1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ

24 693 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 256 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theoquy định của khoản 3, 4, 5 Điều 652 BLDS thì đối với di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và công chứng hoặc

Trang 1

BÀI LÀM:

Khi đời sống vật chất của con người ngày càng cao thì việc định đoạt tài sảncủa mình trước khi chết thông qua việc lập di chúc là một nhu cầu tất yếu và phổbiến Tuy nhiên, để bản di chúc đó phát sinh có hiệu lực, trong việc phân chia di sảnthừa kế thì cần tuân theo các các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, nộidung và hình thức của di chúc Hình thức của di chúc là một trong những yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến hiệu lực của bản di chúc nói riêng và việc phân chia disản thừa kế nói chung và cũng là một trong những nguyên nhân phát sinh các tranhchấp ở các vụ án về thừa kế theo di chúc

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.LÍ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC

1.1 THỪA KẾ THEO DI CHÚC

1.1.1 Khái niệm thừa kế theo di chúc

Thừa kế di sản nói chung là quá trình dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tàisản của người đã chết cho người còn sống Nếu việc dịch chuyển này được thực hiệntrên ý chí tự nguyện của người đã chết thể hiện trong di chúc mà họ để lại thì việcchuyển dịch này theo phương thức thừa kế theo di chúc Mặt khác, nếu việc dịchchuyển được thực hiện theo hàng thừa kế điều kiện và trình tự thừa kế theo pháp luậtquy định thì đó là phương thức dịch chuyển này là thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo di chúc là sự quy định của pháp luật để xác định khi nào việc dịchchuyển di sản của người đã chết cho người còn sống đượ thực hiện theo di chúc vàviệc thực hiện theo di chúc phải tuân theo ý chí định đoạt của người để lại di sản khi

mà ý chí đó là phù hợp theo quy định pháp luật

1.1.2 Các điều kiện chia thừa kế theo di chúc

Để di sản được phân chia theo di chúc thì cần phải đáp ứng được các điều kiệnsau:

Trang 2

+ Điều kiện thứ nhất: bản di chúc hợp pháp

Một di chúc được coi là hợp pháp khi nó đáp ứng được các điều kiện sau: ngườilập di chúc phải là người có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của di chúckhông trái với pháp luật và đạo đức xã hội; người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện

và hình thức của di chúc phù hợp với quy định của pháp luật Ngoài ra do di chúc làmột giao dịch dân sự đơn phương nên BLDS nước ta còn quy định một số vấn đềkhác trong quá trình lập di chúc mà người lập phải tuân theo nhằm tăng cường tínhxác thực của bản di chúc để qua đó bảo vệ ý nguyện của người để lại di sản Theoquy định của khoản 3, 4, 5 Điều 652 BLDS thì đối với di chúc của người bị hạn chế

về thể chất hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản

và công chứng hoặc chứng thực; với di chúc bằng văn bản không có công chứnghoặc chứng thực phải do chính người lập di chúc viết tay và kí vào bản di chúc; với

di chúc miệng thì người di chúc miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trướcmặt ít nhất 2 người làm chứng và sau đó họ cùng kí tên hoặc điểm chỉ, trong thờihạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phảiđược công chứng, chứng thực

+ Điều kiện thứ hai: di chúc phải phát sinh hiệu lực pháp luật.

Một di chúc hợp pháp, không bị sửa đổi, thay thế hay hủy bỏ vẫn có thể không

có hiệu lực pháp luật vì những ngyên nhân ngoài ý chí của người lập di chúc làmcho di chúc không thể thực hiện được Đó là di chúc rơi vào một trong các trườnghợp sau:

Một là người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập

di chúc

Hai là người thừa kế khước từ quyền hưởng di sản.

Ba là người thừa kế theo di chúc không được quyền hưởng di sản.

Bốn là di sản được xác định trong di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế.

