1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng pháp luật Quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam

17 1,6K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 248 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Quản lý thuế QLT có thể hiểu theo hai nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng: Quản lý thuế là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thốn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

A LỜI NÓI ĐẦU……… 1

B NỘI DUNG……… 1

I: Những vấn đề chung về Quản lý thuế và pháp luật Quản lý thuế………1

1 Khái quát chung về Quản lý thuế……….1

2 Khái quát chung về pháp luật Quản lý thuế………1

2.1 Khái niệm………1

2.2 Sự hình thành và phát triển của Quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam………1

II: Thực trạng pháp luật Quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam……….2

1 Thực trạng pháp luật Quản lý thuế……… 2

1.1 Hệ thống pháp luật Quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam……….2

1.2 Nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành luật……5

1.3 Những vướng mắc còn tồn tại trong pháp Luật Quản lý thuế……….8

2 Thực trạng thi hành pháp luật Quản lý thuế………10

2.1 Hiệu quả đạt được trong công tác thi hành pháp luật thuế nói chung và pháp Luật Quản lý thuế nói riêng……… 10

2.2 Những vướng mắc còn tồn tại trong công tác thi hành pháp luật thuế nói chung và pháp luật Quản lý thuế nói riêng……… 11

3 Nguyên nhân của thực trạng………12

III: Hoàn thiện pháp luật Quản lý thuế của Việt Nam……… 13

1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Quản lý thuế………13

1.1 Tiếp tục hoàn thiện các văn bản luật thuế nói chung và các văn bản Luật Quản lý thuế nói riêng……….…13

1.2 Nhà nước cần quy định và phát triển mạnh các hệ thống thanh toán qua ngân hàng 13

1.3 Nhà nước cần có biện pháp quản lý hóa đơn chứng từ hiệu quả………14

1.4 Chuyển đổi về cơ cấu tổ chức và quản lý theo mức độ tuân thủ……… 14

2 Giải pháp đảm bảo cho quá trình thực thi pháp luật Quản lý thuế nói riêng và pháp luật thuế nói chung……….14

2.1 Nâng cao vai trò của cán bộ Quản lý thuế……….14

2.2 Nâng cao sự tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế……… 14

2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế………15

2.4 Tăng cường cở sở vật chất, máy móc, trang thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho công tác Quản lý thuế………15

C KẾT LUẬN………15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

A.LỜI NÓI ĐẦU

Thuế có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia đó Thuế là công cụ hiệu quả để Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết nhiều vấn

đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vào NSNN nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước và xã hội Hoạt động quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việc quản lý nền kinh tế - tài chính của đất nước Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh

tế phát triển vượt bậc nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục Vì vậy, cần có một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thích hợp để góp phần đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ cao

B NỘI DUNG I: Những vấn đề chung về Quản lý thuế và pháp luật Quản lý thuế.

1 Khái quát chung về Quản lý thuế.

Khái niệm Quản lý thuế (QLT) có thể hiểu theo hai nghĩa như sau:

Theo nghĩa rộng: Quản lý thuế là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng

chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế…

Theo nghĩa hẹp: Quản lý thuế là quản lý hành chính về thuế, là việc tổ chức, quản lý, điều

hành quá trình thu nộp thuế, bao gồm các hoạt động nghiệp vụ mang tính chất hành chính trong lĩnh vực thuế, là hoạt động chấp hành theo kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi các

cơ quan Quản lý thuế Luật Quản lý thuế năm 2006 không đưa ra khái niệm cụ thể về quản lý thuế

mà chỉ nêu ra các nội dung trong Quản lý thuế tại Điều 3

Đặc điểm của Quản lý thuế:

Thứ nhất: QLT là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đảm bảo lợi ích của cả hai

bên: Nhà nước và người nộp thuế Đặc điểm này đòi hỏi cơ quan quản lý thuế phải có những phương thức quản lý thuế linh hoạt, không thể tùy tiện đề ra các quy định có tính áp đặt, độc đoán

Thứ hai: Quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật; theo pháp luật và các biện pháp nghiệp vụ,

biện pháp hành chính khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu, là chuẩn mực buộc mọi người phải tuân theo, dù là người thu thuế hay người nộp thuế

Thứ ba: Hiệu quả của công tác quản lý thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: ý thức chấp hành

pháp luật thuế của người dân, trình độ năng lực của công chức quản lý thuế, cơ sở vật chất của

ngành thuế, hệ thống thể chế quản lý kinh tế - xã hội (quản lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán…) Đặc điểm này đặt ra yêu cầu: Mọi cuộc cải cách hệ thống thuế phải được tiến

hành đồng bộ, có chiến lược tổng quát, tránh lối cải cách khập khiễng, chắp vá

2 Khái quát chung về pháp luật Quản lý thuế.

2.1 Khái niệm.

Pháp luật Quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước (quan hệ quản lý trong việc thu nộp thuế cho NSNN của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với các đối tượng nộp thuế và các đối tượng khác có liên quan)

2.2 Sự hình thành và phát triển của Quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam.

a Giai đoạn trước 2006.

