Hiện tại, tuy loại hình công ty hợp danh không phổ biến tại Việt Nam nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 đã có những đổi mới so với Luật Doanh nghiệp 1999 để tạo điều kiện thông thoáng cho công
Trang 1Bình luận các quy định của luật Doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh.
Hiện tại, tuy loại hình công ty hợp danh không phổ biến tại Việt Nam nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 đã có những đổi mới so với Luật Doanh nghiệp 1999 để tạo điều kiện thông thoáng cho công ty hợp danh phát triển hơn nữa trong tương lai
Các quy định về công ty hợp doanh được cụ thể trong ChươngV: Công ty hợp danh Nó quy định về: Khái niêm và đặc điểm, thực hiện vốn góp và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp, tài sản của công ty, hạn chế đối với quyền của các thành viên hợp danh, quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh, hội đồng thành viên, triều tập họp hội đồng thành viên, điều hành kinh doanh của công ty hợp danh, chấm dứt tư cách thành viên hợp danh, tiếp nhận thành viên mới, quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn
II Bình luận về công ty hợp danh trong các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005
1 Khái quát chung về công ty hợp danh.
1.1 Khái niệm về công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất là hai thành viên là
chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây
gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp
vốn
Trang 2Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
Công ty hợp danh không được phát hành bất kì chứng khoán nào
1.2 Nguồn gốc của công ty hợp danh
Công ty hợp danh là một trong số những loại hình công ty điển hình được quy định trong Bộ luật Thương mại Pháp từ năm 1807
Yếu tố nhân thân của thành viên hợp danh được coi trọng hàng đầu khi thành lập công ty, trong đó người ta thường chú tâm tới tổng tài sản dân sự hơn là số vốn góp vào công ty Đối với bên thứ ba, việc định danh các thành viên là rất quan trọng khi thực hiện các giao dịch với công ty Bởi vậy, cho đến năm 1985 vẫn còn tồn tại quy định về tên của công ty phải bao gồm tên của tất cả các thành viên hợp danh
Điều đó lý giải tại sao người ta gọi là công ty hợp danh.Việc điều hành công ty do
Người quản lý thực hiện Về nguyên tắc, tất cả các thành viên đều có tư cách quản
lý Họ có thể chỉ định Người quản lý trong số các thành viên của công ty hoặc người ngoài công ty Người quản lý cũng đồng thời là người đại diện của công ty
Nét đặc trưng trong luật của Pháp là xu hướng phân biệt giữa dân luật và thương luật, do đó người ta thường chú ý xem xét tư cách thương nhân của các chủ thể kinh doanh Theo quy định, tất cả các thành viên đều có tư cách thương nhân, nhưng công ty không có tư cách này Tuy nhiên, trong trường hợp Người quản lý là
Trang 3Người quản lý khi thực hiện các hành vi nhân danh công ty và phải chịu trách nhiệm
về kết quả kinh doanh trước các thành viên
Thành viên hợp danh theo pháp luật thương mại Pháp không hạn chế là cá nhân, mà còn bao gồm cả pháp nhân Từ đó có thể hình thành mô hình kinh doanh kết hợp, cho phép tránh được trách nhiệm vô hạn của cá nhân thành viên mà vẫn có
thể khai thác được những điểm mạnh của công ty hợp danh Ví dụ: một công ty hợp
danh có tất cả các thành viên hợp danh là pháp nhân song thực ra, việc điều hành công ty do các cá nhân là người đứng đầu pháp nhân thành viên thực hiện Vì thế mà mặc dù quy trình, thủ tục công ty hợp danh ở Pháp rất nghiêm ngặt, song công ty hợp danh vẫn hiện diện với một số lượng đáng kể trong nền kinh tế Pháp
1.3 Đặc điểm của công ty hợp danh
1.3.1 Đặc điểm về thành viên
Công ty hợp danh có thể có thể có hai loại thành viên với địa vị pháp lý khác nhau là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn
Thành viên hợp danh là thành viên chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên hợp danh chỉ có thể là cá nhân (Công
dân Việt Nam, nước ngoài) Thành viên hợp danh không được đồng thời là chủ
một doanh nghiệp tư nhân hoặc tham gia một công ty hợp danh khác với tư cách là thành viên hợp danh Tất cả các thành viên hợp danh đều có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty và như vậy cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình
Trang 4Thành viên góp vốn là cá nhân hoặc tổ chức Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ công ty Thành viên góp vốn không tham gia quản lý công ty và không hoạt động kinh doanh nhân danh công ty
Họ chỉ được tham gia thảo luận và biểu quyết về việc bổ sung, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn được quy định trong điều lệ công ty, về việc tổ chức lại và giải thể công ty Khi công ty giải thể họ được chia giá trị tài sản còn lại khi công ty giải thể theo quy định trong điều lệ công ty Với những quyền hạn hạn chế như vậy, thành viên góp vốn có nghĩa vụ góp đủ số vốn đã cam kết Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị số vốn đã cam kết góp vào công ty