1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI DI CHÚC

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm di chúc

Điều 646 BLDS năm 2005 quy định: “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân

nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Trang 3

Di chúc có các đặc điểm sau:

Một là: di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể

nào khác

Hai là: mục đích của việc lập di chúc là nhằm dịch chuyển sản của người chết cho

người khác đã được xác định trong di chúc

Ba là: di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực pháp luật sau khi người lập di

chúc chết

1.2.2 Phân loại di chúc

Hình thức của di chúc là sự biểu hiện ý chí của người để lại di sản thừa kế rabên ngoài thế giới khách quan là sự chứa đựng nội dung của di chúc theo trình tự kếtcấu nhất định Có hai loại di chúc sau:

- Di chúc bằng văn bản: là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết có

chứng nhận hoặc không có chứng nhận của các cơ quan có thẩm quyền Di chúcbằng văn bản có các loại sau:

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực của ủy ban nhân dân xã ,phường, thị trấnchứng nhận của công chứng Nhà nước

+ Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng,chứng thực

- Di chúc miệng: là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế

lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác sau khi mìnhchết

1.3 HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ

1.3.1 Hình thức di chúc trong luật Hồng Đức

Pháp luật thời Lê có thừa nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc vàthừa kế theo pháp luật Theo Điều 390 Quốc triều hình luật thì cha mẹ nhiều tuổi vềgià phải có trách nhiệm lo làm chúc thư để lại tài sản cho con cái Di chúc được viếtdưới dạng văn bản được gọi là chúc thư

Trang 4

1.3.2 Hình thức di chúc trong luật Gia Long

So với thời Lê, thời Nguyễn mà cụ thể là trong bộ Hoàng Việt luật lệ có rất ítcác chế định liên quan đến thừa kế Đối với hình thức thừa kế theo di chúc thì trongHoàng việt luật lệ không quy định mà chỉ quy định về người thừa kế theo di chúc cóquyền hưởng di sản sau khi cha mẹ chết ( Mục 10 quyển 6 Hộ luật)

1.3.3 Hình thức di chúc dưới thời pháp thuộc

Pháp luật thời kì này công nhận hai hình thức chia thừa kế là chia theo di chúc

và chia theo pháp luật

1.3.4 Giai đoạn từ 1945 đến nay

Vấn đề hình thức của di chúc chưa được đề cập nhiều trong pháp luật giai đoạn

1945 đến thời kì đổi mới Trong Thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết tranh chấp vềthừa kế ban hành ngày 24/ 7/1981; Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990; trong Bộ luậtdân sự năm 1995 và trong cả bộ luật dân sự năm 2005 đều quy định về hình thức dichúc; có 2 hình thức di chúc đó là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản

2.HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

2.1 DI CHÚC BẰNG VĂN BẢN( Điều 653)

Để bản di chúc thể hiện dưới thể thức bằng văn bản có hiệu lực pháp lí là cơ sở

pháp lí để bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể, người lập di chúc cần phải đápứng các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết như sau:

- Di chúc phải ghi rõ ngày tháng, năm lập di chúc

Đây là nội dung hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc xác địnhđược tại thời điểm đó người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự, có minh mẫnhay không, đã đủ tuổi lập hay chưa? Mặt khác việc xác định ngày tháng nă lập dichúc nhằm xác định di chúc nào là biểu hiện ý chí sau cùng của người chết và là dichúc có hiệu lực pháp luật Ngoài ra căn cứ vào ngày tháng năm lập di chúc, có thêtxác định pháp luật hiện hành để điều chỉnh di chúc đó

- Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc

Theo quy định của pháp luật thì địa điểm mở thừa kế, nơi đăng kí từ chối nhận

đi sản thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi có tranh chấp đều được xác định thông

Trang 5

qua nơi cư trú của người lập di chúc do đó trong di chúc phải xác định rõ nơi cư trúcủa người lập là điều càn thiết.

- Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản

Những người được hưởng thừa kế theo di chúc có thể là tổ chức, cá nhân bất kì,bằng ý chí của mình, người lập di chúc có thể định đoạt cho bất kì ai được hưởng disản của mình

-Di chúc phải ghi rõ di sản và nới có di sản

Di chúc có ghi rõ di sản thì giúp xác định được người lập di chúc có tài sản nào

và được phân định ra sao Nhờ vào địa điểm ghi trong di sản mà những người đượcthừa kế dễ dàng xác định đươc địa điểm tồn tại di sản sau khi người lập di chúc chết

- Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa

vụ Theo nguyên tắc, tất cả những người thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ về tàisản do người chết để lại trên cơ sở tương ứng với kỉ phần tài sản mà họ đượchưởng

- Di chúc không được viết tắt hoặc viết kí hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗitrang phải được đánh số thứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập di chúc

