niệm này, HĐBH là sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể đó là bên mua bảohiểm người tham gia bảo hiểm và bên bảo hiểm DNBH với điều kiện làbên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm để khi xảy
Trang 11.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm con người.
1.2 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm con người.
1.3 Phân loại hợp đồng bảo hiểm con người.
1.4 Ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.5 Các yếu tố của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.6 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm con
người.
2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp
đồng bảo hiểm con người.
2.1 Vài nét đánh giá chung về thị trường bảo hiểm con
người ở Việt Nam hiện nay.
2.2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp
đồng bảo hiểm con người.
3 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người.
3.1 Những bất cập trong luật kinh doanh bảo hiểm về hợp
đồng bảo hiểm con người.
3.2 Kiến nghị và giải pháp.
C KẾT LUẬN:
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
222
23567910101112121820
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm chính là sự tồn tại của các rủi
ro trong cuộc sống Thực tế cuộc sống của con người luôn tồn tại rủi ro nhưmột tất yếu khách quan như thiên tai, dịch bệnh, tại nạn… Mặc dù ngày nay,khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng để chế ngựthiên nhiên và hạn chế rủi ro, song con người đã gây ra những rủi ro mới vớitính chất và mức độ rủi ro trầm trọng hơn Nói một cách khác, rủi ro làm mộtngười bạn đồng hành đáng lo ngại trong cuộc sống mà dù muốn hay khôngcon người cũng phải chấp nhận nó
Đời sống con người ngày càng tăng lên, do đó họ không chỉ muốn đảmbảo rủi ro cho công việc kinh doanh mà còn muốn đảm bảo cho bản thân, chogia đình họ, từ đó bảo hiểm con người ra đời Bảo hiểm con người giúp mỗingười khi tham gia ổn định cuộc sống, khắc phục khó khăn, tạo ra chỗ dựatinh thần để họ an tâm học tập, lao động sản xuất Trong chiến lược phát triển
kinh tế xã hội 2000 – 2010, Đảng và nhà nước ta đã xác định “tổ chức và vận
hành an toàn, hiệu quả thị trường bảo hiểm trong nước, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, kể cả việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài” Bảo hiểm nói
chung, bảo hiểm con người nói riêng đang được sự quan tâm của Đảng, nhànước và của toàn xã hội
Đối với nước ta hiện nay là một nước đang phát triển, vừa là thành viêncủa tổ chức Thương mại thể giới (WTO), cùng với việc các nước tăng cườnghợp tác thì việc phát triển kinh tế xã hội là tất yếu và vì vậy, vấn đề bảo hiểmcon người càng được quan tâm hơn bao giờ hết
Chính vì những nguyên nhân trên, em quyết định chọn đề tài: “Hợp đồng bảo hiểm con người theo quy định của pháp luật hiện hành - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”.
B NỘI DUNG:
1 Những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người.
1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm con người.
Trước khi tìm hiểu về HĐBH con người ta phải tìm hiểu thế nào là
HĐBH Theo Điều 567 BLDS 2005: “HĐBH là sự thỏa thuận giữa các bên
theo đó bên mua bả hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bán bảo hiểm phải
Trang 3niệm này, HĐBH là sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể đó là bên mua bảohiểm (người tham gia bảo hiểm) và bên bảo hiểm (DNBH) với điều kiện làbên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm để khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bênbảo hiểm phải trả một khoản tiền cho bên mua bảo hiểm.
Khác với BLDS 2005, Luật KDBH 2000 có mở rộng chủ thể trong HĐBH
con người Theo Điều 12 Luật KDBH thì “HĐBH là sự thỏa thuận giữa bên
mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Rõ ràng, Luật KDBH không chỉ quy định chung chung là DNBH phải
trả một khoản tiền cho bên mua bảo hiểm như BLDS mà chỉ rõ DNBH phảitrả tiền bảo hiểm cho người hưởng thụ hoặc bồi thường cho người được bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
HĐBH con người cũng là HĐBH nhưng đối tượng của nó chỉ liên quanđến tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạn con người Vì vậy, theo em:
“HĐBH con người là sự thỏa thuận giữa bên mau bảo hiểm và DNBH để bảo hiểm cho tuổi thọ, tính mạng sức khỏe, tai nạn của người tham gia bảo hiểm hoặc người được chỉ định trong hợp đồng, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm và DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
1.2 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm con người.
