Theo quy định tại khoản 19 điều 6 LCK thì “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư
Trang 1ĐỀ BÀI
Bình luận mức độ phù hợp của các quy định hiện hành với cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LCK : Luật chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010)
TTCK : Thị trường chứng khoán UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước
TNHH : trách nhiệm hữu hạn
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I Khái quát chung ……… 4
1 Các quy định của pháp luật hiện hành về mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt nam ………4
a Công ty chứng khoán……… 4
b Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán ……… 5
c Công ty đầu tư chứng khoán ……… 5
d Các chủ thể khác ……… 6
2 Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam ………6
a Công ty chứng khoán ……… 8
b Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán ………9
c Công ty đầu tư chứng khoán ………9
d Các chủ thể khác ………10
II Mức độ phù hợp của các quy định hiện hành với cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam ……… 10
1 Về hình thức của các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam ……… 10
2 Về thủ tục thành lập, tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam ………11
III Phương hướng hoàn thiện ……….16
C KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3A MỞ ĐẦU
Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động quan trọng và chủ yếu trên thị trường chứng khoán, và nhân tố không thể không kể đến khi nói đến hoạt động kinh doanh chứng khoán đó là “chủ thể kinh doanh chứng khoán”
Pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã quy định rõ về các loại chủ thể kinh doanh chứng khoán cùng với những nội dung kinh doanh được phép tiến hành cho mỗi loại chủ thể Theo đó, pháp luật Việt Nam quy định các mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán bao gồm: công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư và một số chủ thể cung cấp dịch vụ khác có liên quan Nhưng trong thời điểm hiện nay, khi xu hướng toàn cầu hóa là tất yếu, và với việc Việt Nam tham gia rất nhiều các cam kết quốc tế, trong đó có các cam kết quốc tế về các lĩnh vực dịch vụ tài chính, thì câu hỏi đặt ra là liệu các mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán ở Việt Nam có đầy đủ, giống với trên thế giới và các văn bản Việt Nam tham gia ký kết với nước ngoài không? Bài tiểu luận dưới đây trình bày về
vấn đề: “Bình luận mức độ phù hợp của quy định hiện hành với cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.” Bài viết phân tích về các mô hình chủ thể, đưa ra những
nhận xét pháp lý và phương hướng hoàn thiện
Trang 4B NỘI DUNG
I Khái quát chung
1 Các quy định của pháp luật hiện hành về mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt nam.
Theo quy định tại khoản 19 điều 6 LCK thì “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu
tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán” Như vậy, chủ thể kinh
doanh chứng khoán là các pháp nhân được pháp luật cho phép thực các nghiệp vụ trên trong lĩnh vực chứng khoán
Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh, dịch vụ trên thị trường chứng khoán có nhiều loại chủ thể kinh doanh khác nhau như: công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và một số chủ thể khác có cung cấp các dịch vụ có liên quan
a Công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một tên gọi chỉ một loại doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán Đây là loại chủ thể kinh doanh chứng khoán chủ yếu và quan trọng nhất
Hiện nay, tại Luật chứng khoán Việt Nam không có định nghĩa về công ty chứng khoán Tuy nhiên, qua các quy định cụ thể trong Luật chứng khoán có thể khái
quát định nghĩa về công ty chứng khoán như sau: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các các quy định của pháp luật có liên quan để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theo giấy phép do UBCKNN cấp: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
* Đặc điểm của công ty chứng khoán:
Trang 5- Hoạt động kinh doanh chứng khoán là hoạt động thường xuyên, có tính nghề nghiệp của công ti chứng khoán (cụ thể tại điều 60 Luật chứng khoán Việt Nam)
- Hình thức tổ chức: công ti cổ phần hoặc công ti TNHH;
- Phương diện quản lý nhà nước: Công ty chứng khoán chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của UBCKNN;
- Pháp luật điều chỉnh: Luật chứng khoán Việt Nam
Đồng thời Luật chứng khoán Việt Nam có quy định cụ thể các điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán tương tự như pháp luật các nước khác
b Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
Công ty quản lý quỹ là doanh nghiệp theo mô hình công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành lập để hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh khác có liên quan
* Đặc điểm của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán:
- Được thành lập và hoạt động theo sự cho phép của UBCKNN
- Nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ bao gồm: quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán (khoản 1 điều 61 LCK) Hoạt động chính của công ty quản lý quỹ là hoạt động quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán theo sự ủy thác của các nhà đầu tư vào quỹ hoặc sự ủy thác của các nhà đầu tư riêng lẻ Hoạt động quản lý quỹ đầu tư bao gồm việc nắm giữ tài sản của quỹ, trực tiếp tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán từ nguồn vốn của quỹ, quản lý danh mục đầu tư của quỹ…
c Công ty đầu tư chứng khoán.