Trong nhiều năm, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mở cửa hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Các luật thuế đã được Quốc hội ban hành tương đối đồng bộ và có phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động kinh tế - xã hội Đồng thời, trong từng luật thuế đã quy định nội dung quản lý thuế mang tính chất khung, trên cơ sở Chính phủ, Bộ Tài chính đã có những quy định cụ thể để hướng dẫn, tổ chức công tác quản lý thuế đảm bảo việc thực thi chính sách thuế theo quy định của pháp luật Mặt khác, trong quá trình thực thi các luật thuế, công tác cải cách hành chính thuế luôn được xác định là yếu tố quan trọng và từng bước được hoàn thiện Các thủ tục hành chính thuế như:

Đăng ký thuế, nộp thuế, miễn giảm thuế… đã được quan tâm sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn

giản, rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, từng bước chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp thuế, cơ quan thuế chuyển từ quản lý thuế tiền kiểm sang hình thức hậu kiểm và cung cấp dịch vụ công nhằm giúp người nộp thuế thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật…Trình độ công chức thuế ngày càng được nâng lên theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, nhờ đó mà số thu từ thuế và phí vào NSNN luôn vượt dự toán Nhà nước giao hàng năm Song bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác quản lý thuế, trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế, công tác quản lý thuế còn bộc lộ một số tồn tại như sau:

+ Nước ta chưa có một văn bản luật thống nhất về quản lý thuế, các quy định về quản lý thuế nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như các văn bản pháp luật ở từng sắc thuế có

Trang 3

những quy định về quản lý thuế riêng như: quy định về thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế, thời hạn nộp thuế, thủ tục về quyết toán thuế, thời hạn nộp quyết toán thuế… Ngoài ra, còn có các văn

bản pháp luật về kế toán, về hóa đơn chứng từ, các văn bản về khiếu nại, tố cáo, các văn bản về thanh tra, kiểm tra, các văn bản về xử phạt hành chính… một hệ thống các văn bản pháp luật như vậy sẽ có nhiều quy định mâu thuẫn nhau, gây khó khăn cho việc thực hiện

Giai đoạn này có nhiều thủ tục quản lý thuế được ban hành chủ yếu trong các văn bản dưới

luật (nghị định, thông tư) nên tính pháp lý không cao Pháp luật Quản lý thuế còn chưa đảm bảo

thống nhất, còn chắp vá, tản mạn, chưa mang tính hệ thống Các nội dung về quản lý thuế được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với từng sắc thuế nên không đảm bảo tính thống nhất Mỗi luật thuế, pháp lệnh thuế đều có các quy định riêng về quản lý thuế cho sắc thuế

đó Hồ sơ, thủ tục khai thuế, nộp thuế và đặc biệt là các chế tài xử phạt đối với mỗi sắc thuế cũng khác nhau làm cho việc áp dụng gặp nhiều khó khăn Pháp luật Quản lý thuế còn nhiều quy định chưa rõ ràng, thiếu tính khả thi, như chưa có quy định cụ thể việc đánh giá, phân loại đối tượng cần thanh tra, kiểm tra, chưa quy định thẩm quyền điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm về thuế cho cơ quan thuế và cơ quan Hải quan…

Tóm lại, trước năm 2006, pháp luật Quản lý thuế ở nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu sót như:

Thứ nhất: các quy định trùng lặp, chồng chéo nhau, thậm chí nhiều quy định mâu thuẫn nhau

gây khó khăn cho quá trình thực hiện dẫn đến hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật thuế

Thứ hai: các quy định về quản lý thuế còn phân tán tại nhiều văn bản pháp luật, có nội dung

chưa thống nhất

Thứ ba: quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp luật của các chủ thể tham gia quản lý thuế

chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng, ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác quản lý thuế, công tác phòng chống, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế, chống thất thu thuế còn hạn chế

b Giai đoạn từ năm 2006 đến nay.

Thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế được Bộ chính trị phê duyệt, cùng với việc hoàn thiện và xây dựng mới các luật về chính sách thuế Luật Quản lý thuế năm 2006 đã được xây dựng nhằm để khắc phục các hạn chế trong công tác quản lý thuế đã nêu ở trên, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong hội nhập kinh tế quốc tế Luật đã tạo khung pháp lý chung để thực thi tất cả các luật, pháp lệnh về thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN do các cơ quan quản

lý thuế thu Sự ra đời của Luật Quản lý thuế đã khắc phục được tình trạng tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế Từ đó, tạo nền tảng cho việc áp dụng một cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại theo hướng tự tính, tự khai, tự nộp thuế Đây là một cơ chế đề cao quyền và trách nhiệm của các chủ thể chấp hành pháp luật thuế, người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và tổ chức, cá nhân liên quan Các quy định của luật tạo điều kiện cho việc cải cách thủ tục hành chính thuế, tăng cường công cụ quản lý, nâng cao hiệu lực của hệ thống pháp luật thuế

Luật quản lý thuế được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế nộp đúng, đủ kịp thời tiên thuế vào NSNN

và cơ quan quản lý thuế thu đúng, thu đủ tiền thuế, quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý thuế Đồng thời luật được ban hành nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, tăng cường vai trò giám sát của Nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc thực hiện quản lý thuế

Luật Quản lý thuế ra đời có ý nghĩa rất to lớn:

Thứ nhất: kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý thuế để quy định thống

nhất trong Luật quản lý thuế chung, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu cải cách quản lý thuế trong những năm tới

Thứ hai: tiếp cận với những kinh nghiệm quản lý thuế của các nước tiên tiến, áp dụng phù

hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam

Thứ ba: tạo hành lang pháp lý cho đổi mới phương thức quản lý thuế từ cơ chế chuyên quản,

người nộp thuế thụ động trong thực hiện nghĩa vụ thuế sang cơ chế người nộp thuế chủ động trong việc xác định đúng số thuế phải nộp, thực hiện nộp thuế đúng thời hạn cũng như xác định các ưu đãi thuế, quyền lợi về thuế của mình Cơ quan quản lý thuế tập trung vào thực hiện tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn luật thuế, kiểm tra, thanh tra bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế

II: Thực trạng pháp luật Quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam.

