiều trường hợp không cần thiết phải tạm giam nhưng do nhận thức chưa đầy đủ về tạm giam nên vẫn áp dụng tạm giam Chủ thể có thẩm quyền tạm giam nhiều khi chưa phân biệt được tội phạm với hành vi vi phạm pháp luật nhiều khi dẫn đến tạm giam oan, sai
Về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam và thực tiễn áp dụng có thể thấy còn nhiều vướng mắc, có sự mây thuẫn chồng chéo giữa căn cứ chung và căn cứ riêng, có những quy định còn gây hiểu nhầm giữa căn cứ áp dụng với mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tam giam, cụ thể tại điểm a, khoản 1, điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định: “ Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng” Nhà làm luật cho rằng với quy định này người phạm tội sẽ cân nhắc mối tương quan về lợi ích giữa việc chấp nhận bị truy cứu trách nhiệm hình sự với việc bỏ trốn thì việc bỏ trốn luôn mang lợi ích cao hơn nên
đã lấy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và khả năng gánh chịu hình phạt tương ứng để làm căn cứ áp dụng BPNC tạm giam Có thể hiểu đây không phải là căn cứ đầy đủ để áp dụng BPNC tạm giam Khả năng gánh chịu trách nhiệm hình sự với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội có thể là một trong những vấn đề người phạm tội cân nhắc khi quyết định bỏ trốn hay không nhưng không thể suy diễn rằng mọi bị can, bị cáo đều lựa chọn biện pháp bỏ trốn khi biết rằng mình có thể gánh chịu mức hình phạt cao Không ít nhữn bị can, bị cáo khi phát hiện mình phạm tội khai báo thành khẩn mong được hưởng chính sách khoan hồng…nhiều vụ án ban đầu bị can, bị cáo bị truy tố, xét xử với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng sau đó lại được thay đổi nhẹ hơn Trong trường hợp này, việc áp dụng BPNC tạm giam với họ không có đầy đủ căn cứ? tình chất và mức độ nguy hiểm của hành vi cao hay thấp, mức hình phạt mà bị can, bị cáo ó thể phải chịu là vấn đề mà các CQTHTT phải làm rõ trong các giai đoạn tố tụng Vì vậy, nó không thể là căn cứ để áp dụng BPNC tạm giam Như thế, có thể hiểu căn cuwsaps dụng BPNC tamjg iam là văn cứ có thật dự báo khả năng thực tế có thể xảy ra việc bỏ trốn chức không thể là căn cứ mang tính suy diễn từ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Việc quy định suy diễn như thế trọng lập pháp tạo ra cơ sở cho việc xâm phạm quyền công dân Mặt khác cách dùng từ cũng chưa chuẩn xác, bởi khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền thì chưa thể khẳng định bị can, bị cáo phạm vào loại tội nào
Trang 10Ngoài ra, trông điểm b, khoản 1 và khoản 2 điều 88 BLTTHS có sự mây thuẫn Theo chính sách hình sự của đảng và nhà nước thì các đối tượng này được hưởng chính sách nhân đạo nên căn cứ áp dụng BPNC tạm giam với họ phỉ được quy định ở mức độ hạn chế hơn hoặc trong trường hợp không thể áp dụng BPNC khác Thế nhưng, thì căn cứ áp dụng BPNC tạm giam đối với các đối tượng khác nhau không có gì khác nhau Bởi căn cứ “ có thể bỏ trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” được quy định tại điểm b, khoản 1 cùng một loại với căn cứ khác nhau như: “ bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã” hay “ bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố
ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử”, có khác là một căn cứ khi chỉ khả năng có thể hiện thực hóa với một căn cứ là sự hiện thực hóa khả năng đó Thế nhưng, nếu ở điểm b, khoản 1 còn phải thỏa mãn căn cứ khác là “ bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm” thì ở điểm a, biểm b khoản 2 nị can, bị cáo phạm bất cứ tội phạm nào cũng có thể bị tạm giam Nghĩa là căn cứ áp dụng BPNC tạm giam của một số đối tượng đáng ra được hưởng chính sách đặc biệt thì lại mở rộng hơn so với căn cứ áp dụng BPNC tạm giam của các đối tượng bình thường 3
Nhiều trường hợp không căn cứ đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền tự do công dân sai phạm về đối tượng, Ví dụ như tạm giam những người chưa thành niên phạm tội
ít nghiêm trọng, tạm giam người không có tội Hay điển hình ở Nghệ An Hơn 2 năm tạm giam
một ông già gần 70 tuổi nghi án hiếp dâm Bị cáo Nguyễn Châu Thợi bị khởi tố theo tội danh
hiếp dâm trẻ em – tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đây là trường hợp mà bị cáo có thể bị
áp dụng biện pháp tạm giam bị cáo Thợi là một người đã già yếu, ốm đau không thuộc các trường hợp buộc phải áp dụng biện pháp tạm giam nêu trên nhưng cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị cáo Điều đáng nói là cùng với quá trình điều tra kéo dài, quá trình hoãn xét xử nhiều lần khiến thời gian bị cáo phải ngồi trong trại tạm giam tới hơn 2 năm 4
Tạm giam sai thời hạn với quy định của pháp luật
3 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam – Đàm Thị Trang
4
http://sinhvienluat.vn/diendan/showthread.php?25164-H%C6%A1n-2-n%C4%83m-t%E1%BA%A1m-giam-m%E1%BB%99t-%C3%B4ng-gi%C3%A0-g%E1%BA%A7n-70-tu%E1%BB%95i-nghi-%C3%A1n-hi%E1%BA%BFp-d%C3%A2m&p=251424