Theo Điều 1 Nghị định 14/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011 thay thế Nghị định 79/2005/NĐ-CP ngày 16/6/2005 quy định về điều kiện đăng kí và hoạt động của đại lí làm thủ tục hải quan thì Đại lí
Trang 1A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong công cuộc hiện đại hóa thủ tục hải quan như hiện nay thì ở các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đều dần hình thành số lượng lớn các đại
lí hải quan Nhằm góp phần đảm bảo thực hiện đầy đủ nhanh chóng việc làm thủ tục hải quan, làm phát triển hệ thống dịch vụ đại lí hải quan này, chúng ta cần am hiểu pháp luật hải quan, thủ tục hải quan và các vấn đề khác liên quan đến chính sách xuất nhập khẩu hàng hóa, các chính sách thuế, và quan trọng nhất là phải nắm rõ được các nội dung pháp lí cơ bản về thủ tục hải quan
1.1. Khái niệm
Là một nội dung trong chuỗi dịch vụ Logistics, đại lí làm thủ tục hải quan là một loại hình dịch vụ tuy mới mẻ nhưng đóng vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, với ngành Hải Quan nói riêng và với nền kinh tế nói chung Pháp luật đã quy định cụ thể về hoạt động của loại đại lí này
Theo Điều 1 Nghị định 14/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011 thay thế Nghị định 79/2005/NĐ-CP ngày 16/6/2005 quy định về điều kiện đăng kí và hoạt động của đại lí làm thủ tục hải quan thì Đại lí làm thủ tục hải quan( dưới đây gọi tắt là đại lí hải quan)
là thương nhân thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu(dưới đây gọi tắt là chủ hàng) thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Luật hải quan và thực hiện các công việc khác về thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng
Theo quy định này thì đại lí hải quan là chủ thể thực hiện việc khai thuê hải quan cho chủ hàng (1) Mặt khác có thể hiểu đại lí hải quan là một hoạt động thương mại theo
đó bên đại lí là bên đứng ra thay mặt từng doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuê mình để làm dịch vụ thủ tục hải quan với điều kiện đáp ứng đầy đủ về nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa Với sự thay mặt của đại lí này thì cơ quan Hải quan sẽ rút ngắn được thời gian trong việc tìm hiểu thông tin về lô hàng, của doanh nghiệp làm thủ tục hải quan thông qua vai trò bảo lãnh của đại lí hải quan, giảm sai sót tiến tới phương pháp quản lí mới theo thủ tục hải quan điện tử, phù hợp với chuẩn mực quốc tế Trong trường hợp nếu có sai sót thì cơ quan quản lí Nhà nước chỉ cần xử lí doanh nghiệp làm đại lí hải quan cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu
1.2. Các đặc trưng cơ bản của đại lí hải quan
Trang 2Thứ nhất, về mặt chủ thể, hoạt động đại lí hải quan có sự tham gia của ba chủ thể:
người có hàng hóa xuất nhập khẩu( chủ hàng), bên đại lí hải quan và cơ quan hải quan.Trong hoạt động đại lí hải quan phát sinh hai nhóm quan hệ: chủ hàng- bên đại lí, bên đại lí- cơ quan hải quan Cơ quan hải quan trực tiếp tham gia vào quan hệ này là đơn vị quản lí hoạt động khai hả quan tại các cửa khẩu hay tại các chi cục hải quan có chức năng
Theo Điều 1, Điều 2 Nghị định 14/2011/NĐ-CP, đại lí hải quan là thương nhân
Điều 6 Luật thương mại quy định “thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng kí kinh doanh” Đại lí hải quan muốn đi vào hoạt động phải đăng kí kinh doanh
theo quy định của pháp luật, Điều 7, mục 1,Chương một Luật thương mại quy định
“thương nhân có nghĩa vu đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật” Trường
hợp chưa đăng kí kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của pháp luật
Đại lí hải quan cũng có thể tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp, hộ kinh doanh miễn là đáp ứng đầy đủ các điều kiện về mặt chủ thể do pháp luật quy định tại Điều 2 Nghị định 14/2011/NĐ-CP bao gồm các quy định về đăng kí kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, nhân viên đại lí và điều kiện nối mạng máy tính
Quan hệ giữa đại lí hải quan với chủ hàng phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại lí, hợp đồng nay phải lập thành văn bản Quan hệ giữa đại lí hải quan và cơ quan hữu quan là quan hệ giữa người khai hải quan và cơ quan chức năng