1.2.1 Hợp đồng bảo hiểm con người là hợp đồng thanh toán có định mức:
Đối tượng của bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạncon người Đó là những thứ vô giá không thể tính toán được, không thể xácđịnh được chính xác và trên thực tế không bù đắp nổi Vì thế, trong HĐBHcon người không tồn tại điều khoản giá trị bảo hiểm Nghĩa vụ của DNBH ởđây là trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng và không phải là tráchnhiệm bồi thường tổn thất mà là giúp đỡ về mặt vật chất cho người được bảohiểm Và cũng chính từ đối tượng HĐBH con người không thể tính toán đượcthành tiền nên số tiền DNBH trả cho khách hàng chỉ có thể là một số tiềnđược ấn định sẵn ngay từ khi ký kết hợp đồng Khi xảy ra sự kiện bảo hiểmbên bảo hiểm sẽ thanh toán cho bên tham gia bảo hiểm và thường không bị
Trang 4giới hạn bởi nguyên tắc giá trị thiệt hại giống như HĐBH tài sản và HĐBHtrách nhiệm dân sự.
1.2.2 Hợp đồng bảo hiểm con người không áp dụng nguyên tắc bảo hiểm trùng và nguyên tắc thế quyền:
Điều 44 Luật KDBH có nêu “bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảo
hiểm giao kết HĐBH với hai DNBH trở lên để bảo hiểm cho một đối tượng với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm”.
Khoản 2 Điều 44 có quy đinh: tổng số tiền bảo hiểm của các DNBH khôngvượt qua giá trị thực tế của tài sản vì thế mà HDBH con người không áp dụngnguyên tắc này Và một thực tế là đối tượng HĐBH con người không thể tínhtoán được thành tiền nên nếu một người tham gia đồng thời nhiều HĐBH vớinhiều DNBH khác nhau thì họ có quyền nhận đầy đủ các khoản tiền từ cácDNBH đó theo thỏa thuận trong hợp đồng, chứ không bị giới hạn về giá trịthiệt hại giống như bảo hiểm tài sản
Trong HĐBH con người cũng không áp dụng nguyên tắc thế quyền Điều
đó có nghĩa là người bảo hiểm sau khi đã thanh toán, chi trả số tiền bảo hiểm,không được phép thế quyền người tham gia bảo hiểm hay người thụ hưởngquyền lợi bảo hiểm để khiếu nại người thứ ba truy đòi số tiền bảo hiểm tươngứng
1.2.3 Hợp đồng bảo hiểm con người đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm:
Trước hết đặc điểm này thể hiện ngay trong các HĐBH, bỏi mỗi đối tượngcủa bảo hiểm con người: tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạn đều có thể làmnên một hợp đồng riêng và trong mỗi loại hợp đồng có nhiều sản phẩm khácnhau ví dụ trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì có bảo hiểm sinh kỳ, tử kỳ,
…
Không giống như bảo hiểm tài sản chỉ góp phần khắc phục hậu quả khiđối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, bảo hiểm con người đáp ứng được rấtnhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm như HĐBH hưu trí sẽđáp ứng yêu cầu tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng Còn bảohiểm tử kỳ sẽ giúp người tham gia bảo hiểm để lại cho gia đình một sốtieenfkhi họ bị tử vong HĐBH tai nạn con người giúp người tham gia khắc
Trang 5làm cho hợp đồng này chiếm khối lượng lớn trên thị trường bảo hiểm, thu hútnhiều người tham gia.
