Vì vậy, để làm rõ thêm vấn đề này, em xin được trình bày trong bài tập lớn học kỳ môn Luật hôn nhân và gia đình vấn đề: Xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản đối với trường hợp nam nữ số
Trang 1MỞ ĐẦU
Hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình – tế bào của xã hội Pháp luật và nhà nước ta đã có quy định về hôn nhân và gia đình trong đó đã ghi nhận hai bên nam
nữ là vợ chồng khi họ đã đăng kí kết hôn theo quy định Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, tình trạng “các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn” diễn ra khá phổ biến Theo quy định của pháp luật, nam nữ không chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn thì không được công nhân là vợ chồng Tuy nhiên, việc chung sống này, trong thực tế đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung Vì vậy, để làm rõ thêm vấn đề này, em xin được trình bày trong
bài tập lớn học kỳ môn Luật hôn nhân và gia đình vấn đề: Xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản đối với trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung.
Trang 2I Cơ sở lí luận về nam nữ chung sống như vợ chồng
1 Khái niệm
Hiện nay tình trạng “nam nữ chung sống như vợ chồng” đang diễn ở nước ta ngày càng phổ biến và có xu hướng phức tạp cả về số lượng cũng như về tính chất của quan hệ
Trong xã hội hiện nay, tồn tại nhiều cách hiểu về “nam nữ chung sống như vợ chồng” Theo quy định tại Điểm d mục 2 Thông tư liên tịch của Tòa án TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03 tháng 01 năm 2001 thì được coi là “nam nữ chung sống như vợ chồng” khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau được gia đình (1 trong 2 bên) chấp nhận
- Việc nam nữ về chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình
Do đó, dưới góc độ pháp lý thì:
“Nam nữ chung sống như vợ chồng” là trường hợp nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn Về nguyên tắc, pháp luật không công nhận trường hợp này là vợ chồng Tuy nhiên trên thực tế, các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng vẫn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, với gia đình và với xã hội
2 Quy định của pháp luật hiện hành về việc sống chung như vợ chồng:
Theo điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“Việc kết hôn phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này:
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định của điều 14 luật này đều không có giá trị pháp lý
Trang 3Nam nữ không đăng kí kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được công nhận là vợ chồng
Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn”
Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng có những trường hợp quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày trước ngày luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật bởi vậy những vấn đề trong việc “chung sống như vợ chồng” phát sinh là một việc đáng chú ý, bao gồm các trường hợp sau:
- Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 vi phạm thủ tục đăng ký kết hôn sẽ không bị “buộc” phải đăng ký kết hôn thì được khuyến khích kết hôn Và theo Điều 1, Điều 2 Nghị định số 77/CP trường hợp này được nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho kết hôn (việc đăng ký kết hôn của họ không bị hạn chế về mặt thời gian, họ được miễn phí lệ phí đăng ký kết hôn) Trường hợp có yêu cầu li hôn thì tòa án thụ lí việc li hôn Điều đó cũng có thể được hiểu là chúng ta chấp nhận “quan hệ hôn nhân thực tế” đối với những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987
- Một trường hợp khác đó là nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình 2000 thì có nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003 Kể từ ngày 1/1/2003 mà họ mới đăng ký kết hôn quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từ ngày đăng kí kết hôn
- Trường hợp nam và nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 1/1/2001 trở đi (trừ hai trường hợp trên)
II Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung.
Trang 4Từ những phân tích ở trên có thể thấy, có rất nhiều vần đề đối với trường hợp nam
nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn muốn chấm dứt việc sống chung Khi xử lí các tranh chấp tòa án cần phân biệt các trường hợp nam nữ chung sống trước và sau ngày luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực để có quyết định đúng đắn Với tinh thần này, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của chính phủ quy định chi tiết về việc đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình
và Thông tư liên tịch của Tòa án nhân nhân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 3/1/2001
đã có những hướng dẫn củ thể về việc giải quyết mặt pháp luật đối với những trường hợp vi phạm đăng ký kết hôn từ trước ngày 01/01/2001 như sau:
- Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm
1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng kí kết hôn thì được khuyến khích đăng kí kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu li hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về li hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì tòa án áp dụng các quy định
về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;
- Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu
Trang 5có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết
Do đó, ta có thể xác định quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn mà muốn chấm dứt việc sống chung theo ba khoảng thời gian như sau:
1 Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987, ngày mà luật hôn nhân và gia đình năm 1987 có hiệu lực.