1.3.2 Đặc điểm về hoạt động đại diện cho công ty trong các giao dịch pháp lý
Theo khoản 1 điều 137 luật DN 2005 mọi thành viên hợp danh đều đại diện
cho công ty, đều tham gia vào quan hệ pháp luật nhân danh công ty
1.3.3 Đặc điểm về trách nhiệm của công ty
Công ty hợp danh chịu trách nhiệm về hoạt động của mình không giới hạn trong phạm vi vốn điều lệ được đăng kí tại cơ quan đăng kí kinh doanh Các thành viên hợp danh cùng nhau chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty bằng toàn bộ tài sản riêng của mình Vì vậy công ty hợp danh là loại doanh nghiệp chịu trách nhiệm
vô hạn
2 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức thống nhất theo mô hình một hiệp hội các thành viên Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức bao gồm:
Trang 52.1 Hội đồng thành viên (theo Điều 135, Luật doanh nghiệp năm 2005)
Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác; lựa chọn và bổ nhiệm các Phó Giám đốc (Phó tổng giám đốc) trợ giúp Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công tác tổ chức, điều hành Công ty
Thành viên hợp danh có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để thảo luận và quyết định công việc kinh doanh của công ty Thành viên yêu cầu triệu tập họp phải chuẩn bị nội dung, chương trình và tài liệu họp
Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty Nếu Điều lệ công ty không quy định thì quyết định các vấn đề sau đây phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh chấp thuận:
a) Phương hướng phát triển công ty;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
c) Tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới;
d) Chấp nhận thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên;
đ) Quyết định dự án đầu tư;
e) Quyết định việc vay và huy động vốn dưới hình thức khác, cho vay với giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;
Trang 6g) Quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;
h) Quyết định thông qua báo cáo tài chính hằng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên;
i) Quyết định giải thể công ty
2.2 Ban giám đốc công ty
Ban Giám đốc Công ty được Hội đồng thành viên Hợp danh giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức, điều hành các hoạt động kinh doanh của Công ty
Theo khoản 4, điều 137, luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, Chủ tịch Hội
đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các nhiệm vụ sau đây:
a) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh;
b) Triệu tập và tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký các quyết định hoặc nghị quyết của của Hội đồng thành viên;
c) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh;
ký các quyết định về quy chế, nội quy và các công việc tổ chức nội bộ khác của công ty;
d) Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hoá đơn, chứng
từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật;
Trang 7đ) Đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác;
e) Các nhiệm vụ khác do Điều lệ công ty quy định
2.3 Ban Kiểm soát:
Ban kiểm soát do Hội đồng thành viên Hợp danh bầu để giúp Hội đồng thành viên Hợp danh kiểm soát các vấn đề liên quan đến tổ chức, điều hành Công ty, kiểm soát việc tuân thủ các đường lối, chủ trương của Công ty và các vấn đề liên quan đến tài chính của Công ty
Một số phòng ban khác:
2.4 Ban Kiểm soát chất lượng dịch vụ công ty (như trong lĩnh vực kiểm toán, tư vấn luật):
Do các thành viên Hợp danh, Ban Giám đốc bầu để giúp Ban Giám đốc, Hội đồng thành viên Hợp danh kiểm soát được chất lượng dịch vụ kiểm toán và các dịch
vụ khác; hướng dẫn các phòng, ban chức năng trong Công ty tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, chuẩn mực liên quan đến nghề nghiệp; hỗ trợ các phòng, ban, các chức danh lãnh đạo và các nhân viên trong Công ty nâng cao hình ảnh, chất lượng của Công ty; Soát xét các Báo cáo kiểm toán và các Báo cáo dịch vụ khác…
2.5 Các phòng nghiệp vụ, tư vấn, hành chính Quản trị
Các phòng nghiệp vụ: trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh, kí kết hợp
đồng
Trang 8Phòng tư vấn: xúc tiến và duy trì các mối quan hệ của công ty
Phòng hành chính Quản trị: đảm nhiệm các công việc hành chính, kế toán và
quản trị
3 Một số điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về công ty hợp danh
Loại hình công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005
đã có những thay đổi đáng kể về bản chất cũng như hình thức Khắc phục những thiếu sót của Luật doanh nghiệp năm 1999 về loại hình công ty hợp danh còn qua sơ sài, chưa đủ tầm điểu chỉnh những vấn đề phát sinh và hoạt động của loại hình doanh nghiệp này, Luật doanh nghiệp năm 2005 đã sửa đổi, bổ sung và quy định mới ở một số nội dung cho phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn như sau:
Thứ nhất, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia các
giao dịch, khoản 2 Điều 130 Luật doanh nghiệp năm 2005 công nhận loại hình
công ty hợp danh có tư cách pháp nhân Theo đó, công ty hợp danh có bản chất pháp