1 Thực trạng pháp luật Quản lý thuế.

1.1 Hệ thống pháp luật Quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam.

Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, hệ thống các luật thuế đã được ban hành tương đối đồng bộ và có phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước, công tác quản lý thuế đã được củng cố và tăng cường, kiện toàn cả về tổ chức bộ máy thuế đã hình thành một hệ thống tổ chức thống nhất trong cả nước, từng bước được củng cố và tăng cường, kiện toàn cả về tổ chức bộ máy thuế và quy trình nghiệp vụ quản lý thuế, xong tính

Trang 4

pháp lý của các quy định về quản lý thuế chưa cao, dẫn đến hạn chế trong việc tuân thủ pháp luật thuế của các chủ thể tham gia quản lý Nhằm khắc phục các hạn chế trong công tác quản lý thuế, đồng thời đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật quản lý thuế ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2007

Luật quy định việc quản lý đối với các loại thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN do các

cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật Như vậy, pháp luật Quản lý thuế không chỉ điều chỉnh các quan hệ quản lý thuế của cơ quan quản lý thuế mà còn điều chỉnh các quan hệ quản lý thuế của cơ quan Hải quan và các khoản thu do cơ quan Hải quan thực hiện

Luật áp dụng đối với người nộp thuế được quy định tại các luật thuế, phí và lệ phí, các đại lý thuế; cơ quan quản lý thuế, công chức thuế, công chức Hải quan, cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện các luật thuế

Luật đã phản ánh, ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện các nội dung của QLT và đặc biệt có thêm

nhiều nội dung mà trước đây các luật về chính sách thuế chưa có điều kiện quy định như: Nguyên tắc quản lý thuế; trách nhiệm của hợp đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn; trách nhiệm của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án; trách nhiệm của mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị

- xã hội - nghề nghiệp; trách nhiệm của cơ quan thông tin báo chí trong việc quản lý thuế; hợp tác quốc tế về quản lý thuế; xây dựng lực lượng Quản lý thuế; hiện đại hóa công tác Quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; thông tin về người nộp thuế, gia hạn nộp thuế; xóa

nợ thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế… hoặc các vấn đề về quản lý thuế có quy

định tại các luật về chính sách thuế nhưng chưa chi tiết cụ thể hoặc được quy định ở các nghị định,

thông tư, như: Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt, xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế, cưỡng chế thuế…

Để hỗ trợ Luật Quản lý thuế năm 2006 thực hiện một cách hiệu quả; nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật đã được ban hành như:

Nghị định 106/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 85/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế và Nghị định 100/2008/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân Trong nghị định

này quy định về nội dung liên quan đến quản lý thuế như: khai thuế, hồ sơ khai thuế, thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế, thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt, xử lý số tiền thuế nộp thừa, nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khởi kiện, gia hạn nộp thuế, ấn định số tiền thuế phải nộp, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế, xây dựng và quản lý

hệ thống thông tin về người nộp thuế, trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan Nhà nước, của

tổ chức, cá nhân có liên quan, thanh tra thuế, quyền khiếu nại của người nộp thuế…

Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 thay thế Thông tư 60/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ Thông tư này áp dụng đối với việc quản lý các loại thuế theo quy định của pháp luật

về thuế, các khoản phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu Nội dung Quản lý thuế hướng dẫn tại Thông tư này bao gồm: 1 Khai thuế, tính thuế; 2 Ấn định thuế; 3 Nộp thuế; 4 Ủy nhiệm thu thuế; 5 Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; 6 Thủ tục miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt;

7 Thủ tục hoàn thuế, bù trừ thuế; 8 Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; 9 Giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện liên quan đến thực hiện pháp luật thuế…

Trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, Bộ tài chính ban hành Thông tư 79/2009/TT-BTC do

Bộ Tài chính ban hành ngày 07/4/2009 thay thế Thông tư số 59/2007 và Thông tư số 05/2009 hướng dẫn về thủ tục Hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

+ Việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, kế toán thuế được quy định trong một số

văn bản sau: Thông tư số 28/2011/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều

của Luật Quản lý thuế Quyết định 443/QĐ-TCT của Tổng cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý đăng ký thuế Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/6/2007 ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Trên cơ sở đó, Bộ tài chính ban hành Quyết định số 78/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 18/9/2007 ban hành quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về

chính sách thuế, Quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế theo cơ

chế “một cửa” Quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế theo cơ chế “một cửa” nhằm đảm bảo việc

tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế được thuận lợi nhất, đồng thời đảm bảo giám sát được công chức thuế trong việc thực hiện giải quyết các yêu cầu, thủ tục hành

chính thuế của người nộp thuế (Điều 1) Căn cứ vào Quyết định số 78/2007/QĐ-BTC, Tổng cục trưởng Tổng Cục thuế ra Quyết định số 422/ QĐ-TCT ngày 22/4/2008 về việc ban hành quy trình

quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế

Trang 5

+ Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của cơ quan thuế các cấp có

trong các văn bản như: Nghị định 118/2008/NĐ-CP ban hành ngày 27/11/2008 của Chính phủ

về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ tài chính Theo nghị

định này, Bộ tài chính là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: tài

chính (bao gồm: NSNN, thuế, phí, lệ phí và thu khác của NSNN, dự trữ Nhà nước, tài sản Nhà nước, các quỹ tài chính Nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp, tài chính hợp tác xã

và kinh tế tập thể); Hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập; giá, chứng khoán bảo hiểm; hoạt động

dịch vụ tài chính và dịch vụ thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Về cơ cấu tổ chức, Bộ tài chính có 25 đơn vị tổ chức hành chính (gồm các Cục, Vụ, Tổng Cục chuyên môn) giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; 4 đơn vị sự nghiệp Nhà nước phục vụ quản lý Nhà nước thuộc Bộ (Viện chiến lược và chính sách tài chính, thời báo tài chính, trường bồi dưỡng cán bộ tài chính)

Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của

Tổng Cục Thuế trực thuộc Bộ tài chính Theo đó, Tổng Cục Thuế được tổ chức quản lý tập trung,

thống nhất thành hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương, theo đơn vị hành chính gồm

16 Ban chuyên môn ở Trung ương Tổng Cục Thuế sẽ được tăng thêm quyền hạn như thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền việc gia hạn nộp thuế, xóa tiền nợ thuế, tiền phạt, quyền ấn định thuế, xử lý vi phạm hành chính về thuế, truy thu thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính để thu tiền thuế nợ, tiền phạt vi phạm hành chính thuế Ngoài ra, Tổng Cục Thuế có thể tiến hành giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, lập hồ sơ đề nghị khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế

Quyết định của Bộ tài chính số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 về việc quy định chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng Cục Thuế.

+ Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế có trong các văn bản:

Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm

pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Nghị định này quy định

nguyên tắc, thẩm quyền, hành vi vi phạm, mức và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về thuế, trình

tự, thủ tục các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Những nội dung quy định tại nghị định này áp dụng cho các luật, pháp lệnh thuế

Nghị định số 13/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/4/2009

Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện xử

lý vi phạm pháp luật về thuế Thông tư hướng dẫn thực hiện: phạt theo số tiền tuyệt đối đối với

các hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạt tối đa không quá 100 triệu đồng Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm thủ tục thuế là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt, nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt

Trong xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có các

văn bản: Pháp lệnh xử phạt hành chính 2002 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của

Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan Theo nghị định này, những hành vi vi phạm quy định quản lý Nhà nước

về Hải quan và pháp luật về thuế đối với hang hóa xuất, nhập khẩu một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính Nghị định quy định thêm về hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt, tăng mức phạt tiền đối với các hành vi cản trở Bộ Hải quan đang thi hành công vụ về quy định rõ cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải

quan Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ban hành ngày 18/2/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ

sung một số điều Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ về các hình thức

xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan Nghị định sửa đổi, bổ sung các điều về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh

vực Hải quan, những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính, xử lý các loại hành vi vi phạm về Hải quan, quy định về trường hợp xúc phạm, đe dọa, cản trở công chức Hải quan đang thi hành công vụ, quy định liên quan đến thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về Hải quan Ngoài ra,

Nghị định còn quy định hiệu lực hồi tố Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài

chính hướng dẫn thi hành nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định

về xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan…

Quy định về xử lý hình sự: chủ yếu là trong BLHS như: quy định về tội trốn thuế (Điều 161),

các quy định về tội phạm về chức vụ, tội phạm có liên quan đến lĩnh vực thuế hoặc người thu thuế

Trang 6

như chống người thi hành công vụ…

Những văn bản pháp luật ở trên có tác dụng luật hóa trách nhiệm của các cơ quan thuế, người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm nâng cao trách nhiệm pháp luật của các ngành, các cấp và cộng đồng xã hội trong việc thi hành pháp luật thuế Luật hóa các thủ tục hành chính về thuế, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính… một cách cụ thể, đầy đủ, rõ ràng để nâng cao tính pháp

lý và đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện Bên cạnh đó, những văn bản này còn nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện tốt hơn cơ chế quản lý thuế hiện đại – cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế Đây là phương thức quản lý thu thuế tiên tiến, hiện đại đnag được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng Theo cơ chế này thì các cá nhân, tổ chức nộp thuế căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính

ra số thuế phải nộp vào NSNN, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nộp số thuế đã kê khai vào NSNN theo đúng thời hạn mà pháp luật quy định

1.2 Nội dung cơ bản của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Qua nghiên cứu Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành, có thể đánh giá tổng quan, về hình thức, Luật Quản lý thuế Việt Nam khá hoàn chỉnh, thống nhất Về nội dung, phù hợp với Luật quản lý thuế mẫu của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và tương thích với Luật Quản lý thuế của các nước cũng như thông lệ quốc tế trong việc quản lý thuê Các nội dung về Quản lý thuế được quy định khá đầy đủ, chi tiết trong pháp Luật Quản lý thuế, mà cụ thể là trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong đó, Luật Quản lý thuế quy định các vấn đề chung nhất, bao quát và toàn diện nhất, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế, có

phạm vi điều chỉnh thống nhất đối với toàn bộ các loại thuế (thuế nội địa và thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu), các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy

định của pháp luật Các quy định của Luật đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước thông qua các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch đã đảm bảo tính pháp

lý cho việc thực hiện cơ chế Quản lý thuế mới, cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người nộp thuế Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao trách nhiệm và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế

a Trong công tác Quản lý thuế.