Do di chúc là sự thể hiện ý chí của người chết nên để di chúc được rõ ràng, cụthể, tránh sự tranh cãi giữa những người thưà kế sau này thì người lập di chúc khôngđược viết tắt hoặc dùng kí hiệu để biểu đạt ý chí của mình Ngoài ra pháp luật cònquy định để đảm bảo tính khách quan và chính xác cho bản di chúc và ý chí củangười lập trong trường hợp bản di chúc có nhiều trang thì pháp luật yêu cầu ngườilập di chúc đánh số trang theo thứ tự và phải kí hoặc điểm chỉ vào từng trang của dichúc nhằm tránh tình trạng người khác thêm bớt, giả mạo hay thay thế từng trangcủa di chúc làm sai lệch ý chí của người lập di chúc

2.1.1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng ( Điều 655)

Người lập di chúc có thể lựa chọn hình thức của di chú c bằng văn bản màkhông cần có người làm chứng Tuy nhiên, đối với di chúc bằng văn bản không có

người làm chứng này thì: ‘người lập di chúc phải tự viết tay và kí vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng còn phải tuân theo quy định tại Điều 653 của Bộ luật này”

Trang 6

Như vậy, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là loại di chúc đượclập theo hình thức văn bản do vậy nó phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luậtquy định chung đối với các loại di chúc bằng văn bản theo Điều 653 Ngoài ra, trongtrường hợp người lập di chúc tự mình viết và kí vào bản di chúc mà không có ngườilàm chứng, không công chứng hoặc chứng thực vẫn có giá trị pháp lí tuy nhiên khiphân chia di sản theo di chúc, nếu có người không đồng ý đó là di chúc hợp pháp thìcũng phải giám định chữ viết và chữ kí của người lập di chúc Do vậy, để đảm bảotính xác thực của loại di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì di chúcphải do chính tự tay người lập di chúc viết và kí tên nên loại di chúc này cần đápứng đủ hai điều kiện nữa đó là : nó phải do chính tay người lập di chúc viết và kítên Nếu một bản di chúc được đánh máy rồi người lập di chúc kí tên thì bản di chúc

đó cũng không được chấp nhận mặc dù đã có chữ kí của người lập di chúc Hay mặtkhác, nếu bản di chúc đó do chính người lập di chúc viết nhưng lại không kí tên tùytừng trường hợp xác định giá trị pháp lí của di chúc Nếu giám định đúng chữ viếtcủa người lập di chúc thì phải công nhận bản di chúc đó Nếu giám định di chúc mà

nó không đúng là chữ viết của người lập di chúc thì không được chấp nhận Mụcđích của quy định nếu di chúc không có người làm chứng, không công chứng, chứngthực nếu xác định được đúng ý chí của người lập di chúc thì di chúc có giá trị, vì thếnếu xác định được chữ viết của người lập di chúc đó chính là ý chí của họ và ý chínày phải được pháp luật công nhận

Tuy nhiên, mặc dù pháp luật không quy định nhưng đối với trường hợp ngườilập di chúc tự tay viết di chúc, kí tên vào bản di chúc thì họ cũng có thể nhờ ngườikhác làm chứng cho di chúc mà mình đã lập

Xuất phát từ thực tế là có rất nhiều trường hợp vì một lí do hay trở ngại nào đó

mà người lập di chúc muốn giữ bí mật về nội dung của bản di chúc hoặc do trình độhiểu biết chưa cao nên người lập di chúc không được đi công chứng, chứng nhận tại

cơ quan có thẩm quyền hoặc không nhờ bất kì một ai làm chứng Do đó để thực hiệnđúng nguyên tắc bảo đảm quyền định đoạt của người lập di chúc thì pháp luật vẫnthừa nhận giá trị pháp lí của di chúc đó nếu nó đáp ứng được các điều kiện trên

Trang 7

Tuy nhiên cũng từ thực tế một vấn đề được đặt ra là vợ chồng có thể lập di chúcchung theo hình thức di chúc bằng văn bản không có người làm chứng?