Với trường hợp này, pháp luật vẫn công nhận họ là vợ chồng hợp pháp, dó đó khi
họ muốn chấm dứt việc sống chung, về quan hệ nhân thân, Tòa án sẽ tuyên bố
chấm dứt quan hệ vợ chống, hai bên chấm dứt việc sống chung Về quan hệ tài sản, Tòa án sẽ giải quyết như trường hợp li hôn thông thường Nguyên tắc chia tài
sản khi ly hôn được áp dụng theo Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:
“1 Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó
2 Việc chia tài sản chung được giải quyết theo nguyên tắc sau đây:
a Tài sản chung của vợ chồng vể nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lào động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập
b Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
c Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp
để các bên có điều kiện để tiếp tục lao động tạo thu nhập
Trang 6d Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào phần tài sản bằng hiện vật lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch
3 Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
Bên cạnh đó, trong trường hợp này khi nam nữ muốn chấm dứt việc sống chung vẫn được tòa án giải quyết như trường hợp li hôn thông thường nên vấn đề về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được đặt ra Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi li hôn, nếu một bên khó khăn túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lí do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”
- Về quan hệ nhân thân: Tòa án tuyên bố hai bên chấm dứt quan hệ vợ chồng và
chấm dứt việc sống chung Nếu có con chung Tòa án căn cứ vào điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết:
“1 Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom Chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản đê tự nuôi mình
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
2 Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên sau khi li hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho 1 bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuối, nếu các bên không có thỏa thuận khác”
Trang 72 Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 không đăng kí kết hôn mà muốn chấm dứt việc sống chung thì giải quyết như sau:
Nếu có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003 (được gia hạn thêm đến tháng 01/08/2003) mà không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu li hôn thì tòa án áp dụng các quy định về
ly hôn để giải quyết Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng, khi có yêu cầu tranh chấp về tài sản thì không được giải quyết như trường hợp li hôn
-Về quan hệ tài sản
Nếu các bên yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản, Tòa án áp dụng khoản 3 điều 17 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 để giải quyết như sau: “Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết, có tính đến công sức của các bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con”
- Về quan hệ nhân thân
Tòa án sẽ tuyên bố hai bên không phải là vợ chồng, kể từ đó hai bên phải chấm dứt việc sống chung
Đối với con chung, tòa án áp dụng khoản 2 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 để giải quyết Củ thể, quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha
mẹ li hôn Theo đó nếu xác lập quan hệ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì quyền lợi của các con cũng được Pháp luật bảo vệ như trường hợp cha mẹ li hôn
Trang 83 Trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 01/01/2001 trở đi (trừ hai trường hợp trên).
Trong trường hợp này khi muốn chấm dứt việc sống chung, pháp luật sẽ không giải quyết như trường hợp vợ chồng muốn li hôn vì trường hợp này hai bên nam nữ không được pháp luật công nhận là vợ chồng
- Quan hệ tài sản:
Khi muốn chấm dứt việc sống chung, có tranh chấp về tài sản tòa án sẽ giải quyết theo khoản 3 điều 17 Giữa họ không phát sinh quan hệ vợ chồng vì vậy tài sản mà
họ tạo ra trong thời gian chung sống không phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Tài sản chung (nếu có) được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định chia trên cơ sở công sức đóng góp của mỗi bên trong việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó Tuy nhiên người có tài sản riêng phải có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của mình Nếu họ không chứng minh được thì tài sản đó được xác định là tài sản chung
Khi chia tài sản chung cần ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con
- Quan hệ nhân thân: Về nguyên tắc hai người sống chung như vợ chồng trong
trường hợp này không được pháp luật công nhận là vợ chồng Do đó, giữa họ chưa từng phát sinh quan hệ vợ chồng Do đó khi hai bên đã muốn chấm dứt sống chung thì tòa án tuyên bố hai bên không phải là vợ chồng và phải chấm dứt việc sống chung
Nếu có con chung thì Tòa án giải quyết theo điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 9Như vậy, việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ phát sinh nhiều vấn đề khi hai bên muốn chấm dứt việc sống chung Khi giải quyết các tranh chấp tòa án cần phân biệt và xác định các trường hợp với các khoảng thời gian tương ứng để giải quyết một cách chính xác và hợp lí nhất
III Thực trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
ở Việt Nam hiện nay.