lý như sau:
- Là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung; ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
Trang 9- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Khoản 2 Điều 130 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định “ công ty hợp
danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” đã tạo thuận lợi hơn rất nhiều cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động Bởi lẽ, trong hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn một số văn bản hạn chế hoạt động đối với các doanh nghiêp không có tư cách pháp nhân trong một số lĩnh vực như xây dựng và đấu thầu Việc quy định luật này đã thể hiện sự đổi mới trong
tư duy của các nhà lập pháp Việt Nam và có ý nghĩa tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn về hình thức hoạt động cho các nhà đầu tư Việc thừa nhận tính pháp nhân của công ty hợp danh có lợi hơn, nhằm đảm bảo cho loại hình doanh nghiệp này có đầy đủ tư cách pháp lý khi tham gia các hoạt động giao dịch cũng như tham gia tố tụng, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế nước nhà
Thứ hai, Luật doanh nghiệp năm 2005 không còn quy định bắt buộc nhà đầu
tư phải thành lập công ty hợp danh khi kinh doanh một số ngành nghề nhất định như : kế toán và kiểm toán; thiết kế các công trình xây dựng; khám và chữa bệnh; dịch vụ pháp lý Quy định này có ý nghĩa tạo cơ hội cho nhà đầu tư được quyền lựa chọn loại hình đầu tư để hoạt động kinh doanh
Việc thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp trong công ty hợp danh là một quy định mới trong Luật doanh nghiệp năm 2005 nhằm cụ thể hoá trách nhiệm của thành viên công ty trong trường hợp không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết góp Luật cũng quy định rõ số vốn chưa góp đủ là khoản nợ của thành viên đối với công ty và việc góp chậm, không đủ số vốn cam kết là một lý do
Trang 10mà thành viên có thể bị khai trừ ra khỏi công ty Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi
của thành viên , Điều 131 Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định trách nhiệm
của công ty là phải cấp giấy chứng nhận góp vốn cho thành viên công ty khi họ đã
góp đủ số vốn cam kết góp Bên cạnh đó, Điều 132 Luật doanh nghiệp năm 2005
cũng quy định rõ về nguồn gốc hình thành nên tài sản của công ty Đây cũng là một điểm mới của Luật doanh nghiệp 2005 so với Luật doanh nghiệp năm 1999
Ngoài ra, Luật doanh nghiệp năm 2005 còn đưa ra những hạn chế đối với quyền hành của thành viên hợp danh như sau: thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại ; thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để thực hiện kinh doanh cùng ngành nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức cá nhân khác cá nhân khác và thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại Việc luật doanh nghiệp năm 2005 quy định hạn chế này nhằm đảm bảo thực hiện trách nhiệm tài sản
vô hạn của thành viên hợp danh đối với công ty khi có phát sinh các rủi ro hoặc nghĩa vụ tài chính với khách hàng
Bên cạnh đó, Điểm đ khoản 2 Điều 134 Luật doanh nghiệp năm 2005 đã
quy định rõ hơn về việc thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số
nợ của công ty Như vậy trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh chỉ được xác lập khi tài sản còn lại của công ty không đủ để thanh toán nợ, nghĩa là khi đó chủ nợ
có quyền yêu cầu bất cứ thành viên hợp danh nào có trách nhiệm thanh toán số nợ còn lại cho mình Thành viên hợp danh đã thanh toán nợ cho chủ nợ có quyền yêu
Trang 11cầu các thành viên hợp danh khác thanh toán lại cho mình phần nợ đã thanh toán tương ứng với nghĩa vụ của từng thành viên hợp danh
Kế thừa những quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999, Điều 136 Luật
doanh nghiệp 2005 đã quy đinh chi tiết hơn việc triệu tập họp Hôi đồng thành viên.
Theo đó, Chủ tịch Hôi đồng thành viên có thể triệu tập họp Hội đồng thành viên khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên đó triệu tập họp Hội đồng thành viên Hình thức thông báo mời họp cũng
có những điểm tiến bộ hơn, có thể bằng giấy mời, điện thoại, fax, telex hoặc các phương tiện điện tử khác Thông báo mời họp phải nêu rõ mục đích, yêu cầu và nội dung họp, chương trình và địa điểm họp, tên thành viên yêu cầu triệu họp
Tiếp đó, Điều 137 Luật doanh nghiệp 2005 quy định các thành viên hợp danh
có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Mọi hạn chế với thành viên hợp danh trong thực hiên công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công
ty Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc thì quyết định được thông qua theo quy tắc đa số Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động các ngành nghề, kinh doanh đã đăng ký của công
ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận
Cuối cùng, về hồ sơ đăng ký kinh doanh, Điều 17 Luật doanh nghiệp năm
2005 quy định, hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty hợp danh gồm: