1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng cáo phúc thẩm hình sự

16 891 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 144,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về kháng cáo phúc thẩm hình sự Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kháng cáo phúc thẩm hình sự, nhưng nhìn chung lại có thể định nghĩa kháng cáo phúc thẩm hình sự như s

Trang 1

MỞ ĐẦU

Luật tố tụng hình sự VIệt Nam đã quy định những biện pháp để đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, không để lọt tội phạm, không để oan người vô tội Tòa

án cấp sơ thẩm khi đưa ra xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự phải ra bản án hoặc quyết định hợp pháp và có căn cứ Mặc dù vậy, vẫn tồn tại những bản án của Tòa án

sơ thẩm không đáp ứng được yêu cầu của pháp luật Vì vậy kháng cáo là một chế định quan trọng trong luật tố tụng hình sự Đây là cơ sở pháp lý cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, qua đó kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới cả về nội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

NỘI DUNG

I Lý luận chung về kháng cáo phúc thẩm hình sự

1 Khái niệm về kháng cáo phúc thẩm hình sự

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kháng cáo phúc thẩm hình sự,

nhưng nhìn chung lại có thể định nghĩa kháng cáo phúc thẩm hình sự như sau: “

kháng cáo phúc thẩm hình sự là quyền của bị cáo, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật được để nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ hoặc những người khác.”

2 Ý nghĩa của kháng cáo phúc thẩm hình sự

Kháng cáo là một chế định có vị trí vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự Đây

là một quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và cá đương sự, bảo vệ nguyên tắc hai cấp xét xử, đảm bảo cho pháp chế xã hội chủ nghĩa được duy trì và

thực thi Như vậy kháng cáo có ý nghĩa rất lớn cả về mặt chính trị, pháy lý và xã hội 2.1 Ý nghĩa chính trị của kháng cáo phúc thẩm hình sự

Trang 2

Kháng cáo có ý nghĩa trong việc đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Pháp luật tố tụng hình sự quy định quyền kháng cáo phúc thẩm cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chính là việc nhà nước tạo điều kiện cho công dân tự đứng lên bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh đó bị cáo và người đại hợp pháp của họ thực hiện quyền bào chữa cho chính bị cáo

Mặt khác quyền kháng cáo là một trong những cơ sở cho việc xét xử của Tòa

án cấp trên trực tiếp của Tòa án sơ thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Khi phiên tòa phúc thẩm được mở ra thì một lần nữa vụ án được xem xét lại Từ đó nhanh chóng khắc phục đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn khách quan, công bằng, đúng pháp luật Khi các chủ thể thực hiện quyền kháng cáo của mình đống nghĩa với việc họ đã giúp Tòa án cấp trên nhận biết được sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới từ đó có thể khắc phục, hướng dẫn sửa chữa những sai lầm, rút kinh nghiệm cho công tác xét xử, đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thống nhất của Tòa án các cấp Từ những kháng cáo, cơ quan xét xử sẽ thấy được những vướng mắc, khuyết điểm trong luật để đưa ra hướng đề nghị sửa đổi pháp luật sao cho phù hợp với tình hình thực tiến

2.2 Ý nghĩa pháp lý của kháng cáo phúc thẩm hình sự

Việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo là cơ sở pháp lý quan trọng phát sinh thủ tục phúc thẩm hình sự, đồng thời cũng xác định được phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm Trên cơ sở kháng cáo phúc thẩm hình sự hợp lệ, Tòa án cấp phúc thẩm tuân theo những quy định của bộ luật Tố tụng hình sự 2003 để tiến hành

mở phiên tòa phúc thẩm để xét xử lại vụ án, xét lại tính hợp pháp của bán án, quyết định của Tòa án cấp dưới Từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mặt khác có thể sửa chữa những sai lầm của Tòa án sơ thẩm

Ngoài ra kháng cáo còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự đó là nguyên tắc hai cấp xét xử Quyền kháng cáo là một trong những phương tiên hữu hiệu để bảo vệ kịp thời quyền

và lợi ích của công dân, đặc biệt là của bị cáo trong vụ án hình sự Nếu bản án sơ