Thứ hai, đại lí hải quan là một hình thức đại lí cung ứng dịch vụ đặc biệt Sự khác
biệt của đại lí hải quan với việc ủy quyền cho các doanh nghiệp giao nhận làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất khẩu trước đây: nếu người được doanh nghiệp xuất nhập khẩu ủy quyền làm thủ tục hải quan chỉ căn cứ vào văn bản ủy quyền mà không đóng dấu kí tên trong tờ khai do vậy không chịu trách nhiệm khi vi phạm
Đồng thời, theo quy định pháp luật, đại lí hải quan cũng là người khai hải quan,
do vậy cũng phải tuân theo quy định về quyền và nghĩa vụ của người khai theo quy định pháp luật Cụ thể, người khai hải quan có nghĩa vụ khai hải quan và thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 16, 18,20, 68 Luật hải quan, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình
Hoạt động đại lí hải quan là một loại hình dịch vụ có điều kiện theo quy định tại Điểm 34 Mục 2 Phụ lục 3 ban hành kèm Nghị định số 59/2006 NĐ-CP ngày 12/6/2006 Đối với đại lí hải quan, muốn thành lập thì phải đáp ứng những yêu cầu nhất định theo quy định của từng nước Cụ thể: có ngành nghề kinh doanh dich vụ giao
Trang 3nhận hàng hóa xuất khẩu hoặc dịch vụ khai thuê hải quan ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, có ít nhất 1 nhân viên đại lí hải quan, đáp ứng điều kiện nối mạng máy tính với cơ quan hải quan để thực hiện thủ tục hải quan tại điện tử tại các cục hải quan tỉnh, thành phố đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Thứ ba, trong hoạt động đại lí hải quan, bên đjai lí chịu sự giám sát, quản lí trực
tiếp từ cơ quan hải quan
Pháp luật thực tiễn hoạt động quản lí đại lí hải quan cho thấy, cơ quan hải quan là đơn vi giám sát, quản lí hoạt động của các đại lí làm thủ tục hải quan Cơ quan hải quan quản lí hoạt động của các đại lí thông qua việc đăng kí đại lí làm thủ tục hải quan, cấp thẻ nhân viên đại lí, tổ chức thi chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan nghiệp vụ hải quan
trong nền kinh tế
2.1. Đại lí hải quan trên thế giới
Nhìn chung, đại lí làm thủ tục hải quan ở các nước trên thế giới có một số đặc điểm giống nhau là:
Thứ nhất, được luật quy định tương đối chặt chẽ Luật của Philippin quy định
quyền được cấp phép của đại lí hải quan cụ thể là tại tiết 1301 quy định người có quyền thực hiện khai báo hải quan là: môi giới hải quan được cấp phép đúng thể thức, thực hiện theo sự ủy quyền của người giữ vận đơn
Thứ hai, có đủ những điều kiện cần thiết đặc biệt là điều kiện về trình độ nghiệp
vụ của nhân viên làm đại lí với quy trình đào tạo và sát hạch bắt buộc Luật philippin quy định người được làm đại lí hải quan phải được học đại học xong 18 môn khoa học
cơ bản về hải quan và thuế quan với kết quả tốt
Thứ ba, đại lí hải quan phải có hệ thống sổ sách và tài liệu lwuu trữ bắt buộc rõ
ràng, đúng quy định Đại lí hải quan Hoa kì quy định người khai thuê hải quan phải lưu giữ và sắp xếp chứng từ ngăn nắp, nguyên trang Thời hạn lưu giữu chứng từ ít nhất 5 năm sau ngày làm thủ tục cho hàng hóa
2.2. Sự hình thành và phát triển của đại lí hải quan ở việt Nam
Ở nước ta, hoạt động dịch vụ khai thuê hải quan đã được hình thành và tồn tại từ năm 1999 dưới hình thức là chủ hàng tự khai và ủy quyền cho người khác khai hải quan và giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Khi đó hình thức đại lí hải quan còn rất manh mún, việc nộp hồ sơ cho hải quan chỉ tập trung vào các cá nhân chuyên khai thuê Sau một thời gian, ngày 16/6/2005, Nghị định số 79/2005/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành nhằm thiết lập cơ sở pháp lí cụ thể để triển khai và quản lí hoạt động của của các đại lí làm thủ tục hải quan chuyên nghiệp
Trang 4Cho đến nay, các cơ qua hữu quan vẫn giữ quan điểm cho rằng đại lí hải quan vẫn
là lĩnh vực kinh doanh đặc thù và nhạy cảm Nên đây là thời điểm thích hợp để chuẩn hóa hoạt động kinh doanh đại lí hải quan bằng những cơ chế quản lí trực tiếp và chặt chẽ từ ngành hải quan