Điều 655 BLDS quy định về lập di chúc viết tay của cá nhân: “người lập di

chúc phải tự tay viết và kí vào bản di chúc” Như vậy, về mặt logic, hai người không

thể cùng lúc viết cùng một nội dung trên cùng một tờ di chúc được Vậy, phải từngngười viết xong rồi từng người kí vào bản di chức Vấn đề đặt ra là di chúc do mộtngười viết và người kia chỉ kí tên vào di chúc thì có hiệu ực pháp luật không? Nếuchỉ một người viết di chúc toàn bộ rồi cả 2 kí thì không đảm bảo thủ tục lập di chúcviết tay, dễ dẫn đến sự ngụy tạo chữ kí mà không có cơ sở giám định bút tích ngườilập di chúc Nhưng cả hai viết thì và thay nhau viết bằng chữ viết của chính mình thìkhông thể thực hiện được trên thực tế vì như vậy là hai người phải cùng nhau viếtgiống nhau về một nội dung thành hai đoạn khác nhau trên cùng một tờ di chúc, nếuthế thì giống di chúc cá nhân hơn Một bên cũng không thể ủy quyền cho người kiathay mặt viết di chúc vì đã trái với nguyên tắc di chúc viết tay phải tự viết trực tiếpbằng chữ viết tay Như vậy, di chúc chung của vợ chồng thể hiện được dưới dạnghình thức văn bản không có người làm chứng là rất khó có thể thực hiện được

2.1.2 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng ( Điều 656)

Xuất phát từ những điều kiện khách quan nên không phải ai cũng có thể tựmình xác lập di chúc bằng văn bản để định đoạt tài sản của mình cho người khác saukhi chết Ví dụ như người lập di chúc biết chữ nhưng không thể tự mình viết bản dichúc thì vẫn có thể nhờ người khác viết giúp Vì vậy, để khắc phục tình trạng trênpháp luật có quy định loại di chúc bằng văn bản có người làm chứng tại Điều 656

BLDS: “trong trường hợp người lập di chúc khong thể tự mình viết bản di chúc thì

có thể nhờ người khác viết , nhưng ít nhất pảh có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc

và kí vào bản di chúc” Theo quy định, có thể vì lí do nào đấy như người lập di chúc

bị ốm, không biết chữ mà không thể tự mình viết di chúc thì họ có thể nhờ ngườikhác viết di chúc và bản di chúc này vẫn được chấp nhận và có giá trị pháp lí mặc dù

nó không được người lập di chúc viết ra nếu đáp ứng được yêu cầu ở Điều 653,

Trang 8

BLDS và yêu cầu sau: khi lập di chúc phải có ít nhất hai người làm chứng và ngườilập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng

và đồng thời bản di chúc này phải có chữ kí và sự xác nhận của những người làmchứng về chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc Tuy nhiên không phải ai cũng cóthể làm chứng cho việc lập di chúc nên để đảm bảo tính khách quan những ngườilàm chứng trong di chúc cũng cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại Điều 654

BLDS: “mọi người đều có thể làm nhân chứng cho việc lập di chúc, trừ những

người sau đây:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc

2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc

3 Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có đủ năng lực hành vi dân sự”

Nói tóm lại, nếu thiếu một trong những yếu tố đó thì tư cách của người làmnhân chứng sẽ không được thừa nhận điều này có nghĩa là loại di chúc bằng văn bản

có người làm chứng sẽ không được thừa nhận và không có hiệu lực pháp luật

Với quy định về loại di chúc bằng văn bản như trên ta có thể dễ dàng nhận thấy

nó sẽ áp dụng để vợ chồng có thể lập di chúc chung dưới hình thức di chúc bằng vănbản có người làm chứng Vì:

Di chúc bằng văn bản có người làm chứng của cá nhân cho phép người lập dichúc được nhờ người khác viết hộ rồi sau đó người xác lập di chúc sẽ xem xét lại và

và kí tên vào bản di chúc trước mặt người làm chứng Vì vậy, trong trường hợp vợchồng muốn lập di chúc chung theo hìn thức này thì chỉ cần hai vợ chồng thống nhất

ý chí với nhau rồi vợ hoặc chồng sẽ viết nội dung của di chúc và kí tên rồi cđưa chongười kia kí hoặc điểm chỉ vào di chúc trước mặt người làm chứng, cách làm nhưuvậy hoàn toàn hợp lí với quy định trên: vợ có thể viết hộ chồng hoặc ngược lại

2.1.3 Di chúc có công chứng hoặc chứng thực( Điều 657, 658)

Ngoài hình thức bằng văn bản có người làm chứng, không có người làm chứng,người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực vào bản di chúc Công chứng, chứng thực di chúc là việc công chứng viên( đối với công chứng),người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân( đối với chứng thực) chứng nhận tínhchính xác tính xác thực, tính hợp pháp của di chúc bằng văn bản mà theo quy định