Trang 3

thẩm có hiệu lực pháp luật ngay không có quy định quyền kháng cáo cho người tham gia tố tụng thì họ hoàn toàn không có cơ hội nào để chủ động đưa ra quan điểm của mình đối với những gì mà Tòa án đã tuyên cho dù những quyết định đó chưa hợp lý và hợp pháp

2.3 Ý nghĩa xã hội của kháng cáo phúc thẩm hình sự

Quyền kháng cáo là một trong những biểu hiện của dân chủ tiến bộ, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa

án, góp phần bảo đảm uy tín của cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng Đồng thời, Tòa án la cơ quan xét xử duy nhất của nhà nước, Tòa án có vai trò quan trọng đối với xã hội vì vậy các quyết định của Tòa án có ảnh hưởng to lớn tới toàn xã hội Một bản án, quyết định muốn có tác động tích cực tới toàn xã hội thì bản án đó, quyết định đó phải chính xác, công bằng minh bạch được mọi người đồng tình, vì vậy rất cần kháng cáo nếu những quyết định, bản án của Tòa án chưa đáp ứng được tính hợp pháp và hợp lý

Chế định kháng cáo phúc thẩm hình sự được quy định trong bộ luật tố tụng hình

sự thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp Quy định này tạo cho các chủ thể tham gia tố tụng có thể trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của mình ở cấp xét xử cao hơn Khi kháng cáo hợp lệ, những người kháng cáo có quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm , họ được trực tiếp đưa ra các chứng cứ, tình tiết mới trước Tòa án phúc thẩm

II Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng cáo phúc thẩm hình sự.

1 Đối tượng của kháng cáo phúc thẩm

Về đối tượng của kháng cáo thì bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định riêng, cụ thể mà được quy định đan xen trong các điều luật khác của bộ luật tố tụng hình sự Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự quy đinh: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.” Điều này quy định gián tiếp đối tượng của kháng cáo là bản án, quyết

Trang 4

định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại Điều 255 Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2003 thi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là: Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” Như vậy những bản án, quyết định

của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm thì được coi là bản án chưa có hiệu lực pháp luật Bản án là những phán quyết của Hội đồng xét xử với những nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Quy định về đối tượng kháng cáo này của Bộ luật tố tụng hình sự

2003 khác với quy định của một số nước như nước Pháp Pháp luật tố tụng hình sự của nước Pháp đã hạn chế đối tượng của kháng cáo theo theo hướng: hình phạt phải đạt một mức độ nào đó thì mới có thể là đối tượng của kháng cáo phúc thẩm

Theo như quy định tại Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì chỉ có những bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm mới là đối tượng của kháng cáo phúc thẩm Tuy nhiên vẫn có trường hợp bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn là đối tượng của kháng cáo

Trường hợp thứ nhất: kháng cáo quá hạn được chấp nhận

Về nguyên tắc kháng cáo quá hạn là kháng cáo không có hiệu lực pháp luật, và bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm khi không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản

án, quyết định sơ thẩm đó sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành trên thực tế Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì:

Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn Như vậy nếu kháng cáo kháng nghị có lý do chính đáng và

được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận thì bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật vẫn là đối tượng của kháng cáo

Trường hợp thứ hai: bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo nhưng Tòa án cấp phúc vẫn có thể xem xét lại

Trang 5

Theo quy định tại Điều 241 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định phạm vi xét xử phúc thẩm thì ngoài việc xem xét lại những nội dung kháng cáo kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét những nội dung không bị kháng cáo, kháng nghị nếu xét thấy cần thiết Về nguyên tắc, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét những nội dung bị kháng cáo, kháng nghị còn những nội dung khác nếu không bị kháng cáo, kháng nghị thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật vì vậy đây cũng có thể coi là trường hợp ngoại lệ thứ hai của đối tượng kháng cáo

2 Chủ thể của kháng cáo phúc thẩm

Theo Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì chủ thể có quyền kháng cáo bao gồm:

Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo

Bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định sơ thẩm Bị cáo theo quy định tại Điều 50 Bộ luật tố

tụng hình sự thì là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Vì vậy bị cáo là chủ

thể chịu ảnh hưởng nhiều nhất và chủ yếu nhất của bản án hay quyết định sơ thẩm,

vì vậy bị cáo có quyền kháng cáo kháng nghị là một điều tất yếu Bị cáo có thể nêu mục đích kháng cáo của việc kháng cáo như: xin giảm hình phạt, thay đổi tội danh nhẹ hơn, giảm mức bồi thường….Nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị khác theo hướng tăng nặng mức hình phạt hay chuyển tội danh nặng hơn thì Tòa án phúc thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định theo hướng tăng nặng hơn Quy định trên nhằm thể hiện tính nhân đạo trong hoạt động xét xử của Tòa án Những người thân thích của bị cáo như cha, mẹ, vợ, chồng, con không được kháng cáo thay cho bị cáo

Đối với bị cáo là người chưa thành niên người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể

chất thì Nghị quyết số 05/2005/NQ- HĐTP ngày 08/12/2005 quy định: người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị cáo là người chưa thành niên, người

có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ

Trang 6

Người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản

án, quyết định của Tòa án về phần hình phạt cũng như phần bồi thường

Nếu người bị hại chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo ( bản thân người bị hại cũng

có quyền kháng cáo ) Theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP thì: Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại, thì họ có thể uỷ quyền cho người khác Luật tố

tụng hình sự không hạn chế quyền kháng cáo của người bị hại, họ có thể kháng cáo theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, và nếu chỉ kháng cáo liên quan đến phần bồi thường thiệt hại thì có thể ủy quyền cho người khác, quy định này đã tạo ra thuận lợi tối đa cho người bị hại Mặt khác Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP cũng phân biệt rõ ràng trong trường hợp người bị hại chết mà có

từ hai người đại diện hợp pháp trở lên thì được phân biệt như thế nào được quy định rất cụ thể

Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm

về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích cho bị cáo Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của hợp pháp bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bào chữa, không phụ thuộc vào việc bị cáo có đồng ý hay không đồng

ý Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo thì bị cáo vẫn có thể kháng cáo

Người bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên hoặc là người

có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần

Trang 7

Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về

tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ Quyền kháng cáo của những người này cũng độc lập với người mà họ bảo vệ, quyền này của họ không phải do ủy quyền

Nguyên đơn dân sự , bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại Do nguyên đơn, bị đơn dân sự tham gia vụ án hình sự để giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình

sự, vì vậy, quyền kháng cáo của họ chỉ hạn chế trong phạm vi những phần của bản

án, quyết định liên quan đến phần bồi thường thiệt hại

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp

pháp của họ.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của

họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ

Người được Tòa án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội

3 Thời hạn kháng cáo

Theo quy định tại Điều 234 thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính

từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết

Nếu kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì Do đó, khi nhận đơn kháng cáo gửi qua bưu điện, Toà án phải kiểm tra ngày đóng dấu trên phong bì và lưu phong bì cùng với đơn kháng cáo để xác định ngày kháng cáo

Trong trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua ban giám trị trạm giam, thì ngày kháng cáo được tình căn cứ vào ngày ban giám thị trạm giam nhận được đơn Nếu

Trang 8

Ban giám thị trại tạm giam không ghi ngày nhận được đơn kháng cáo, thì Toà án yêu cầu Ban giám thị trại tạm giam xác nhận ngày nhận đơn đó để xác định ngày kháng cáo Trong trường hợp người kháng cáo đến nộp đơn kháng cáo tại Toà án hoặc trong trường hợp họ đến Toà án cấp sơ thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì ngày kháng cáo là ngày Toà án nhận đơn hoặc là ngày Toà án lập biên bản về việc kháng cáo

Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP đã hướng dẫn cụ thể hơn cách xác định thời

hạn bắt đầu và kết thúc thời hạn kháng cáo như sau: “Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo là ngày tiếp theo của ngày được xác định Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó”

Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng “Lý do

chính đáng” là những trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định,

ví dụ: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải nằm viện điều trị

4 Thủ tục và hình thức kháng cáo

Theo quy định tại Điều 233 Bộ luật tố tụng hình sự thì thủ tục kháng cáo được thực hiện như sau: Người kháng cáo có thể gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xử sư thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hoặc có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử

sơ thẩm về việc kháng cáo Nếu kháng cáo bằng miệng, Tòa án đã xử sơ thẩm phải lập biên bản về việc kháng cáo Người lập biên bản phải giải thích cho người yêu cầu kháng cáo đang bị tạm giam, ban giám thi trại tạm giam phải trực tiếp nhận và gửi ngay đơn kháng cáp của bị cáo đến Tòa án đã xử sơ thẩm