Luật Quản lý thuế đã quy định đầy đủ các nội dung trong công tác Quản lý thuế Từ đó tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, từ việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế

Về thủ tục đăng ký thuế: Luật quy định cụ thể về đối tượng phải đăng ký nộp thuế, thời hạn

đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, địa chỉ nộp hồ sơ đăng ký thuế, tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế, thay đổi thông tin đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế của người nộp thuế và chấm dứt hiệu lực mã số của người nộp thuế

Về khai thuế: Luật quy định khai thuế, hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn

nộp hồ sơ khai thuế, khai bổ sung hồ sơ khai thuế, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ khai thuế Để phù hợp với thực tiễn, trong một số trường hợp do nguyên nhân bất khả kháng, Luật đã quy định người nộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế mà không bị xử lý vi phạm hành chính

Về nộp thuế: Luật quy định thời hạn nộp thuế, đồng thời nộp thuế, địa điểm và hình thức nộp

thuế, thứ tự thanh toán tiền thuế, xác định ngày nộp thuế xử lý số tiền nộp thừa, nộp thuế trong thời gian khiếu nại, khởi kiện, gia hạn nộp thuế Luật Quản lý thuế đã quy định người nộp thuế được gia hạn nộp tiền thuế mà không bị xử phạt về hành vi chậm nộp Trong thực tiễn, một số trường hợp người nộp thuế gặp phải khó khăn bất khả kháng, không có khả năng nộp thuế đúng hạn, nhưng chưa có quy định được gia hạn nộp thuế và được miễn xử phạt trong thời gian gia hạn nộp thuế, dẫn đến họ có số tiền phạt chậm nộp lớn hơn cả số thuế phải nộp Trong khi đó, cơ quan thuế không có thẩm quyền xóa nợ tiền phạt, dẫn đến số nợ thuế lớn, không có khả năng thu

Về ấn định thuế: Luật quy định nguyên tắc ấn định thuế, ấn định thuế đối với người nộp thuế

vi phạm pháp luật về thuế, ấn định thuế đối với hộ kinh doanh theo phương pháp khoán thuế, ấn định thuế đối với trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, trách nhiệm của cơ quan Quản lý thuế và của người nộp thuế trong việc ấn định thuế Luật Quản lý thuế đã quy định cơ quan Quản

lý thuế ấn định số thuế phải nộp hoặc ấn định từng yếu tố liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp Quy định này đã giải quyết được vướng mắc trong việc ấn định thuế hiện nay là ấn định toàn

bộ số thuế phải nộp, trong khi người nộp thuế vô tình hoặc có hành vi cố ý sử dụng hoặc một số chứng từ không hợp pháp

Theo quy định của Luật, người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện các nội dung quy định để thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật thuế Cơ quan thuế thực hiện vai trò hỗ trợ, giúp người nộp thuế hiểu được chính sách, cách kê khai, hoàn thành thủ tục Đồng thời, cơ quan thuế có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đúng hạn và thông báo cho người nộp thuế hoàn chỉnh hồ sơ trong trường hợp hồ sơ hoặc thông tin kê khai chưa đầy đủ Đặc biệt quan

Trang 7

tâm công tác hỗ trợ người nộp thuế Theo quy định của Luật Quản lý thuế thì cơ quan thuế tập trung hỗ trợ doanh nghiệp theo tám nội dung Quản lý thuế (Điều 3 Luật Quản lý thuế)

b Trong xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế.

Thông tin về người nộp thuế là yêu cầu quan trọng của công tác Quản lý thuế hiện đại, đảm bảo cơ quan Quản lý thuế theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá, mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, Trên cơ sở đó, cơ quan Quản lý thuế tập trung vào quản lý các đối tượng có nhiều khả năng vi phạm pháp luật thuế, tránh thất thu ngân sách, đồng thời giảm phiền hà cho đối tượng chấp hành tốt pháp luật thuế

Hệ thống thông tin về người nộp thuế được xây dựng từ các nguồn:

Thông tin từ hồ sơ thuế do người nộp thuế kê khai, gửi cơ quan Quản lý thuế, thông tin từ các

cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến người nộp thuế Trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan thuế của các cơ quan quản lý Nhà nước được quy định thành nhóm:

+ Nhóm 1: Cung cấp thông tin tự động theo phát sinh sự kiện liên quan đến người nộp thuế.

Cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp giấy phép thành lập và hoạt động

có trách nhiệm cung cấp thông tin về nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập hoạt động hoặc giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, quyết định sát nhập, chia tách, giải thể, phá sản của tổ chức, cá nhân nộp thuế trong thời hạn 7 ngày làm việc kể

từ ngày phát sinh các sự kiện trên và các thông tin khác theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế; kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan Quản lý thuế về số tiền đã nộp, đã hoàn của người nộp thuế

+ Nhóm 2: Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan Quản lý thuế; ngân hàng, tổ chức tín

dụng có trách nhiệm cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn

10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản

lý Nhà nước về nhà, đất có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất, sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Cơ quan công an có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến phòng chống tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và an ninh quốc gia liên quan đến quản

lý thuế, cung cấp thông tin về cá nhân xuất cảnh, nhập cảnh và thông tin về đăng ký, quản lý phương tiện giao thông Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm cung cấp thông tin về chi trả thu nhâp và số thuế khấu trừ của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản

lý thương mại có trách nhiệm cung cấp thông tin về về chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh của Việt Nam và nước ngoài, thông tin về quản lý thị trường

Cơ quan Quản lý thuế, công chức Quản lý thuế, người đã là công chức Quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, cơ quan Quản lý thuế vẫn có thể được công khai thông tin vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế trong một số trường hợp

c Thực hiện quy định của Luật Quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế phải tăng cường kiểm tra giám sát việc kê khai thuế, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế.

Kiểm tra thuế được xác định là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế hoặc được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế khi mà người nộp thuế không giải trình được các số liệu chưa hợp lý trong hồ sơ khai thuế

Thanh tra thuế được thực hiện trong các trường hợp: Có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế; doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần; để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

d Cơ quan Quản lý thuế được giao quyền sử dụng một số biện pháp để đảm bảo thu đủ tiền thuế cho NSNN.