2.3. Vai trò của đại lí hải quan trên thế giới
- Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu:
Thứ nhất, đại lí hải quan giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua
nhanh hàng hóa, tránh được những sai sót, vi phạm trong quy trình là thủ tục hải quan Đại lí hải quan do những nhân viên chuyên môn thường xuyên làm việc với cơ quan hải quan nên giúp cho việc thông quan nhanh chóng, tiết kiệm thời gian làm thủ tục, nhờ vậy mà hành hóa đảm bảo tiến trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Thứ hai, đại lí hải quan phát triển tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí
đầu tư vào lưu thông qua việc tinh giản được bộ máy, tiết kiệm chi phí quản lí Khi các doanh nghiệp thuê đại lí hải quan làm thủ tục thì sẽ không phải mất chi phí hình thành, vận hành bộ máy chuyên làm thủ tục hải quan Mặt khác, doanh nghiệp không phải bỏ chi phí vào đầu tư trang thiết bị, phương tiện hiện đại phục vụ cho việc làm thủ tục hải quan
Thứ ba, giảm được mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp xuất nhập khẩu và
công chức hải quan nên các chi phí mang tính tiêu cực Qua việc thuê các đại lí hải quan, doanh nghiệp không phải tiếp xúc trực tiếp với các công chức hải quan do đó không có cơ hội xảy ra tình trạng công chức hải quan sách nhiễu, vòi tiền doanh nghiệp
- Đối với cơ quan hải quan
Thứ nhất, tránh được tình trạng ùn tắc, tạo sự thông thoáng tại các địa điểm làm
thủ tục hải quan
Ở Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 30 000 doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, trong đó khoảng 82% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động không thường xuyên và tự làm thủ tục hải quan Nên tình trạng ùn tắc rất hay xảy ra, từ khi đại lí hải quan ra đời và đi vào hoạt động thì số lượng người làm thủ tục giảm đi, thủ tục hả quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu chính xác hơn, giảm tình trạng ùn tắc đó
Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho hiện đại hóa công tác quản lí hải quan.
Thứ ba, giúp cho cơ quan hải quan tinh giản được bộ máy nhưng lại đạt được hiệu
quả quản lí cao, triển khai các chủ trương, chính sách một cách nhanh chóng
Thứ tư, đại lí hải quan hỗ trợ cơ quan hải quan trong hoạt động ngăn ngừa tiêu
cực, buôn lậu gian lận và trốn thuế
Trang 5Từ sự phân tích trên cho thấy đại lí hải quan đóng vai trò khá quan trọng trong hoạt động của ngành hải quan Không chỉ mang lợi cho doanh nghiệp mà còn giúp cho hoạt động quản lí nhà nước của ngành hải quan thêm thuận lợi góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
3.1. Khái quát pháp luật về đại lí hải quan
Ở Việt Nam, hoạt động đại lí hải quan chịu sự điều chỉnh của nhiều loại văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật dân sự 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật hải quan sửa đổi 2005, Luật cạnh tranh 2004, Luật phá sản 2004 và Luật thuế cùng một số văn bản pháp luật chuyên ngành quy định Quy chế pháp lí hoạt động của đại lí hải quan Theo Điều 4 Luật thương mại về áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan, họat động đại lí hải quan trước hết là hoạt động thương mại áp dụng quy định văn bản pháp luật quy định về đại lí hải quan Đó là các văn bản:
Tại luật quản lí thuế năm 2007 có quy định tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục và thuế là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện và đại lí hải quan thực hiện quyền, nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế với hàng hóa xuất nhập khẩu
Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011 của Chinh phủ ban hành quy định điều kiện đăng kí và hoạt động của đại lí hải quan
Thông tư 80/2011/TT-BTC ngày 9/6/2011 của Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011
Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC ban hành quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Quyết định này cho thấy những ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác làm thủ tục hải quan