1 Thực trạng nam nữ sống chung như vợ chồng trước khi luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực
Theo kết quả điều tra 8 năm thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 do Bộ
tư pháp tiến hành và số liệu điều tra của các cơ quan chức năng có liên quan cho thấy thực trạng chung sống như vợ chồng không có đăng kư kết hôn ở nước ta đã trở thành một hiện tượng xă hội khá phổ biến và hiện ngày càng có xu hướng phát triển phức tạp cả về số lượng và tính chất quan hệ Theo Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật HN&GĐ năm 1986, số liệu đă thống kê được như sau:
- Số lượng cặp vợ chồng chung sống không đăng kư kết hôn nhiều nhất ở hai dân tộc H’mông và Dao tại Lào Cai, có tới 90% trên tổng số cặp vợ chồng không đăng kí
- Tại An Giang, Hà Tây, một số xă vùng sâu của tỉnh Tiền Giang có tỉ lệ nam nữ chung sống khá cao, chiếm khoảng 50% trên tổng số các cặp vợ chồng
- Tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1986 đến tháng 06/1995 ước tính có khoảng 12.712 đôi vợ chồng chung sống với nhau sau đó mới đi đăng kư kết hôn Có khoảng 10.418 trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng kư kết hôn
- Tại tỉnh Kiên Giang có khoảng 12.285 trường hợp chung sống như vợ chồng
Trang 10- Tại tỉnh Long An có khoảng 9.514 cặp vợ chồng không đăng kí kết hôn mà sống chung như vợ chồng
Trên đây là một vài con số minh họa cho tình trạng nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn trong giai đoạn trước năm 2000, khi Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực Chắc rằng, trong thực tế còn có rất nhiều những trường hợp khác chưa được rà soát tới Điều đó cho thấy tình trạng chung sống như
vợ chồng mà không đăng kí kết hôn có xu hướng tăng nhanh về số lượng, phức tạp
về hình thức biểu hiện của mối quan hệ Đồng thời, không phân biệt về vị trí địa lí
và không gian lănh thổ, số lượng tăng mạnh mẽ diễn ra ở hầu khắp các địa phương, tỉnh thành
2 Thực trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Theo một vài số liệu thống kê: ở Lào Cai có tới 90% các cặp vợ chồng chung sống với nhau mà không đăng kí kết hôn; ở Điện Biên, con số của Sở Tư pháp Điện Biên đưa ra là 35.022 cặp hôn nhân thực tế, 8000 cặp không đăng kí hoặc không
đủ điều kiện đăng kí kết hôn, tỉ lệ không đăng kí kết hôn tính trung bình là 19% ; ở Hải Phòng tính đến năm 2003 thì tỉ lệ này là 3,7% …
Việc điều tra tình trạng chung sống như vợ chồng ở mỗi tỉnh để tìm ra được một con số chính xác tỉ lệ các trường hợp chưa tiến hành thủ tục đăng kí kết hôn có thể được coi là bất khả thi, bởi chỉ tới khi các bên có mâu thuẫn và yêu cầu Tòa án giải quyết thì lúc đó quan hệ chung sống như vợ chồng của họ mới thực sự được làm
rõ Thiết nghĩ, vấn đề về thủ tục, trình tự, thẩm quyền và cách thức tiến hành đăng
kí kết hôn ở các địa phương cần được đơn giản hóa để những cặp nam nữ sống chung có thể đi đăng kí kết hôn một cách thuận tiện nhất Đồng thời công tác phổ biến, tuyên truyền về pháp luật cũng cần được đẩy mạnh để mọi người hiểu rõ về