Trang 9

của pháp luật, di chúc phải được công chứng, chứng thực hoặc người lập di chúc tựnguyện yêu cầu công chứng, chứng thực

Theo quy định tại Điều 657, 658, 659 BLDS có quy định về các yêu cầu vàtrình tự thủ tục lập loại di chúc có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhândân xã, phường, thị trấn như sau: Mục đích của việc công chứng là nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước tổ chức kinh tế, tổchức xã hội góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội

chủ nghĩa Theo Điều 48 Luật công chứng quy định rõ: “người lập di chúc phải tự

mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc” do vậy, người lập di chúc phải tự mình đến cơ quan yêu cầu công

chứng viên công chứng di chúc mà không thể nhờ người khác công chứng hộ Tuynhiên, Điều 39 Luật công chứng năm 2006 quy định thì trong một số trường hợp đặcbiệt viết di chúc sẽ được tiến hành ở nhà mà không nhất thiết phải đến tận cơ quancông chứng để chứng thực Trường hợp tự mình đến cơ quan công chứng thì ngườilập di chúc phải tự tay mình viết bản di chúc và có yêu cầu công chứng viên chứngnhận hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực thì người lập di chúcphải kí vào bản di chúc trước mặt người có thẩm quyền chứng nhận hoặc chứngthực

Nếu người để lại di sản đến lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc Uỷ bannhân dân xã, phường, thị trấn hoặc di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở củangười để lại di sản thì việc lập di chúc sẽ được thực hiện như sau: người lập di chúctuyên bố nội dung của di chúc cho công chứng viên hoặc người có thẩm quyềnchứng thực nghe Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực ghi chéplại đầy đủ nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố trước đó Sau khi đã xác nhậncông chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực đã ghi chép chính xác và thểhiện đúng ý chí của mình thì người lập di chúc kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc đó.Sau cùng công chứng viên hoặc người có thẩm quyền sẽ kí vào đó Tại khoản 2Điều 658 BLDS quy định nếu trong trường hợp lập di chúc không đọc được hoặckhông nghe được bản di chúc, không kí hoặc không điểm chỉ được thì phải có ngườilàm chứng, người làm chứng phải đọc lại bản di chúc và nếu thấy việc ghi chép

Trang 10

đúng với ý chí nguyện vọng của người lập di chúc thì kí xác nhận vào bản di chúctrước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền

Ngoài ra, công chứng viên và người có thẩm quyền chứng thực tại Uỷ bannhân dân cũng phải đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 69 BLDS về người không

được công chứng, chứng thực để đảm bảo tính khác quan cho di chúc “công chứng

viên, người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu họ là:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc thoe pháp luật của người lập di chúc

2 Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc của người lập di chúc.

3 Người có quyền và nghĩa vụ vè tài sản liên quan đến nội dung di chúc”

2.1.4 Di chúc bằng văn bản có gía trị như di chúc được công chứng, chứng thực ( Điều 660)

Ngoài hình thức bằng văn bản có người làm chứng, không có người làm chứng,người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực vào bản di chúc Công chứng, chứng thực di chúc là việc công chứng viên( đối với công chứng),người có thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân( đối với chứng thực) chứng nhận tínhchính xác tính xác thực, tính hợp pháp của di chúc bằng văn bản mà theo quy địnhcủa pháp luật, di chúc phải được công chứng, chứng thực hoặc người lập di chúc tựnguyện yêu cầu công chứng, chứng thực Ngoài ra để đáp ứng được di chúc có hiệulực và đáp ứng được thực tế khách quan trong một số hoàn cảnh đặc biệt đó yêu cầucủa công việc, do tình trạng sức khỏe, do đang phải thực hiện nghĩa vụ mà một số cánhân có nhu cầu lập di chúc nhưng không thể lập di chúc có chứng thực được Vìvậy, Điều 660, BLDS đã quy định các di chúc nếu có xác nhận của cơ quan có thẩmquyền cũng có giá trị như di chúc được chứng nhận, chứng thực là những di chúcsau:

- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đạiđội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng chứng thực được

Xuất phát từ lí do làm cho người lập di chúc không thể yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền chứng nhận hoặc chứng thực di chúc là: do người lập di chúc là quân

Trang 11

nhân đang làm nhiệm vụ, đóng quân xa ở nơi công chứng và ủy ban nhân dân cấp

xã, phường, thị trấn hoặc là do nhiệm vụ đặc biệt mà quân nhân đó không thể đicông chứng, chứng thực được mặc dù nơi công chứng, chứng thực gần nơi đóngquân Mặt khác quyền lập di chúc là quyền luôn được pháp luật ưu tiên bảo đảmthực hiện vì vậy với những lí do đó cá nhân không thể lập di chúc theo thủ tục cóchứng nhận được thì di chúc của họ chỉ cần có xác nhận vẫn có hiệu lực

- Di chúc của người đang đi trên máy bay, tàu biển có xác nhận của người chỉhuy phương tiện đó

Quy định này mang tính chất dự phòng do đặc thù của hai loại phương tiệnkhông có khả năng tiến hành công chứng và chứng thực tại cơ quan có thẩm quyềnkhi mà hai phương tiện này chưa hạ cánh hoặc chưa cập bến

Do vậy, trong trường hợp cá nhân đang đi lại hoặc làm việc trên hai loạiphương tiện này nếu có nhu cầu làm di chúc thì chỉ cần Cơ trưởng hoặc Thuyềntrưởng có thẩm quyền xác nhận di chúc trong lúc máy bay hoặc tàu biển chưa cậpbến và hạ cánh là bản di chúc đó cũng được thừa nhận

- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡngkhác khi có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó

- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu vùngrừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị

- Di chúc của cong dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơquan lãnh sự, đại diện cho ngoại giao ở nước đó

- Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đangchấp hành các biện pháp xử lí hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xácnhận của người phụ trách cơ sở đó

Từ những phân tích trên, ta thấy, những cá nhân muốn lập di chúc trong cáctrường hợp hoàn cảnh nói trên khi họ cho rằng tình trạng, sức khỏe tính mạng củamình đang bị đe dọa không cho phép họ chờ để lập một bản di chúc theo trình tự thủtục khác… Do đó, có một vấn đề được đặt ra cho các di chúc được lập ra trong hoàncảnh đó là sau khi di chúc được xác lập và có xác nhận rồi nhưng những hoàn cảnh

Trang 12

nói trên đã không còn thì hậu quả pháp lí của di chúc đó như thế nào thì vẫn chưađược quy định trong pháp luật.

2.2 DI CHÚC MIỆNG( Điều 651, khoản 5 Điều 652)

Di chúc miệng là sự thể hiện ý chí thông qua lòi nói của cá nhân nhằm chuyểndịch tài sản của mình cho người còn sống khác sau khi họ chết Không phải bất cứ

cá nhân nào cũng có thể được lập di chúc miệng

Xuất phát từ thực tế có nhiều trường hợp cá nhân rơi vào tình trạng không thểlập di chúc viết được khi mà khi muốn dịch chuyển tài sản của họ cho người thừa kếtheo ý chí của họ Do vậy, để đảm bảo một cách tuyệt đối quyền định đoạt tài sảncủa mình cho người khác sau khi chết dù không được thể hiện theo hình thức viết thì

nó vấn được thừa nhận là một di chúc hợp pháp Tuy nhiên, Di chúc này phải tuânthủ nghiêm ngặt các yêu cầu mà pháp luật đã quy định như sau:

Theo quy định tại Điều 651 BLDS ; “Trong một số trường hợp tính mạng một

người đã chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà khoogn thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”

Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 652 BLDS : “di chúc miệng được coi

là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất là hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Trong thời gian năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”.

Với quy định trên ta nhận thấy chỉ khi nào tính mạng của một người lâm vàotình trạng nguy kịch không lập được di chúc bằng văn bản được vì nếu lập bằng vănbản thì sẽ không kịp để họ thể hiện ý chí nguyện vọng cuối cùng của họ trong việcdịch chuyển tài sản của mình sang cho người khác sau khi họ chết nên buộc phải dichúc miệng và di chúc này sẽ được thừa nhận Tuy nhiên, do ý chí được thể hiệnthông qua lời nói nên tính xác thực của nó không cao, dễ bị phản bác và xảy ra tranhchấp vì vậy pháp luật đã quy định sự thể hiện ý chí bằng lời nói của người để lại disản phải là sự thể hiện cuối cùng và có sự chứng kiến của ít nhất của hai người làmchứng và phải chỉ người làm chứng ghi lại thành văn bản lời di chúc đó Mặt khác,

Ngày đăng: 30/01/2016, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w