Quyết định số 1514/QĐ-BTC về kế hoạch cải cách phát triển và hiện đại hóa ngành hải quan trong giai đoạn 2011-2015 Như vậy, cơ bản thì đại lý hải quan đã có
đủ cơ sở pháp lí để hoạt động
3.2. Pháp luật về đại lí hải quan của một số nước trên thế giới
Hoạt động đại lý hải quan ở các nước là một hoạt động khá phổ biến và được quản
lí chặt chẽ Nhìn chung, quy định về dịch vụ đại lí làm thủ tục hải quan ở các nước cơ bản đều giống nhau ở một số nội dung:
- Dịch vụ này đều được quy định trong luật
- Dịch vụ này đều được cơ quan hải quan quan lí chặt chẽ
- Các công ty làm Dịch vụ này đều phải được phép của cơ quan hải quan và phải
có đội ngũ nhân viên làm dịch vụ đại lí làm thủ tục hải quan đã qua đào tạo
Trang 6- Công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ đại lí làm thủ tục đại lí hải quan phai
có một số vốn tối thiểu và phải có hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán rõ ràng đúng quy định
- Các nhân viên làm dịch vụ đại lí làm dịch vụ đại lí thủ tục hải quan phải trải qua một kì sát hạch về luật pháp hải quan, các luật liên quan, quy định và thủ tục hải quan, các vấn đề về thuế, giá tính thuế và tất cả các ván đề khác liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu
1 Chủ thể tham gia hoạt động Đại lí hải quan
1.1 Bên đại lí
Theo Điều 1 và Điều 2 Nghị định 14/2011/NĐ-CP ngày 16/02/2011 của Chính phủ quy định về điều kiện đăng kí và họat động của đại lí hải quan thì đại lí hải quan phải là thương nhân và phải đáp ứng các điều kiện sau:
- “Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật
- Có ngành nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu hoặc dịch vụ khai thuê hải quan ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
- Có ít nhất 1 nhân viên đại lí hải quan
- Đáp ứng điều kiện nối mạng máy tính với cơ quan hải quan để thực hiện thủ tục hải quan tại các cục hải quan tỉnh, thành phố( dưới đây gọi tắt là cục hải quan tỉnh)
đã thực hiện hải quan điện tử”.
Lĩnh vực dịch vụ làm thủ tục hải quan thuộc nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh phải đảm bảo là:
- Một là, đại lí hải quan phải có kí quỹ để đảm bảo điều kiện thực hiện chức năng khai hải quan thay mặt cho chủ hàng Khi thực hiện chức năng này, kin doanh đại lí hải quan phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Vì vậy,
số tiền kí quỹ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của đại lí hải quan phải dựa trên tiêu chí: tối thiểu bằng số tiền thuế được xác định dựa trên cơ sở số thuế phải nộp đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
- Hai là, đại lí hải quan phải đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật cần thiết để đảm bảo thực hiện quy trình khai báo và làm thủ tục hải quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan tại nơi đăng kí và làm thủ tục hải quan
- Ba là, phải có đội ngũ nhân lực cần thiết hội tụ đủ điều kiện hành nghề trong lĩnh vực khai báo và làm thủ tục hải quan theo quy đinh của cơ quan hải quan Do đặc điểm hoạt động nghiệp vụ khai báo và làm thủ tục hải quan, người khai hải quna muốn thực thi tốt chính sách về hải quan phải nắm đầy đủ chuyện môn, nghiệp vụ, quy trình, thủ tục hải quan
Trang 7- Bốn là phải có cam kết chấp hành tốt pháp luật hải quan và chịu sự quản lí của
cơ quan hải quan Việc chấp hành tốt chính sách về hải quan nhằm góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình cải cách hiện đại hóa, tự động hóa quy trình, thủ tục hải quan là đòi hỏi cả cơ quan hải quan và chủ hàng đối với đại lí hải quan
Ngoài ra do đại lí hải quan là một loại hình đặc biệt trong đó yêu cầu phải có các nhân viên đại lí có trình độ Pháp luật quy định về điều kiện để trở thành nhân viên đại
lí hải quan, cụ thể, theo Điều 3 Nghị định 14/2011/NĐ-CP, nhân viên đại lí hải quan phải đáp ứng các điều kiện:
+ Là công dân Việt Nam
+ Có bằng từ trung cấp trở lên thuộc các ngành kinh tế, luật
+ Có chứng chỉ về nghiệp vụ khai hải quan
Tại Điều 4 Nghị định 14/2011/NĐ-CP quy định các đối tượng không được làm nhân viên đại lí hải quan:
“1 Người thành niên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự.