1.2.4 Các loại hợp đồng trong bảo hiểm con người rất đa dạng, phức tạp:
Trong HĐBH con người có các sản phẩm bảo hiểm khác nhau rồi mỗi mộthợp đồng có sự khác nhau ở thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm rồi độ tuổicủa người tham gia Chủ thể trong HĐBH con người có thể có bốn bên thamgia: Người bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, ngườithụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Đặc điểm này chỉ có duy nhất trong HĐBHcon người và vì thế làm cho hợp đồng này phức tạp hơn
1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm con người chịu ảnh hưởng của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định:
Khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển, áp lực cuộc sống giảm đi, conngười không phải lo cho cuộc sống hàng ngày thì lúc đó họ mới có thể nghĩđến bảo hiểm Ở các nước kinh tế phát triển bảo hiểm nhân thọ là loại hìnhchủ yếu của bảo hiểm con người đã ra đời và phát triển rất lâu còn nhữngnước kém phát triển hoặc đang phát triển thì những hình thức bảo hiểm nàyhoặc là chưa có hoặc là mới bắt đầu triển khai Ngoài ra, bảo hiểm con ngườicòn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác như đường lối chính sách, trình
độ học vấn của người dân…
1.3 Phân loại hợp đồng bảo hiểm con người:
Theo thời hạn bảo hiểm:
Hợp đồng bảo hiểm con người thường chia làm hai loại:
Hợp đồng bảo hiểm con người ngắn hạn: Là loại hợp đồng mà trong đóngười tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm trong một thời hạn ngắnthường là một năm trở xuống Người bảo hiểm cam kết thanh toán trợ cấp khi
có các rủi ro bảo hiểm xảy ra đối với người được bảo hiểm
HĐBH con người dài hạn: Là loại hợp đồng mà trong đó người tham giabảo hiểm cam kết trả phí bảo trong một thời hạn dài thường là trên một nămcho đến hết đời
Theo hình thức bảo hiểm:
HĐBH con người được chia ra làm hai loại:
HĐBH con người bắt buộc: Là hợp đồng mà theo pháp luật bắt buộc cácđối tượng phải tham gia ví dụ như bảo hiểm tai nạn hành khách
Trang 6HĐBH con người tự nguyện: Là hợp đồng mà theo đó người được bảohiểm hoặc người tham gia bảo hiểm có thể đưa ra rất nhiều nhu cầu bảo hiểm,còn người bảo hiểm có thể chấp nhận hay không chấp nhận là tuy theo sựthỏa thuận và cam kết Tính tự nguyện khiến người bảo hiểm phải phục vụ tốthơn, cung cấp các dịch vụ tốt hơn đến khách hàng.
Theo rủi ro bảo hiểm:
HĐBH con người có các loại sau:
HĐBH nhân thọ: Là hợp đồng bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro liên quanđến tuổi thọ của con người và được chia ra làm các loại sau:
HĐBH tử kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu người được bảo hiểm chếttrong thời hạn thoả thuận thì doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảohiểm cho người thụ hưởng
HĐBH sinh kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu người được bảo hiểmsống đến hết thời hạn thoả thuận, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng
HĐBH hỗn hợp: Là loại HĐBH kết hợp cả hai loại nghiệp vụ bảo hiểm đólà: bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ
HĐBH phi nhân thọ: Là loại hợp đồng chỉ liên quan đến các rủi ro nhưbệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong Đặc điểm này khôngliên quan đến tuổi thọ con người
1.4 Ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.4.1 Đối với người tham gia bảo hiểm:
HĐBH con người góp phần ổn định đời sống, là chỗ dựa tinh thần chongười tham gia cũng như người được hưởng bảo hiểm Trên bảo Tiền phong
với nhan đề “Bảo hiểm nhân thọ, sự an tâm vô giá” khách hàng cho biết
“nếu có điều kiện chúng ta nên tham gia bảo hiểm nhân thọ bởi lẽ nhu cầu bảo vệ tài chính cho gia đình là rất cần thiết Tất nhiên chẳng ai mong đợi những điều không may xảy ra, nhưng bảo hiểm sẽ mang đến sự an tâm cho gia đình trước những bất chắc và giảm gánh lo về tài chính những lúc ngặt nghèo Đối với tôi sự an tâm là vô giá” Sự an tâm giúp con người vượt qua
khó khăn, tiếp tục cuộc sống đảm bảo cho tương lai sau này
1.4.2 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm:
Trang 7Tham gia HĐBH con người góp phần ổn định tài chính và sản xuất chodoanh nghiệp Các chủ sử dụng lao động thường mua bảo hiểm sinh mạngcho người làm công, việc này không những đảm bảo cuộc sống ổn định chongười lao động mà còn tạo nên sự gắn bó giữa chủ sử dụng và người làmcông ăn lương (đây là điều kiện thúc đẩy sản xuất).
Đối với DNBH, việc tham gia HĐBH con người của khách hàng sẽ gópphần tăng doanh thu, mở rộng quy mô hoạt động để cung cấp thêm nhiều sảnphẩm cho con người Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại của một doanhnghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh như ngày nay
1.4.3 Đối với sự phát triển kinh tế:
Thông qua HĐBH con người (có đối tượng tham gia đông đảo) các nhàbảo hiểm thu phí bảo hiểm để hình thành nên quỹ bảo hiểm Quỹ này chủ yếuđược sử dụng vào mục đích bồi thường, khi nhàn rỗi nó sẽ là nguồn vốn đầu
tư hữu ích góp phần phát triển kinh tế
Một đặc điểm nữa của hợp đồng bảo hiểm con người thường là hợp đồngdài hạn nên số vốn của các công ty bảo hiểm thường rât lớn Theo một số liệuđiều tra, tính đến năm 2002 toàn nghành bảo hiểm Việt Nam đã đầu tư 8000
tỷ đồng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Bên cạnh đó nếu chúng tanhìn nhận từ khía cạnh con người thì chúng ta không thể phủ nhận rằng conngười là nhân tố phát triển kinh tế Việc tham gia hợp đồng bảo hiểm conngười giúp cho mỗi người an tâm sản xuất phục vụ cho sự phát triển kinh tế Cuối cùng, HĐBH con người là công cụ hữu hiệu để huy động nhữngnguồn tiền mặt nhàn ở các tầng lớp nhân dân để thực hiện tiết kiệm góp phầnchống lạm phát
Hợp đồng bảo hiểm con người tạo cơ hội việc làm cho người lao động: Các DNBH ra đời cung cấp các sản phẩm đến người dân đồng thời tuyểndụng người lao động vào làm việc Thực tế hiện nay các DNBH trong nềnkinh tế thị trường đang sử dụng số lượng lớn các đại lý tiếp thị bản sản phẩm.Theo số liệu thống kê thì ở Mỹ có gần 2 triệu người lao động làm việc trongnghành bảo hiểm còn ở Việt Nam năm 2002 bảo hiểm thu hút 90.000 laođộng làm việc trong đó bảo hiểm nhân thọ là 74.494 người
1.5 Các yếu tố của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.5.1 Chủ thể.
Trang 8HDBH con người bao gồm các chủ thể:
Doanhh nghiệp bảo hiểm: Khoản 5 Điều 3 Luật KDBH có khái niệm:
“DNBH là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật này và các quy định của pháp luật có liên quan để KDBH và tái bảo hiểm” Còn theo Đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ của Hiệp hội bảo hiểm
Việt Nam có định nghĩa: “Người bảo hiểm là các doanh nghiệp bảo hiểm
nhận bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và có trách nhiệm thực hiện đúng các cam kết, lời hứa với người tham gia bảo hiểm” Cả hai khái niệm trên đều nhấn
mạnh đến khía cạnh thành lập và hoạt động của DNBH
Bên mua bảo hiểm: Theo khoản 6 Điều 3 Luật KDBH thì “bên mua bảo
hiểm là các tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp
và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người bảo hiểm hoặc người hưởng thụ” Theo Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ
của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam có định nghĩa: “doanh nghiệp người tham
gia bảo hiểm là các tổ chức cá nhân chuyển giao rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm, đóng phí bảo hiểm” Vì vậy, bên mua bảo hiểm có thể là tổ chức,
cá nhân yêu cầu bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm để đảm bảo cuộc sống hiệntại cũng như tương lai sau này
Người được bảo hiểm: Theo khoản 7 Điều 3 Luật KDBH “người được
bảo hiểm là các tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người hưởng thụ” Với khái niệm trên thì người được bảo hiểm trong
HĐBH con người là chủ thể có tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng.Người được bảo hiểm có thể là người đã trưởng thành có đủ năng lực chủ thể
để tự ký hợp đồng cho mình và cũng có thể là những người chưa đủ tuổithành niên phải do người khác (có thể là cha mẹ hoặc người giám hộ) đứng ra
ký HĐBH
Người hưởng thụ: Theo khoản 8 Điều 3 Luật KDBH: “Người thụ hưởng
là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người” Khái niệm này đã khẳng định rõ chủ thể
là người hưởng thụ chỉ có trong HĐBH con người còn HĐBH tài sản hayHĐBH trách nhiệm dân sự không có chủ thể này Đê có thể là người hưởng
Trang 9thị thì điều kiện bắt buộc là phải được bên mua bảo hiểm chỉ định (thể hiện ýchí chủ quan của bên mua bảo hiểm).
1.5.2 Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người.
Theo khoản 1 Điều 31 Luật KDBH có nêu “đối tượng của HĐBH con
người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạn con người”.
Tuổi thọ: người bảo hiểm sẽ trả cho người được bảo hiểm (hoặc người thụhưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện bảohiểm sảy ra (nếu người được bảo hiểm sống hoặc chết tại một thời điểm nhấtđịnh) và nó liên quan đến tuổi thọ của con người
Tai nạn: bảo hiểm cho các trường hợp tai nạn xảy ra gây thiệt hại cho conngười, những thiệt hại đó bắt nguồn duy nhất và trực tiếp từ một tai nạn dovật thể hữu hình tác động từ bên ngoài gây ra và là nguyên nhâ trực tiếp, độclập với các nguyên nhân khác dẫn đến tử vong hoặc thương tật Với đối tượngnày có các loại hình HĐBH con người phổ biến như là bảo hiểm tai nạn conngười 24/24h và bảo hiểm tai nạn hành khách
Sức khỏe: bảo hiểm khi người tham gia (hay người được bảo hiểm) phảinghỉ việc do ốm đau, tai nạn mất khả năng lao động (vì lý do ốm đau hoặc tainạn hoàn toàn không thể theo đuổi nghề nghiệp ghi trong đơn bảo hiểm vàkhông thể theo đuổi bất một nghề nào khác)
Tính mạng: Việc bảo hiểm liên quan đến sự sống của con người Nêukhông thuộc các trường hợp quy định theo khoản 1 Điều 39 Luật KDBH thìmọi trường hợp khi tử vong đều được nhận tiền bảo hiểm
Trong các hợp đồng có đối tượng là tuổi thọ, sức khỏe… con người đều đềcập đến trường hợp nếu xảy ra trường hợp tử vong thì giải quyết qyền lợi nhưthế nào Có quy định như vậy là do tính mạng con người là vô giá không gì cóthể bù đắp thay thế được
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm con người:
Bảo gồm các điều khoản mà thông qua đó các bên chủ thể thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình Do HĐBh con người cũng là HĐBH nên theo Điều 13Luật KDBh nội dung của nó bao gồm các điều khoản chủ yếu: Tên, địa chỉcủa DNBH, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng; Đối tượng của hợpđồng bảo hiểm con người; Số tiền bảo hiểm; Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảohiểm, điều khoản bảo hiểm
Trang 10Điều 17 và Điều 18 Luật KDBH quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản củaDNBH, bên mua bảo hiểm.
1.6 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.6.1 Do HDBH con người cũng là hợp đồng dân sự nên nó phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự:
Điều kiện về hành vi của chủ thể tham gia: Chủ thể tham gia HĐBH conngười phải có năng lực hành vi dân sự Đối với bên nhần bảo hiểm phải là tổchức có tư cách pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật đểKDBH Bên tham gia bảo hiểm có thể là cá nhân (điều kiện lớn hơn hoặcbằng 18 tuổi), hoặc có thể là tổ chức Nếu cá nhân nhỏ hơn 18 tuổi và không
có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì hợp đồng bảo hiểm không cóhiệu lực tại thời điểm giao kết
Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng: Không vi phạm điềucâm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Và mục đích của các bên thểhiện trong các điều khoản của hợp đồng vì mục đích nào thì phải có nội dungphù hợp
Điều kiện về tính tự nguyện của chủ thể tham gia bảo hiểm: tự nguyện là
sự thống nhất ý chí bên trong của một chủ thể với hình thức biểu hiện ra bênngoài
Điều kiện về hình thức: Điều 14 Luật KDBH quy định: HĐBH con ngườiphải được lập thành văn bản
1.6.2 Ngoài ra để hợp đồng bảo hiểm con người có hiệu lực thì cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:
Theo Điều 22 Luật KDBH quy định 4 trường hơp HDBH vô hiệu Vậy, để
có hiệu lực thì HDDBH con người có điều kiện là: Bên mua bảo hiểm cóquyền lợi có thể được bảo hiểm; Đối tượng được bảo hiểm phải tồn tại vàothời điểm giao kết hợp đồng; Tại thời điểm giao kết HĐBH con người, chưa
có sự kiện bảo hiểm xảy ra; Bên mua bảo hiểm hoặc DNBH không được cóhành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng
HĐBH con người vô hiệu khi vi phạm 1 trong 4 điều kiện có hiệu lực củahợp đồng nói chung hoặc vi phạm các điều kiện có tính đặc thù của HDDBHcon người nói riêng
Trang 112 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người.
2.1 Vài nét đánh giá chung về thị trường bảo hiểm con người ở Việt Nam hiện nay.
Thị trường bảo hiểm con người vẫn là mới mẻ đối với người dân Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân khác nhau để tạo nên sự mới mẻ của lĩnh vực bảo hiểmcon người đối với người dân Việt Nam nhưng có một số nguyên nhân chủ yếusau đây: Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ (lĩnh vực chính của bảohiểm con người) đã ra đời và tồn tại trong một thời gia dài còn ở Việt Nammới được coi trọng và phát triển trên khoảng 10 năm gần đây (từ năm 1993khi Nghị định 100CP của Chính phủ ra đời) Vì vậy, bảo hiểm con người cònmới mẻ ở Việt Nam là điều dễ hiểu; Đời sống khó khắn, thu nhập bình quântrên đầu người thấp khiến con người phải lo cho cuộc sống nhiều hơn; phongtục tập quán và tâm lý của người dân Việt Nam; hệ thống pháp luật của ViệtNam về hợp đồng bảo hiểm con người còn chưa đầy đủ
Thực trạng thị trường bảo hiểm con người ở Việt Nam:
Nghành bảo hiểm nói chung phát triển trong những năm gần đây và doanhthu của nó đóng góp và GDP tăng dần lên Năm 1993, doanh thu từ lĩnh vựcbảo hiểm chiếm 0,4% GDP của Việt Nam và vào năm 2005 con số này tănglên 1% Đó là sự phát triển đối với bảo hiểm nói chung, còn riêng đối với lĩnhvực bảo hiểm con người theo số liệu thống kê thì Việt Nam có trên 6,5 triệungười mua bảo hiểm nhân thọ; 1,5 triệu người tham gia bảo hiểm học sinh; 5triệu người mua bảo hiểm con người; có 8 công ty bảo hiểm nhân thọ và cáccông ty này cung cấp 100 sản phẩm
Nhìn vào số liệu trên so sánh với dân số Việt Nam và tốc độ tăng trưởngkinh tế thì số lượng người tham gia bảo hiểm con người là quá nhỏ Nhưngđây là hiện tại, còn tương lai nghành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm conngười nói riêng sẽ được cải thiện với số lượng HĐBH con người tăng lên vìhiểu biết của người dân đã cải thiện Để có thể đạt được điều này cần có sự cốgắng của rất nhiều bên và đặc biệt là cần có một hệ thống pháp luật hoànchỉnh, chi tiết
2.2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con người.