1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

NHỮNG VI PHẠM PHÁP LUẬT KHI TIẾN HÀNH CÁC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VÀ HẬU QUẢ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA, XỬ LÍ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

12 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 142,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VPPL khi tiến hành các hoạt động điều tra hình sự là tình trạng cơ quan điều tra, VKS, Tòa án khi tiến hành các hoạt động điều tra đã tiến hành không đúng với những quy định của pháp luậ

Trang 1

MỤC LỤC

A. Mở bài 2

B. Nội dung 2

I. Định nghĩa hoạt động điều tra và VPPL khi tiến hành hoạt động điều tra 2

1. Định nghĩa hoạt động điều tra 2

2. VPPL khi tiến hành hoạt động điều tra 2

II. Những VPPL khi tiến hành hoạt động điều tra và hậu quả đối với quá trình điều tra, xử lí các vụ án hình sự 2

1. Khám nghiệm hiện trường 3

2. Hỏi cung bị can 4

3. Khám xét 5

4. Thực nghiệm điều tra 6

5. Trưng cầu giám định 7

III.Nguyên nhân của VPPL khi tiến hành các hoạt động điều tra và kiến nghị nhằm hạn chế hiện tượng này 9

C. Kết luận 9

D. Danh mục tài liệu tham khảo 12

Trang 2

A - MỞ BÀI

Trong những năm qua, trước tình hình phạm tội gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp, các cán bộ của Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Tòa án (TA) đã có rất nhiều cố gắng, hoạt động hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên trong quá trình thực thi công

vụ tình trạng vi phạm pháp luật (VPPL) trong các hoạt động điều tra hình sự nói riêng

đã và đang trở thành vấn đề khá nhạy cảm, có tính thời sự đang được cả xã hội quan tâm trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay Tình trạng này gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng trong quá trình điều tra và xử lí các vụ

án hình sự Do đó cần phải được nghiên cứu một cách nghiêm túc để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả

B - NỘI DUNG

I - ĐỊNH NGHĨA HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT KHI TIẾN HÀNH CÁC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA

1 Định nghĩa hoạt động điều tra.

Về mặt luật thực định, ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý về

“hoạt động điều tra” và cũng chưa được giải thích chính thức bởi các cơ quan có thẩm quyền Tuy nhiên, thông qua các điều luật có liên quan cũng như đúc rút từ nhiều

quan điểm khác nhau có thể đưa ra định nghĩa về hoạt động điều tra Theo đó, hoạt

động điều tra là hoạt động tố tụng có nội dung phát hiện, thu thập, củng cố, thu giữ

và kiểm tra các thông tin thực tế được tiến hành bởi ĐTV, KSV, Thẩm phán nhằm mục đích thu thập chứng cứ theo quy định của luật

Những hoạt động điều tra phổ biến thường được tiến hành hiện nay như: khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, khám xét, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám đinh,

2 Vi phạm pháp luật khi tiến hành các hoạt động điều tra

VPPL khi tiến hành các hoạt động điều tra hình sự là tình trạng cơ quan điều tra,

VKS, Tòa án khi tiến hành các hoạt động điều tra đã tiến hành không đúng với những quy định của pháp luật, gây hậu quả tiêu cực đối với quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

II – NHỮNG VI PHẠM PHÁP LUẬT KHI TIẾN HÀNH CÁC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VÀ HẬU QUẢ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA, XỬ LÍ CÁC VỤ

ÁN HÌNH SỰ

Trang 3

1. Khám nghiện hiện trường.

Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra được tiến hành tại hiện trường

nhằm phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản, nghiên cứu, đánh giá dấu vết, vật chứng của các vụ phạm tội hoặc vụ việc có tính hình sự đã xảy ra

Khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát hiện tội phạm, không khám nghiệm hoặc khám nghiệm không đúng trình tự thủ tục sẽ để lọt tội phạm hoặc dẫn đ ế n những nhận định sai lầm, làm oan người vô tội Theo qui định tại khoản