2 Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành hình phạt tù.
3 Người đã bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm pháp luật hải quan và thuế trong phạm vi một (01) năm tính đến ngày nộp hồ sơ đề nghị cấp thẻ nhân viên đại lý hải quan.
4 Công chức, viên chức nhà nước đang tại chức”.
Sau khi đủ các tiêu chuẩn được quy định tại các điều khoản trên thì các đối tượng này được làm hồ sơ xin cấp thẻ nhân viên đại lí hải quan theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định 14/2011 Khi nhân viên đã được cấp thẻ, doanh nghiệp của các nhân viên đó có ý định hoạt động dịch vụ này thì đăng kí theo quy định tại Điều 7 Nghị định 14/2011 NĐ-CP quy định về trình tự đăng kí hoạt động kinh doanh Đại lý hải quan: Đầu tiên, thương nhân phải đăng kí kinh doanh ngành nghề dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu hoặc dịch vụ khai thuê hải quan theo quy định của Luật doanh nghiệp Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố căn cứ vào quy định của pháp luật
để cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Trước khi triển khai hoạt động, đại lí hải quan phải nộp các chứng từ liên quan cho cục hải quan tỉnh, nơi đại lí hải quan có trụ
sở chính Nếu nơi đại lí hải quan có trụ sở chính không có cục hải quan tỉnh thì nộp cho cục hải quan tỉnh có cửa khẩu nơi đại lí hải quan thường xuyên hoạt động Cuối cùng là thủ tục hoàn thành tức là lúc chủ thể đại li hải quan ra đời đi vào hoạt động và chịu sự
Trang 8điều chỉnh trực tiếp của Pháp luật hải quan và các văn bản liên quan, trở thành một thành viên trong hệ thống đại lí hải quan hoạt động rộng khắp cả nước
1.2 Bên giao đại lí
Các chủ cửa hàng này là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có công việc chủ yếu hay ít nhiều liên quan đến xuất và nhập khẩu hàng hóa Chủ cửa hàng cũng có thể là cá nhân hay tổ chức có hàng hóa cần khai thủ tục hải quan Khi tham gia mối quan hệ là chủ hàng với đại lí hải quan thì họ thực hiện một hợp đồng dịch vụ ủy quyền với bên đại lí hải quan và cũng có đầy đủ các quyền và nghũa vụ của bên kí hợp đồng như quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng, quyền chấm dứt hợp đồng hay nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên đại lí Trong quan hệ này,chủ cửa hàng không những được hưởng quyền và lợi ích trong việc được đại lí thực hiện thay mà còn không phải chịu trách nhiệm pháp lí khi bên có đại lí sai sót hay sự cố trong quá trình thực hiện
Tại Điều 9 Nghị định 14/2011/NĐ-CP cũng quy định về trách nhiệm của chủ hàng như sau:
“1 Ký hợp đồng với đại lý hải quan về phạm vi uỷ quyền, trách nhiệm của mỗi
bên.
2 Cung cấp cho đại lý hải quan đầy đủ, chính xác các chứng từ, thông tin cần thiết cho việc làm thủ tục hải quan của lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu.
3 Chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với trường hợp cung cấp không chính xác, không đầy đủ các thông tin, các chứng từ liên quan đến lô hàng, cung cấp các chứng từ không hợp pháp, hợp lệ cho đại lý hải quan dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật”
Ngoài ra hiện tại các doanh nghiệp với vai trò là chủ hàng này cũng yêu cầu hải quan hỗ trợ thêm cho họ các thông tin về hồ sơ thông quan cũng như thông tin về công việc họ đã giao cho bên đại lí làm nhằm quản lí và theo dõi chặt chẽ và sát sao hơn
1.3 Bên thứ ba
Cơ quan hải quan tham gia mối quan hệ này với vai trò là người thứ ba, làm việc trực tiếp với bên đại lí đồng thời làm việc gián tiếp với bên chủ hàng Mối quan hệ này được thiết lập với sự thống nhất lớn, bên chủ hàng theo thông lệ phải làm việc với bên hải quan nhưng đã ủy quyền cho bên đại lí làm thay mình thực hiện khai báo và làm thủ tục hải quan Bên đại lí phải chịu trách nhiệm trước chủ hàng và cả với cơ quan hải quan về việc làm của mình nhưng không có nghĩa là bên chủ hàng không có bất cứ trách nhiệm nào với bên hải quan Chủ hàng phải chịu trách nhiệm khi hợp đồng không
rõ ràng với bên đại lí hay thông đồng với bên đại lí làm sai phá luật đồng thời phải chịu trách nhiệm pháp lí với bên đại lí khi vi phạm hợp đồng