Pháp luật quy định có 7 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Trong đó, biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ là biện pháp mạnh để xử lý đối với trường hợp đối tượng cưỡng chế thuế tẩu tán tài sản

Về trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thi hành định hành chính thuế: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế thi hành quyết định cưỡng chế thuế và có nhiệm vụ tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế UBND xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng thuộc diện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng với cơ quan quản

lý thuế thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính Lực lượng cảnh sát nhân dân có trách nhiệm đảm bảo trật tự, an toàn, hỗ trợ cơ quan quản lý thuế trong quá trình cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế khi có yêu cầu của người ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Thứ hai: Xác định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia quản lý thuế, nhất

là các tổ chức, cá nhân có liên quan

Xuất phát từ quan điểm tiền thuế phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội Do đó, mọi tổ chức,

cá nhân trong xã hội phải có trách nhiệm tham gia quản lý thuế:

a.Luật Quản lý thuế quy định quyền hạn và trách nhiệm của người nộp thuế, trong đó bổ sun một

Trang 8

số quyền cho người nộp thuế.

Được hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế; được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế

Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan có thảm quyền giám định chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu

Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giữ bí mật thông tin Ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thay mặt mình làm các thủ tục về thuế

b Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm và quyền của cơ quan Quản lý thuế Trong đó:

Nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ tục

và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ

Quy định cụ thể quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ thuế Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì trong thời hạn 3 ngày phải thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn thiện hồ sơ Quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo cơ chế một cửa, ấn định rõ thời hạn giải quyết từng loại hồ sơ thuế Trách nhiệm trong việc xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế làm căn cứ cho việc phân loại, đánh giá mức độ tuân thủ trên cơ sở phân tích tập trung vào đối tượng có nhiều khả năng

vi phạm Đồng thời cơ quan thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin cho người nộp thuế

Quy định trách nhiệm kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế nộp thuế; xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế

Quy định cơ quan quản lý thuế được quyền ký kết hợp đồng ủy nhiệm thu thuế với tổ chức,

cá nhân để thu một số loại thuế, khoản thu Bên được ủy nhiệm thu thuế thông qua hợp đồng được hưởng kinh phí ủy nhiệm thu trích từ kinh phí khoán chi của cơ quan quản lý thuế

c Luật quản lý thuế quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia công tác quản lý thuế:

HĐND, UBND các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát việc chấp hành các Luật thuế

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm vận động nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật thuế của người nộp thuế, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật thuế

Cơ quan thông tin, báo chí có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật thuế

và phản ánh, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật thuế

Các cơ quan quản lý nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ quản lý ngành có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế hoặc phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng chế thuế, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn do Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của Chi cục trưởng Chi Cục Thuế Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ tư vấn cho cơ quan thuế về mức thuế của các hộ, gia đình, cá nhân kinh doanh trên địa bàn, bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, công khai, công bằng, hợp lý

Thứ ba: Cải cách thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch, nhằm

nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế

a Quy định rõ, công khai, minh bạch các loại giấy tờ của từng loại hồ sơ thuế: hồ sơ khai thuế, hồ sơ miễn thuế, hồ sơ hoàn thuế… để người nộp thuế tự xác định được trách nhiệm của mình và tránh tùy tiện của công chức thuế, công chức Hải quan trong khi thi hành công vụ Đồng thời ban hành hệ thống mẫu biểu áp dụng chung cho người nộp thuế và cơ quan thu thuế Trong

đó, có hướng dẫn cụ thể cách khai các chỉ tiêu trong mẫu biểu để người nộp thuế dễ thực hiện.

b Thống nhất thời hạn nộp hồ sơ khai thuế phù hợp với từng loại thuế khai theo tháng, theo năm, theo từng lần phát sinh để người nộp thuế dễ thực hiện Sửa đổi một số thời hạn, phương thức khai thuế của một số loại thuế cho phù hợp với thực tế hơn.

c Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người nộp thuế trong quá trình tuân thủ pháp luật thuế Khi phát hiện hồ sơ khai thuế có sai sót, người nộp thuế được khai bổ sung khai thuế và không bị phạt vi phạm hành chính về các lỗi sai sót này.

d Bổ sung hình thức khai thuế điện tử: Chương trình tiếp nhận hồ sơ khai thuế điện tử sẽ tự động kiểm tra, soát xét tính đầy đủ, hợp lý của các thông tin khai trong hồ sơ thuế Người nộp thuế cũng sẽ biết ngay được các lỗi kê khai để hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ kịp thời theo quy định, tránh được các lỗi sai sót không cần thiết Đưa hình thức khai thuế điện tử vào trong luật tạo điều kiện pháp lý cao trong hình thức khai này, điều đặc biệt hữu ích với các doanh nghiệp giảm được chi phí đi lại và thời gian lưu chuyển hồ sơ thuế

e Thời hạn nộp thuế được quy định gắn với thời hạn khai thuế vừa bảo đảm phù hợp với tính chất của từng loại thuế, vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế dễ nhớ, dễ thực hiện và không phải làm các thủ tục hành chính thuế rải rác nhiều ngày trong tháng, giảm phiền hà cho người nộp thuế

f Đối với số tiền nộp thừa hoặc số tiền thuế thuộc diện được hoàn, người nộp thuế được quyền lựa chọn hoặc yêu cầu cơ quan thuế làm thủ tục hoàn trả ngay, hoặc để thanh toán cho số

Trang 9

thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo So với quy định hiện hành, chỉ có thuế giá trị gia tăng thì được hoàn ngay, còn các loại thuế khác phải để nộp cho kỳ tiếp theo và chỉ được hoàn trả khi người nộp thuế kết thúc hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế thì quy định này linh hoạt và tôn trọng quyền lợi của người nộp thuế hơn

g Luật Quản lý thuế còn quy định một số quyền của người nộp thuế như: yêu cầu cơ quan thuế hướng dẫn, giải thích về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình; yêu cầu cơ quan thuế thực hiện đúng việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, bồi thường thiệt hại về thuế theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu cơ quan thuế giữ bí mật thông tin do mình và các tổ chức, cá nhân khác cung cấp phục vụ cho việc quản lý thuế.

Thứ tư: các quy định của Luật Quản lý thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu

hội nhập quốc tế của đất nước

a Luật Quản lý thuế mở rộng các hình thức giao dịch làm thủ tục về thuế như khai thuế điện

tử, nộp tiền thuế theo hình thức chuyển khoản… tạo điều kiện cho người nộp thuế có thể hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước mọi lúc, mọi nơi, không bị bó hẹp trong giới hạn giờ làm việc hành chính của cơ quan thuế Áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế đối với hầu hết các sắc thuế

và đại bộ phận người nộp thuế.

b Về kiểm tra, thanh tra thuế dựa trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế để lựa chọn đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế.

c Luật quy định khung pháp lý cho hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế… Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện, được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, có ngành nghề dịch

vụ làm thủ tục về thuế Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế được thay mặt người nộp thuế thực hiện một trong các thủ tục: Khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn theo quy định của luật này và pháp luật khác có liên quan Tổ chức này chịu trách nhiệm với người nộp thuế theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ theo pháp luật dân sự Tuy nhiên, trong quá trình cung ứng dịch vụ,

tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế chịu trách nhiệm về việc làm sai của mình với người nộp thuế theo quy định của Pháp luật dân sự, người nộp thuế vẫn phải chịu trách nhiệm với Nhà nước về nghĩa vụ thuế của người nộp thuế

Quy định này thể hiện sự cam kết của Việt Nam trong việc mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ khi vào WTO, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở kinh doanh, người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế

d Luật quản lý thuế quy định về trách nhiệm của cơ quan thuế đối với người nộp thuế Nếu

cơ quan thuế làm chậm các thủ tục, dẫn đến thiệt hại cho người nộp thuế thì phải đền bù thiệt hại cho người nộp thuế Hoặc nếu công chức thuế tiết lộ các thông tin của người nộp thuế (vi phạm quy định về bảo mật thông tin) thì phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây ra cho người nộp thuế.

Luật QLT quy định và đặt ra yêu cầu hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế, cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ và cả công nghệ quản lý

1.3 Những vướng mắc còn tồn tại trong pháp luật Quản lý thuế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, pháp luật Quản lý thuế ở nước ta còn tồn tại một số hạn chế như sau:

Thứ nhất: về nguyên tắc thiết kế của Luật quản lý thuế, những người thiết kế đã sử dụng kết

hợp đan xen nhiều nguyên tắc nhưng chủ yếu theo nguyên tắc trình tự thời gian, trong khi đó bộ máy quản lý thuế được thiết kế theo mô hình chức năng Tổ chức quản lý thuế theo chức năng là

mô hình tổ chức lấy chức năng quản lý thuế làm nguyên tắc bao trùm Theo đó, cơ cấu gồm các bộ phận, mỗi bộ phận thực hiện một chức năng quản lý thuế cơ bản đối với hầu hết các loại thuế và đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theo thẩm quyền được phân công Các chức năng quản lý thuế bao gồm: Tuyên truyền và hỗ trợ; xử lý tờ khai; quản lý nợ và cưỡng chế thuế; thanh tra, kiểm tra thuế… Điều này sẽ dẫn đến những điểm chưa thực sự tương thích giữa Luật quản lý thuế với thực tiễn vận hành của bộ máy quản lý thuế trong việc tổ chức thực hiện các luật thuế, đặc biệt, khi

áp dụng cơ chế quản lý thuế theo mô hình “một cửa” Bởi thực tế cho thấy, việc tổ chức bộ máy

ngành thuế theo chức năng dẫn đến bất kỳ bộ phận nào cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp trực tiếp làm việc, giải trình khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế cảu mình Song khi cần hướng dẫn để được giải quyết các nghiệp vụ cụ thể phát sinh, doanh nghiệp không biết liên hệ đến bộ phận nào

và thuộc thẩm quyền trách nhiệm của ai Vì vậy, doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật thuế theo luật

Thứ hai: Luật Quản lý thuế hiện nay không chỉ quy định những vấn đề chung về tổ chức

thực hiện các luật thuế, mà còn quy định cả những nội dung tổ chức thực hiện riêng của từng luật thuế (những vấn đề quản lý có tính chất đặc thù của từng sắc thuế) và số lượng của các điều luật quy định các nội dung quản lý đặc thù chiếm tỷ lệ khá lớn, đặc biệt là các quy định quản lý về thuế xuất, nhập khẩu Giả sử rằng, khi các luật về chính sách thuế được tiếp tục ban hành và đó là xu thế tất yếu, đương nhiên kéo theo sự thay đổi, bổ sung của Luật Quản lý thuế và theo đó, vô hình

Trang 10

chung, đã phá vỡ tính ổn định của Luật Quản lý thuế Vì vậy, các vấn đề quản lý có tính chất đặc thù của từng sắc thuế nên quy định trong các luật về chính sách thuế Điều này sẽ có hiệu ứng tốt hơn trong việc đảm bảo thực hiện các chính sách thuế của các chủ thể có nghĩa vụ thuế

Thứ ba: Luật QLT vẫn còn giải quyết một số trường hợp cho các luật về chính sách thuế.