2 Điều 63 BLTTHS thì biên bản khám nghiệm hiện trường là chứng cứ dùng để chứng minh tội phạm và người phạm tội Việc khám nghiệm hiện trường phải đúng thủ tục và thực hiện đầy đủ các nội dung được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) như việc khám nghiệm phải có người chứng ki ế n, phải chụp ảnh vẽ sơ đồ, thu thập các dấu v ế t, vật chứng tuân thủ các quy định tại Đi ề u 150 và Đi ề u 154 BLTTHS Tuy nhiên trên thực tế, khi tiến hành hoạt động điều tra này đã có nhiều vi phạm cả về phía ĐTV và KSV gây khó khăn cho công tác điều tra cũng như xử lí vụ

án như: Về trình tự, thủ tục có nhiều sai sót, biên bản khám nghiệm hiện trường không được ghi đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật, vật chứng thu giữ và bảo quản không tốt, đã để mất mát, hư hỏng; trong biên bản khám nghiệm hiện trường khi thu giữ vật chứng đã không tỷ mỷ, cẩn thận, nên sau này không xác định được vật chứng thu giữ là của đối tượng nào trong cùng vụ án, dẫn đến phải dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra Tuy nhiên việc dựng lại hiện trường không thu được kết quả cao Mặt khác, có trường hợp CQĐT tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không cẩn thận gây khó khăn cho các hoạt động điều tra tiếp theo Chẳng hạn, trong vụ án Trương Ngọc Minh bị giết chết tại thành phố Hồ Chí Minh Khi điều tra

vụ án, CQĐT đã không thu giữ một số vật chứng quan trọng như chiếc thang tre được cho là bị dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên không thể thực nghiệm hiện trường Bên cạnh đó, khi tiến hành thu lượm các chất gây cháy làm ông Minh chết, CQĐT có thu phía sau phòng bị can 01 lon loại 0,8 lít còn dính dầu và loại 01 lít còn dính xăng, thu bên phòng ông Minh một lon thiếc, dung tích 1 lít bị cháy ám khói Nhưng bị can lại khai nhà bị can chỉ có 01 chiếc lon loại 01 lít đựng dầu mà công an đã thu giữ Cách thu lượm này đã không xác định được chiếc lon loại 0,8 lít có hay không; chiếc lon loại 01 lít thực chất đựng dầu hay xăng Cho nên, vụ án càng điều tra càng bế tắc

do không xác định được chất gây cháy trong vụ án này là chất gì Đây là những mâu thuẫn mà quá trình điều tra mất rất nhiều thời gian, công sức nhưng không giải quyết được Việc tiến hành khám nghiệm hiện trường sơ sài dẫn đến tình trạng bỏ sót quá nhiều dấu vết trên hiện trường, như vết rê của xe, dấu vết phanh, vết trượt phanh, vết cày xước trên mặt đường, vết máu của nạn nhân không thu thập được, không xác

Trang 4

định được máu đó của ai, từ đó không xác định được vị trí nằm của nạn nhân Công tác bảo vệ hiện trường không chu đáo hoặc tiến hành khám nghiệm chậm làm cho hiện trường bị xáo trộn hoặc mất dấu vết, vật chứng không thể khắc phục được

Về phía KSV khi tham gia khám nghiệm hiện trường còn thụ động, nặng về chứng kiến những hoạt động của ĐTV và giám định viên Khi kiểm sát khám nghiệm thì kiểm sát qua loa, chiếu lệ, không phát hiện được những sai sót của Hội đồng khám nghiệm, không xác định được phạm vi, trình tự việc tiến hành khám nghiệm hiện trường, nên đã để xảy ra nhiều thiếu sót trong công tác khám nghiệm gây nhiều khó khăn cho hoạt động điều tra khám phá án Vì những thiếu sót, vướng mắc trên mà nhiều khi vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tòa án phải xét xử lại nhiều lần kéo dài thời gian giải quyết vụ án Nghiêm trọng hơn là nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm

Ví dụ vụ Huỳnh Văn Nam phạm tội giết người, cướp tài sản ở Đồng nai, vụ giết người

tại nhà ông Trương Ngọc Minh ở TP Hồ Chí Minh Hạn chế lớn nhất trong các vụ này

là KSV không kiểm sát biên bản khám nghiệm hiện trường…Do vậy, ĐTV khi tiến hành khám nghiệm hiện trường lập biên bản không thể hiện được vị trí, khoảng cách giữa các vật chứng, không mô tả đầy đủ dấu vết tại hiện trường, vẽ sơ đồ sơ sài, không đủ thành phần tham gia khám nghiệm ký tên mà KSV vẫn không phát hiện ra nên cả hai vụ án đêu bị tòa án tuyên bị cáo không phạm tội

2. Hỏi cung bị can (HCBC).

Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập lời khai của bị can về các tình tiết có liên quan đến vụ án, phục vụ cho công tác điều tra và xử lí đối với cụ án đó

Đây là hoạt động điều tra do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, hoặc trong trường hợp cần thiết KSV cũng có thể hỏi cung bị can Pháp luật quy định khi tiến hành hỏi cung bị can trong mọi trường hợp ĐTV phải tiến hành theo đúng những trình tự, thủ tục tiến hành HCBC và về lập biên bản HCBC được quy định trong các Điều 129 đến Điều 132 BLTTHS hiện hành Khi tiến hành HCBC, ĐTV không được áp dụng các biện pháp thu thập lời khai trái pháp luật như mớm cung, dụ cung, bức cung và dung nhục hình Đây là những biện pháp hỏi cung sai trái, VPPL nghiêm trọng Khi tiến hành các biện pháp này, vô hình chung ĐTV đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị chân thực, tính khách quan trong lời khai của bị can, nghiêm trọng hơn là làm sai lệch sự thật của vụ án khiến quá trình điều tra đi “chệch hướng”, “sa lầy” và rơi vào bế tắc; việc giải quyết vụ án làm oan, sai người vô tội và

bỏ lọt tội phạm - xâm phạm nghiêm trọng các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, khiến nhiều vụ án vẫn còn tồn đọng ngay từ khâu hỏi cung bị can Hơn nữa thực tiễn điều tra cho thấy tình trạng ĐTV không tuân thủ toàn bộ hay một số những quy

Trang 5

định cụ thể của BLTTHS về thủ tục hỏi cung bị can, lập biên bản HCBC, như việc tiến hành lập biên bản không đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, thêm bớt, sửa chữa biên bản hỏi cung mà không để bị can kí, không cho vào hồ sơ những tài liệu quan trọng chứng minh sự ngoại phạm của các bị can dẫn tới hậu quả hồ sơ vụ án bị sai lệch ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc truy tố và xét xử Điển hình cho những vi phạm kể trên là vụ án “vườn điều” xảy ra tại Bình Thuận vào 1993, đây là một vụ án tiêu biểu cho những VPPL của CQĐT trong hoạt động hỏi cung bị can Trong quá trình điều tra vụ án bị can Huỳnh Văn Nén được ĐTV mớm cung bằng cách cho xem các bức ảnh chụp hiện trường vụ án, cho xem đơn tố cáo của chồng nạn nhân, gợi ý để Huỳnh Văn Nén mô tả chi tiết về kích thước, hình dáng sọt, chiếu phủ xác nạn nhân Bị can Nguyễn Thị Lâm phản cung khẳng định rằng mình nhận tội trước đây là

do ĐTV đã đánh gẫy răng bị can, Có thể thấy việc VPPL của ĐTV trở nên có tính hệ thống, do không được phát hiện kịp thời mà dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng làm oan ngừơi vô tội, bỏ lọt tội phạm Cũng trong quá trình điều tra, điều tra viên lấy lời khai của bị can Nguyễn Thị Lâm, Trần Thanh Vân bằng cách quay video nhưng không lập biên bản, hoạt động này đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc HCBC Kết quả của vụ án này đã khiến gia đình gồm 9 người đã bị bắt tạm giam trong nhiều năm và sau các phiên tòa xét xử cuối cùng họ đã được cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an ra quyết định đình chỉ điều tra bị can và được trả tự do vào năm

2005

3 Khám xét.

Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát cưỡng chế người, chỗ ở, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội; đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện xác chết hay người đang bị truy nã, người

bị bắt cóc

Về mặt nguyên tắc khi tiến hành hoạt động điều tra khám xét CQĐT cần tuân theo những quy định pháp luật về căn cứ khám xét, trình tự, thủ tục khám xét các đối tượng

cụ thể được quy định tại các điều 140, 142, 143, 144, 148 BLTTHS Tuy vậy hiện nay hoạt động khám xét vẫn xảy ra nhiều trường hợp VPPL nghiêm trọng như tiến hành khám xét không có căn cứ, khi khám chỗ ở, địa điểm không có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, không có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; Tất cả những sai phạm trên đã vô hình làm lòng tin của nhân dân đối với hoạt động điều tra tìm ra công lí bị giảm sút, từ đó mà các cơ quan tiến hành tố tụng cũng gặp nhiều khó khăn hơn khi tiến hành các hoạt

Trang 6

động điều tra tiếp theo Điển hình là vụ án công an huyện khám xét nhà dân trái pháp luật ở Bình Thuận, đây là trường hợp khám xét nhà vô căn cứ, thu giữ đồ vật trái phép đều là hành vi trái pháp luật Những người tiến hành khám xét gồm ông Trịnh Sơn Hùng, cán bộ điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, bà Võ Thị Phương Linh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, ông Nguyễn Danh Tuyên, Công an thị trấn Thuận Nam, ông Võ Lợi, cán bộ khu phố Lập Bình và đông đảo bà con trong khu phố Ông Trịnh Sơn Hùng đọc lệnh khám xét nhà ông Tích - bà Hạnh lí do là để tìm tài sản cho người báo mất Chủ nhà hỏi ông Hùng: "Nếu khám xét nhà tôi mà không tìm thấy tài sản bị mất thì các ông tính sao?" Ông Hùng đáp: "Nếu không có thì chúng tôi chịu trách nhiệm và trả lại sự trong sáng cho gia đình anh chị" Sau một thời gian lục soát, đoàn khám xét không tìm thấy bất cứ thứ gì, ông Hùng bèn cho thu hai điện thoại di động đang sử dụng rồi biến, không để lại bất cứ giấy tờ gì, kể cả bản sao biên bản khám xét

Hay như sự việc sáng ngày 05.09.2011 tại địa điểm chị Tạ Phong Tần đã tạm trú nhiều năm qua, sau khi chị Tạ Phong Tần bị bắt giải đi, cơ quan an ninh và công an Phường 8 quận 3, đã lục tung mọi nơi trong căn nhà sau đó tự ý niêm phong toàn bộ căn nhà cho dù không có mặt chủ sở hữu hợp pháp của nhà là chị Tân, vi phạm khoản

2 Điều 143 BLTTHS

Với những vi phạm kể trên có thể thấy rằng cơ quan có thẩm quyền đã đánh mất lòng tin của nhân dân, dẫn tới người dân không hợp tác từ đó mà hoạt động điều tra gặp khó khăn hơn, hệ quả nghiêm trọng đó là vụ án rơi vào thế bế tắc không thu được kết quả điều tra, kéo dài thời gian giải quyết, án tồn đọng kéo dài

4 Thực nghiệm điều tra.

Thực nghiệm điều tra là biện pháp điều tra được tiến hành thông qua các hoạt động thí nghiệm, thực nghiệm đặc biệt trong điều kiện tương tự như điều kiện mà hành vi, sự việc, hiện tượng cần kiểm tra, xác minh đã diễn ra trước đây để có cơ sở khách quan kết luận về hành vi, sự việc, hiện tượng đó phục vụ công tác điều tra, xử lí

vụ án hình sự

Đây là một biện pháp điều tra có mục đích thu thập, kiểm tra chứng cứ, kiểm tra các giả thuyết điều tra, phục vụ việc điều tra và xử lí vụ án hình sự Vì vậy thực nghiệm điều tra cần được tiến hành theo trình tự, thủ tục do luật định tại Điều 153, Điều 154 BLTTHS như khi tiến hành thực nghiệm phải có người chứng kiến, không được xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của những