Trang 9Công tác đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan được tiến hành ngày sau khi Ngị định 14/2011/NĐ-CP và Thông tư 80/2011/TT-BTC có hiệu lực, được tiến hành ở 4 cơ sở: Học viện tài chính, cao đẳng tào chín hải quan, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ hải quan, Cao đẳng kinh tế Nguyễn Tất Thành
Nghị định 14/2011/NĐ-CP cũng quy định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan hải quan mà cụ thể là tại Điều 10 về kiểm tra, giám sát hoạt động đại lí hải quan và tại Điều 12 về hỗ trợ của cơ quan hải quan đối với đại lí hải quan
Đồng thời bên hải quan còn có quyền khen thưởng hay tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động của các Đại lí hải quan vi phạm pháp luật tại Điều 13, 14 Nghị định này Đại
lí hải quan có quá trình chấp hành tốt háp luật hải quan thì được khen thưởng theo quy định pháp luật
2 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ đại lí hải quan
2.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên đại lí hải quan
Việc nhìn nhận vị thế pháp lí của đại lí hải quan là ở đây là quyền và nghĩa vụ của
họ cần được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau
Thứ nhất, xét về đại lí hải quan với tư cách là người làm thuê( người thực hiện
dịch vụ)
Với tư cách là người nhận làm dịch vụ, đại lí hải quan có quyền và nghĩa vụ của người cung ứng dịch vụ được quy định trong luật thương mại: nó có quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm của một thương nhân
- Quyền họat động thương mại; quyền bình đẳng trước pháp luật và hợp tác trong lĩnh vực thương mại; quyền cạnh tranh trong thương mại( tuân thủ luật cạnh tranh 2004); được Nhà nứơc bảo hộ quyền sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu thương nhân thuộc các thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân trong thương mại
- Có nghĩa vụ đăng kí kinh doah và được cấp chứng nhận đăng kí kinh doanh, được quyền yêu càu cung cấp nội dung về đăng kí kinh doanh, thực hiện xác quy định
về sổ sách kế toán và lưu giữa hóa đơn, chứng từ giấy tờ có liên quan, chấp hành các quy định về thuế, có quyền chấm dứt hoạt động thương mại
Ngoài ra thì đại lí hải quan cũng có quyền và nghĩa vụ trong vấn đề hoạt động mà
cụ thể đó là các quyền sau, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác( Điều 174 Luật thương mại)
+ Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 175 của Luật này;
+ Yêu cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý; nhận lại tài sản dùng để bảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;
Trang 10+ Yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn, cung cấp thông tin và các điều kiện khác có liên quan để thực hiện hợp đồng đại lý;
+ Quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng đối với đại lý bao tiêu;
+ Hưởng thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại lý mang lại
Đồng thời đại lí hải quan cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp không thực hiện đúng công việc được ủy quyền , không khai đúng thông tin và chứng từ liên quan đến lô hàng xuất nhập khẩu do chủ hàng cung cấp
Thứ hai là , xét về đại lí hải quan với tư cách là người khai hải quan.
Với tư cách này, đại lí hải quan có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan theo quy định tại Luật hải quan, mà cụ thể tại Điều 23 luật hải quan sửa đổi
2005, quy định quyền và nghĩa vụ người khai hải quan
a) Được cơ quan hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và hướng dẫn làm thủ tục hải quan;
b) Xem trước hàng hoá, lấy mẫu hàng hoá dưới sự giám sát của công chức hải quan trước khi khai hải quan để bảo đảm việc khai hải quan được chính xác;
c) Đề nghị cơ quan hải quan kiểm tra lại thực tế hàng hoá đã kiểm tra, nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan hải quan trong trường hợp hàng hoá chưa thông quan;
d) Khiếu nại, tố cáo việc trái pháp luật của cơ quan hải quan, công chức hải quan;
2 Người khai hải quan có nghĩa vụ:
a) Khai hải quan và thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 16, các điều 18, 20
và 68 của Luật này;
b) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình, về sự thống nhất nội dung thông tin giữa hồ sơ giấy lưu tại doanh nghiệp với hồ sơ điện tử;
c) Thực hiện các quyết định và yêu cầu của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vận tải theo quy định của Luật này;