Về việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại Tòa án cấp phúc thẩm đã được Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể tại điểm

3 phần I

5 Thông báo về việc kháng cáo

Trang 9

Khi có kháng cáo Tòa án cấp sơ thẩm phái thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm

sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo Ý nghĩa của việc thông báo về việc kháng cáo là để những người tham gia tố tụng biết được vụ án sẽ được xét xử phúc thẩm để từ đó có thời gian và chủ động chuẩn bị cho việc tham gia đồng thời bảo vệ tốt cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa, cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu mới Riêng đối với bị cáo thì việc thông báo tạo điều kiện thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn cụ thể về việc

thông báo kháng cáo như sau: Toà án cấp sơ thẩm không phải thông báo về việc kháng cáo cho chính người đã kháng cáo Đối với những người tham gia tố tụng khác thì Toà án cấp sơ thẩm phải thông báo cho họ, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án

do có kháng cáo có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Như vậy đối với

những người tham gia tố tụng khác thì Tòa án cấp sơ thẩmchỉ thông báo khi nội dung kháng cáo có liên quan đến họ mà thôi, nếu mà xét thấy không có liên quan đến nội dung kháng cáo thì không phải thực hiện việc thông báo đến những người này Người được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi ý kiến của mình cho Tòa

án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến của người được thông báo phải được lưu vào

hồ sơ vụ án Trường hợp người được thông báo gửi cho Toà án cấp sơ thẩm mà hồ

sơ vụ án chưa gửi cho Toà án cấp phúc thẩm, thì Toà án cấp sơ thẩm gửi cùng hồ sơ

vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm; nếu hồ sơ vụ án đã gửi cho Toà án cấp phúc thẩm, thì Toà án cấp sơ thẩm phải gửi văn bản đó cho Toà án cấp phúc thẩm để đưa vào hồ

sơ vụ án

6 Hậu quả của việc kháng cáo

Trong thời hạn kháng cáo thì toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Khi thời bạn kháng cáo đã hết thì những phần bị kháng cáo sẽ chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được thi hành trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều

255 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Như vậy những phần mà không bị kháng cáo thì khi hết thời hạn kháng cáo sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành khi không có kháng nghị của Viện kiểm sát Nếu toàn bộ bản án bị kháng cáo thì toàn bộ bản án

Trang 10

đó không có hiệu lực pháp luật Khi có kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ

sơ vụ án cùng với đơn kháng cáo cho Tòa án phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày, kể

từ ngày hết kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị cho việc xét xử

7 Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo

Trước khi bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Người kháng cáo có thể rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo Nếu rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ

Theo Nghị quyết 05/2005/NQ – HĐTP đã có hướng dẫn như sau: Trong trường hợp người kháng cáo rút một phần trong kháng cáo của mình hoặc có nhiều người kháng cáo, nhưng có người rút kháng cáo, có người không rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị trong kháng nghị của mình, thì cần phân biệt như sau: Trường hợp rút trước khi mở phiên toà, thì việc rút kháng cáo, kháng nghị đó phải được làm thành văn bản Trường hợp người kháng cáo trực tiếp đến Toà án rút kháng cáo, thì Toà án cấp phúc thẩm yêu cầu người kháng cáo phải làm thành văn bản hoặc phải lập biên bản về việc rút kháng cáo Trường hợp rút tại phiên toà, thì việc rút kháng cáo, đó phải được ghi vào biên bản phiên toà Toà án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án theo thủ tục chung đối với phần kháng cáo còn lại Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền xem xét đối với các phần có kháng cáo, đã bị rút mà không có liên quan đến phần kháng cáo, kháng nghị còn lại theo quy định tại Điều 241 và khoản 2 Điều 249 của BLTTHS

III Thực tiễn thi hành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kháng cáo phúc thẩm và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kháng cáo phúc thẩm.

1 Thực tiễn thi hành những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

về kháng cáo phúc thẩm

1.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2003 về kháng cáo phúc thẩm

Ngày đăng: 30/01/2016, 06:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w