Trang 7

người tham gia việc thực nghiệm điều tra, lập biên bản thực nghiệm theo quy định tại Điều 95 và Điều 125 BLTTHS Tuy nhiên hiện nay trong thực tiễn tiến hành thực nghiệm hiện trường một số vụ án vẫn diễn ra tình trạng vi phạm các quy định nói trên, gây ảnh hưởng ko nhỏ tới tiến trình điều tra vụ án Ví dụ như vụ án Hà Văn Đầy và Đặng Văn Hiếu bị VKSND TP Cần Thơ buộc tội đã thực hiện hành vi hiếp dâm chị V.T.D vào trưa 4-9-2003 tại nhà của Võ Thị Kiều, thuộc ấp Thới Thuận 2, xã Thới Thạnh, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ Sự việc xảy ra từ ngày 4-9-2003, hơn 10 ngày sau, gia đình chị D mới phát hiện và trình báo chính quyền Hồ sơ vụ án thể hiện có việc

vẽ sơ đồ hiện trường nhưng không ghi rõ ngày tháng và cũng không có biên bản kèm theo Mãi cho tới 6 tháng sau, công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra mới lập biên bản thu giữ tang vật, vật chứng, và sau gần 20 tháng mới khởi tố bị can Qua phần thẩm vấn tại 5 phiên tòa sơ thẩm (trong đó chỉ có một lần duy nhất xét xử được là ngày 27-9-2006), cả 2 bị cáo trong vụ án đều khai chỉ một mình Hiếu giao cấu với chị D Có 2 lời khai buộc tội Đầy của bị hại D và nhân chứng Đào Anh Tuấn nhưng lại mâu thuẫn với nhau và tại các bản cung, các phiên tòa, lời khai của chị D và của Tuấn cũng không thống nhất

Biên bản thực nghiệm điều tra cũng bộc lộ nhiều mâu thuẫn và vi phạm tố tụng như: cùng ngày, cùng giờ (lập lúc 10 giờ 30 phút ngày 3-11-2004), cùng một hội đồng nhưng lại có 2 biên bản thực nghiệm điều tra có 2 kết quả khác nhau Theo báo cáo của VKSND TP Cần Thơ đây là thiếu sót trong ghi chép của điều tra viên, nhưng kiểm sát viên tham gia không phát hiện được Đối với bị can Đầy, cơ quan điều tra đã

có 3 bản kết luận điều tra đều xác định không đủ cơ sở kết luận Đầy đồng phạm với Hiếu Nhưng VKS lại đánh giá đủ căn cứ khởi tố đối với Đầy nên đã có văn bản yêu cầu khởi tố bị can Như vậy, biển bản thực nghiệm đã không bảo đảm cơ sở pháp lý

để buộc tội đối với các bị cáo

5 Trưng cầu giám định.

Trưng cầu giám định là hoạt động điều tra của cơ quan có thẩm quyền, được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, sử dụng các nhà chuyên môn tiến hành giám định tư pháp để kết luận về các vấn đề chuyên môn nhằm thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá, xác lập chứng cứ, phục vụ điều tra, xử lí vụ án hình sự

Trưng cầu giám định là hoạt động được tiến hành chủ yếu ở giai đoạn điều tra, một

số trường hợp được tiến hành ở giai đoạn xét xử khi có những vấn đề cần được xác định theo Khoản 3 Điều 155 BLTTHS Hệ quả của quyết định trưng cầu giám định là

Trang 8

hoạt động giám định tư pháp Việc tiến hành trưng cầu giám định cần tuân thủ theo quy định tại các điều 155 đến Điều 159 BLTTHS hiện hành Hiện nay trong thực tế một số cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng chưa đúng những quy định của pháp luật

về giám định tư pháp, nhất là việc định giá các tài sản bị xâm hại để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự còn nhiều tuỳ tiện và nhiều trường hợp không trưng cầu giám định, chỉ căn cứ vào lời khai giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị thiệt hại của người bị hại

và lời nhận tội của bị cáo Nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định chưa theo đúng quy định tại các văn bản pháp luật dẫn tới hậu quả kết luận giám định trong một số trường hợp không chính xác, khách quan, tổ chức giám định tư pháp (GĐTP) trong một số lĩnh vực còn dàn trải Thậm chí có sự mâu thuẫn, xung đột giữa các kết luận giám định, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng Đó đây, còn xuất hiện những biểu hiện cán bộ giám định tư pháp có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, cố ý làm sai kết quả giám định Ví dụ: Ngày 07/11/2002, Lương Văn T trộm cắp một chiếc xe đạp, tại trường học và bị bắt quả tang Cơ quan điều tra công an huyện TL, Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án và bị can đối với T về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 BLHS Ban đầu, Cơ quan điều tra Công an huyện TL tiến hành xác định trị giá chiếc xe đạp, tang vật của vụ án với ông Nguyễn Văn K - Chủ hiệu cầm đồ cùng với sự có mặt của bị hại Lê Anh D, đã xác định chiếc xe đạp này có giá trị từ 200.000đ đến 250.000đ và được bị hại đồng ý với mức giá trên Để khách quan hơn, cơ quan điều tra Công an huyện TL đã tiến hành xác minh trị giá chiếc xe tang vật với ông Nguyễn Đăng H - Chủ hiệu cầm đồ, lần này ông H đã xác định trị giá chiếc xe này có giá trị từ 300.000đ đến 350.000đ Không bằng lòng với việc xác định trị giá chiếc xe tang vật vụ án của hai chủ hiệu cầm đồ nói trên, cơ quan điều tra Công

an huyện TL đã ra quyết định trưng cầu giám định ngày 20/01/2003, với nội dung: Trưng cầu Phòng tài chính vật giá huyện TL để tiến hành định giá tài sản Việc ra quyết định này của Cơ quan điều tra Công an huyện TL đã vi phạm Điều 4 Nghị định

số 117/HĐBT ngày 21/7/1988, vì đã trưng cầu giám định Phòng vật giá tài chính huyện TL, là cơ quan cấp huyện không có thẩm quyền giám định tư pháp và không có giám định viên tư pháp theo quy định pháp luật

Do áp dụng các quy định về định giá tài sản, thi hành án theo Thông tư số 05-89/TTLN ngày 06/12/1989 của TATC, BTC, UBVGNN về Hội đồng định giá, Phòng vật giá tài chính huyện và Viện kiểm sát huyện TL (không có mặt đại diện TAND huyện) đã cùng nhau họp và lập "Biên bản về việc định giá xe đạp" vào ngày 22/01/2003 tại Công an huyện TL và định giá chiếc xe đạp tang vật có trị giá là: 600.000đ Trong khi đó, chiếc xe đạp tang vật là một chiếc xe đạp liên doanh hiệu

Trang 9

KaSaMi Nếu chiếc xe này còn mới nguyên, theo giá thị trường có giá bán: 560.000đ

đã bao gồm thuế VAT 10% (Tại Báo giá ngày 13/08/02 của Cty xe đạp xe máy Thống nhất, nơi sản xuất và bán ra thị trường loại xe đạp trên) Ngoài ra, chiếc xe đạp tang vật đã được bị hại Lê Văn D sử dụng liên tục hơn một năm (Biên bản lấy lời khai ngày 28/01/2003) Vì vậy, chiếc xe đạp tang vật này chỉ còn tối đa 70% giá trị ban đầu, do đó không thể có giá trị là: 600.000đ, trong khi giá trị của chiếc xe đạp xác định theo gia thị trường thấp hơn nhiều Việc các cơ quan chức năng của huyện TL cùng nhau họp và ra kết luận tại biên bản ngày 22/01/2003 về định giá chiếc xe đạp tang vật không những trái với Quyết định trưng cầu giám định ngày 20/01/2003 của

Cơ quan điều tra Công an huyện TL, mà còn trái các quy định pháp luật về giám định

tư pháp Vì vậy, biên bản định giá này không có giá trị pháp lý để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lương Văn T Ngoài ra, biên bản định giá này còn

vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số117/HĐBT về: "Nhiệm vụ của giám định viên": "Kết luận giám định bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận đó"

Như vậy, việc định giá chiếc xe tang vật vụ án này là không đúng căn cứ pháp luật hình sự và không thể trở thành chứng cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lương Văn T về tội trộm cắp tài sản Tại phiên toà xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T, trong phần tranh luận, khi Luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị đại diện VKS đưa ra quy định pháp luật cụ thể về giám định tư pháp để chứng minh việc định giá chiếc xe đạp tang vật như trên là đúng pháp luật, thì nhận được câu trả lời:

Từ trước đến bây giờ vẫn tiến hành như thế có sao đâu!??