Công ti đầu tư chứng khoán là công ti được thành lập từ vốn góp của nhà đầu tư và sử dụng số vốn đó đầu tư chủ yếu vào chứng khoán, nhằm tìm kiếm lợi nhuận
* Đặc điểm của công ty đầu tư chứng khoán:
- Các nhà đầu tư là cổ đông của công ti đầu tư chứng khoán
Trang 6- Cổ phiếu có thể được chào bán riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng tuỳ thuộc hình thức của công ti đầu tư chứng khoán đại chúng hay riêng lẻ
- Có tư cách pháp nhân
- Có bộ máy hoàn chỉnh; tự quản lý hoạt động đầu tư của mình
- Việc huy động vốn thành lập công ti do công ti đảm nhiệm
Theo Điều 97 Luật chứng khoán đã được sửa đổi bổ sung thì công ty chứng khoán được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp để đầu
tư chứng khoán và Ủy ban chứng khoán nhà nước sẽ cấp giấy phép hoạt động cho loại hình công ty này
Công ty đầu tư chứng khoán được thực hiện các hoạt động cụ thể theo Luật chứng khoán: tuân thủ các hạn chế về đầu tư theo quy định về hạn chế đầu tư tại Điều
92 cùng Luật; các nội dung liên quan đến định giá tài sản và báo cáo tài sản quy định tại Điều 88, 89
d Các chủ thể khác
Ngoài các chủ thể trên, theo quy định của pháp luật còn một số chủ thể khác được pháp luật cấp phép hoạt động trong một số nghiệp cụ nhất định của kinh doanh chứng khoán, chủ yếu là lưu ký chứng khoán Các chủ thể này có thể là Trung tâm lưu ký chứng khoán, các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm,…
Ngoài nghiệp vụ lưu ký chứng khoán, các ngân hàng thương mai hay công ty bảo hiểm muốn thực hiện các nghiệp vụ khác trong kinh doanh chứng khoán đều phải thành lập những công ty con là công ty chứng khoán thì mới được UBCKNN cấp phép để hoạt động
2 Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Khi gia nhập WTO Việt Nam đã ký kết các cam kết quan trọng, trong đó có cam kết WTO về Ngân hàng – Chứng khoán, Việt Nam cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp các dịch vụ chứng khoán sau tại Việt Nam:
Trang 71 Giao dịch cho tài khoản của mình hoặc tài khoản của khách hàng tại sở giao
dịch chứng khoán, thị trường giao dịch trực tiếp (OTC) hay các thị trường
khác những sản phẩm sau:
- Các công cụ phái sinh, bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền lựa chọn;
- Các chứng khoán có thể chuyển nhượng;
- Các công cụ có thể chuyển nhượng khác và các tài sản tài chính, trừ vàng khối (Các dịch vụ này bao gồm cả nghiệp vụ môi giới)
2 Tham gia vào các đợt phát hành mọi loại chứng khoán, bao gồm bảo lãnh
phát hành, và làm đại lý bán (chào bán ra công chúng hoặc chào bán riêng), cung cấp các dịch vụ liên quan đến các đợt phát hành đó);
3 Quản lý tài sản (bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý
đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);
4 Các dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, các công cụ phái sinh và các sản phẩm liên quan đến chứng khoán khác;
5 Cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan của các nhà
cung cấp dịch vụ chứng khoán
Ngoài ra, Việt Nam cam kết cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động chứng khoán ở Việt Nam dưới các hình thức và điều kiện sau đây:
- Văn phòng đại diện (với điều kiện các văn phòng đại diện không được thực hiện các hoạt động kinh doanh sinh lời trực tiếp);
- Liên doanh với đối tác Việt Nam (với điều kiện tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49%);
- Doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn nước ngoài (kể từ 11/1/2012);
- Chi nhánh của công ty chứng khoán nước ngoài (kể từ 11/1/2012 và kèm theo điều kiện hoạt động của chi nhánh chỉ giới hạn ở cung cấp các dịch vụ quản lý tài
Trang 8sản, thanh toán và thanh toán bù trừ chứng khoán, cung cấp và chuyển thông tin tài chính, các phần mềm liên quan
Như vậy, đối với mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán mặc dù không chỉ chính xác tên các loại hình nhưng cũng thể hiện thiện chí của Viêt Nam khi tiến hành
ký các cam kết Theo những cam kết này, Việt Nam gián tiếp thừa nhận các mô hình chủ thể đặc trưng của hoạt động kinh doanh chứng khoán
Tuy nhiên, để đưa ra một cách nhìn toàn diện, chi tiết hơn về mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán, mức độ phù hợp theo quy định hiện hành của Việt Nam thì có thể tìm hiểu về mô hình chủ thể kinh doanh chứng khoán chung trên thế giới
a Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứng khoán: mô hình công ty đa năng và mô hình công ty chuyên doanh
Thứ nhất: Theo mô hình công ty đa năng là loại công ty chứng khoán được
thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thuộc về nhiều công ty chứng khoán khác nhau Mô hình này có ưu điểm là có thể bổ trợ, bổ sung cho nhau giữa các nghiệp vụ, các lĩnh vực khác nhau nên sức “chống chịu” với những thay đổi cũng lớn hơn, phù hợp với những thị trường chứng khoán mới hình thành hoặc những thị trường chứng khoán nhỏ, chưa phát triển Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là kĩ năng nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán không mạnh, dẫn đến xung đột lợi ích giữa các nghiệp vụ các lĩnh vực, Nhà nước khó khăn trong việc quản lý và giám sát hoạt động của công ty chứng khoán, dễ dẫn đến rủi ro và tác động dây chuyền cho cả hệ thống tài chính (bởi mô hình này thường do các ngân hàng, các công ty bảo hiểm thực hiện, mà các chủ thể này có vai trò và tác động rất lớn đến thị trường tài chính)
Thứ hai: Mô hình công ty chuyên doanh kinh doanh chứng khoán do các công
ty chứng khoán độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận Mô hình này có ưu điểm là tạo cho công ty chứng khoán có tính chuyên môn hóa, chuyên
Trang 9nghiệp cao, hạn chế được xung đột lợi ích giữa các nghiệp vụ kinh doanh trong một công ty chứng khoán Đồng thời Nhà nước dễ quản lý, giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán, giảm bớt rủi do trong hệ thống tài chính (cụ thể là hệ thống ngân hàng) chính điểm này đã khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh doanh chuyên môn hoá, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán Tuy nhiên mô hình này chỉ phù hợp với nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển
Ngày nay với sự phát triển của thị trương chứng khoán, để tận dụng thế mạnh của lĩnh vưc tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành mô hình công ty
đa năng một phần – các ngân hàng thương mại thành lập công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán
b Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Công ty quản lý quỹ là công ty thực hiện việc điêu hành, quản lý các quỹ đầu tư phù hợp với điều lệ quỹ và làm tăng giá trị tài sản quỹ
Khách hàng của công ty quản lý quỹ thường là các nhà đầu tư có tổ chức: các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính…chức năng của công ty quản lý quỹ là thực hiện việc đầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng sao cho phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ mà khách hàng đã lựa chọn
c Công ty đầu tư chứng khoán.
Công ti đầu tư chứng khoán là công ti được thành lập từ vốn góp của nhà đầu tư và sử dụng số vốn đó đầu tư chủ yếu vào chứng khoán, nhằm tìm kiếm lợi nhuận
* Đặc điểm của công ty đầu tư chứng khoán:
- Các nhà đầu tư là cổ đông của công ti đầu tư chứng khoán
- Cổ phiếu có thể được chào bán riêng lẻ hoặc chào bán ra công chúng tuỳ thuộc hình thức của công ti đầu tư chứng khoán đại chúng hay riêng lẻ
- Có tư cách pháp nhân,
- Có bộ máy hoàn chỉnh; tự quản lý hoạt động đầu tư của mình
- Việc huy động vốn thành lập công ti do công ti đảm nhiệm
Trang 10d Các chủ thể khác
Ngoài các chủ thể trên, chủ thể kinh doanh chứng khoán còn có:
- Công ty lưu ký và thanh toán bù trừ: là công ty thực hiện cung cấp dịch vụ lưu ký và thanh toán bù trừ cho các giao dịch trên thị trường chứng khoán
- Ngân hàng thương mại: tham gia kinh doanh chứng khoán thông qua thực hiện các nhiệm vụ: đầu tư chứng khoán, lưu ký, thanh toán trên thị trường chứng khoán
- Các tổ chức trung gian tài chính khác: công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu… các công ty này huy động vốn thông qua các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù của nó (ví dụ: công ty bảo hiểm huy động thông qua bán hợp đồng bảo hiểm, các quỹ hưu trí vốn do các thành viên đóng góp theo định kỳ…) với số vốn huy động được các công
ty này sẽ thực hiện đầu tư vào lĩnh vực tài chính, chủ yếu là vào thị trường chứng khoán Vì vậy, trên thị trường chứng khoán các công ty này là các nhà đầu tư có tổ chức
II Mức độ phù hợp của các quy định hiện hành với cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến mô hình các chủ thể kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1 Về hình thức của các chủ thể đang hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ nhất, công ty chứng khoán: Cũng như các nước trên thế giới, đây là chủ
thể chính tham gia kinh doanh chứng khoán
Đối với hình thức chủ thể này, theo quy định của pháp luật hiện hành thì công ty chứng khoán ở Việt Nam được tổ chức theo cả hai mô hình chuyên doanh và đa năng; bởi, theo quy định của pháp luật hiện hành một công ty chứng khoán nếu đủ điều kiện thì UBCKNN cấp giấy phép kinh doanh cho một hoặc nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thuộc về nghiệp vụ của công ty Quy định như vậy có thể khiến nguy cơ xảy ra xung đột giữa các nghiệp vụ trong công ty chứng khoán lớn hơn, nhưng với đặc trưng là một thị trường chứng khoán mới thì quy định của pháp luật Việt Nam là phù hợp