Tại Điều 65, Luật Quản lý thuế quy định các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền phạt:

“1 Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt

2 Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ” thuộc phạm vi điều chỉnh của luật về chính sách thuế

Thứ tư: Luật Quản lý thuế còn có các nội dung lấn sang phạm vi điều chỉnh của luật về chính

sách thuế

Khoản 3, khoản 4 Điều 42 của Luật Quản lý thuế quy định thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và điều kiện để được áp dụng thời hạn nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu

“3 Thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được quy định như sau:

a) Đối với hàng hoá xuất khẩu là ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan;

b) Đối với hàng hoá nhập khẩu là hàng tiêu dùng phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng; trường hợp có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế không quá ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan;

c) Đối với hàng hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu là hai trăm bảy lăm ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan; trường hợp đặc biệt thì thời hạn nộp thuế có thể dài hơn hai trăm bảy lăm ngày phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ;

d) Đối với hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập là mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập;

đ) Đối với hàng hoá khác là ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan;…

4 Để được áp dụng thời hạn nộp thuế theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản 3 Điều này, người nộp thuế phải đáp ứng một trong hai điều kiện sau đây:

a) Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian ít nhất là ba trăm sáu lăm ngày tính đến ngày đăng ký tờ khai Hải quan mà không có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, không nợ tiền thuế quá hạn, tiền phạt, chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật;

b) Được tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.

Trường hợp không đáp ứng một trong hai điều kiện trên thì người nộp thuế phải nộp thuế trước khi nhận hàng”.

Thứ năm: thiếu các quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động và cơ cấu tổ chức bộ máy QLT

và nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa các cơ quan, đặc biệt trong xu thế quản lý thuế hiện đại

Thứ sáu: kỹ thuật lập pháp, lập quy trong Luật Quản lý thuế chưa đảm bảo tính nhất quán, có

điều luật quy định ở dạng nguyên tắc, có diều luật quy định quá chi tiết, cụ thể mà đáng lẽ ra những nội dung đó thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản dưới luật; mặt khác còn khá nhiều quy định trong Luật quản lý thuế được chuyển dịch mang tính chất cơ học từ các Luật thuế, Luật

Hải quan Ví dụ: Điểm a, điểm b, điểm c Khoản 4, Điều 32 Luật Quản lý thuế quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Thứ bảy: Luật Quản lý thuế chưa xác định rõ cơ chế bảo đảm thực hiện, vì vậy đã phần nào

hạn chế tính khả thi của các quy định trong Luật Quản lý thuế và chính điều này chưa thực sự khuyến khích tính tuân thủ pháp luật của chủ thể có nghĩa vụ thuế

Ví dụ: Tại Điều 53 Luật Quản lý thuế quy định trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh “Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam phải hoàn thành nghĩa

vụ nộp thuế Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm dừng việc xuất cảnh của cá nhân trong trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo thông báo của cơ quan quản lý thuế”.

Với quy định này, nếu không xác định rõ cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan quản lý thuế và cơ quan công an thì chắc chắn điều luật này sẽ không có tính khả thi, bởi trên thực tế hiện nay, Cục Thuế địa phương không thể biết đối tượng nào nợ thuế đnag chuẩn bị xuất cảnh để thông báo cho

cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và ngược lại

Thứ tám: một số quy định của pháp luật Quản lý thuế còn thiếu sót, hạn chế, gây khó khăn

cho quá trình thực hiện, như là:

Trong việc khai báo thuế, Luật QLT đã quy định về khai bổ sung, nhưng các văn bản hướng dẫn chưa quy định rõ phạm vi khai bổ sung nên gây khó khăn cho quá trình thực hiện đối với các trường hợp được miễn kiểm tra sau đó Doanh nghiệp tới khai bổ sung Vì trên thực tế, doanh nghiệp khai bổ sung sau 60 ngày đăng ký tờ khai nên cơ quan Hải quan chưa cho khai bổ sung

Về nộp thuế, Luật QLT quy định nhiều thời hạn nộp thuế khác nhau theo các tiêu chí khác nhau tùy theo mục đích nhập khẩu hàng hóa để sản xuất xuất khẩu hay tiêu dung, hay tạm nhập tái xuất Quy định này tuy một mặt đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế trong điều kiện các Doanh

Ngày đăng: 30/01/2016, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, TS. Phạm Thị Giang Thu (Chủ biên), NXB. CAND, Hà Nội, 2008.2. Luật quản lý thuế năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thuế Việt Nam", TS. Phạm Thị Giang Thu (Chủ biên), NXB. CAND, Hà Nội, 2008.2. "Luật quản lý thuế
Nhà XB: NXB. CAND
7. Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007
8. Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Tổng Cục Thuế trực thuộc Bộ tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg
9. Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007
10. Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007
11. Pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và hướng hoàn thiện: Khoá luận tốt nghiệp/ Đinh Thị Thu Hà; Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và hướng hoàn thiện
12. Thông tin về người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay / ThS.Vũ Văn Cương, Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 4/2009, tr. 3 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin về người nộp thuế trong pháp luật quản lý thuế ở nước ta hiện nay
3. Nghị định 106/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 85/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế và Nghị định 100/2008/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân Khác
4. Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 thay thế Thông tư 60/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ Khác
5. Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan Khác
6. Thông tư 79/2009/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 07/4/2009 thay thế Thông tư số 59/2007 và Thông tư số 05/2009 hướng dẫn về thủ tục Hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w