Như vậy, trong một thời gian dài các cơ quan tiến hành tố tụng đã xem nhẹ việc định giá tài sản bị xâm hại để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng vi phạm pháp luật, vì vậy đã để xảy ra nhiều vụ án chưa đúng người đúng tội

III – NGUYÊN NHÂN CỦA VI PHẠM PHÁP LUẬT KHI TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẶN CHẾ HIỆN TƯỢNG NÀY

1 Nguyên nhân của vi phạm pháp luật khi tiến hành hoạt động điều tra

Có thể thấy rằng để dẫn đến những vi phạm pháp luật nghiêm trọng như trên đều

do xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Trang 10

- Hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của chủ thể tiến hành tố tụng Trình

độ pháp luật, nghiệp vụ của ĐTV, KSV, Thẩm phán và hội thẩm vẫn còn nhiều hạn chế, do có nhiều trường hợp vận dụng không đúng quy định của pháp luật vào thực tiễn dẫn đến kết quả của hoạt động điều tra không cao

- Sự thiếu trách nhiệm hoặc sự cố ý VPPL của một số chủ thể tiến hành tố tụng khi thực hiện nhiệm vụ được giao Các động cơ không lành mạnh như vì thành tích

cá nhân, tập thể hoặc động cơ vụ lợi của một số chủ thể khiến tình trạng oan sai ngày một gia tăng Hay như tình trạng bị can, bị cáo mua chuộc ĐTV, KSV, Thẩm phán bằng những lợi ích khác nhau nhằm tác động vào ý muốn chủ quan của người tiến hành tố tụng với mong muốn làm sai lệch sự thật vụ án

- Sự thiếu chặt chẽ trong việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong khi tiến hành các hoạt động điều tra Nhiều trường hợp dù phát hiện thấy có dấu hiệu

vi phạm thủ tục tố tụng của CQĐT khi tiến hành hỏi cung bị can nhưngVKS không tiến hành kiểm tra, xác minh mà vẫn ra quyết định truy tố, Tòa Án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà vẫn ra bản án, sai phạm không được khắc phục kịp thời dẫn đến tình trạng oan sai

- Sự quá tải trong hoạt động điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng, lực lượng cán bộ phụ trách công tác điều tra không đủ về số lượng theo yêu cầu thực tiễn của hoạt động này Cùng với đó là cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện làm việc của các

cơ quan tiến hành tố tụng nhìn chung còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc Mà chủ yếu là phục vụ cho hoạt động giám định tư pháp

- Sự thiếu hiểu biết về pháp luật của công dân, do ko nắm vững pháp luật, nhất là pháp luật hình sự và TTHS, nhiều công dân không đủ khả năng tự vệ, bảo vệ quyền

và lợi ích của mình khi tham gia tố tụng vì vậy mà tình trạng VPPL trong các hoạt động điều tra vẫn không được giảm là mấy

2 Một số kiến nghị nhằm hạn chế hiện tượng VPPL khi tiến hành các hoạt động điều tra.

- Cần kịp thời nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ pháp luật cho chủ thể tiến hành tố tụng bằng cách: phải đảm bảo chất lượng của đội ngũ ĐTV, KSV, Thẩm phán Trước khi tuyển cán bộ vào công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo để người đó có đủ tiêu chuẩn như có đầy đủ kiến thức về pháp luật, có trình độ nghiệp vụ; trước khi bổ nhiệm ĐTV, KSV, Thẩm phán phải xem xét kĩ khả năng thực tế thực hiện nhiệm vụ được giao; quan tâm chú trong công tác đào tạo cho

Ngày đăng: 30/01/2016, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w