1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng ở Thái Nguyên hiện nay

127 435 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước sang thế kỷ XXI, trước bối cảnh nhu cầu tìm hiểu về những vấn đề trong quan hệ quốc tế, khu vực, nhất là thực trạng, xu thế phát triển của các quốc gia xung quanh Việt Nam gia tăng,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

DOÃN THÀNH KIÊN

QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

DOÃN THÀNH KIÊN

QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế

Mã số: 60310206

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thành Văn

Hà Nội - 2014

Trang 3

3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YỂU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC 1.1 Tình hình thế giới và khu vực 13

1.2 Khái quát tình hình Campuchia và Trung Quốc 17

1.3 Quan hệ truyền thống Campuchia - Trung Quốc 26

1.4 Chủ trương, mục tiêu của Campuchia và Trung Quốc trong quan hệ giữa hai nước 31

Tiểu kết 38

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao 40

2.2 Quan hệ quốc phòng - an ninh 51

2.3 Quan hệ kinh tế 59

2.4 Quan hệ văn hóa - xã hội 70

Tiểu kết 76

Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 3.1 Đối với Campuchia 78

3.2 Đối với Trung Quốc 94

3.3 Đối với Việt Nam 103

Tiểu kết 105

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC Hoạt động chính trị ngoại giao giữa lãnh đạo cấp cao Campuchia - Trung Quốc từ năm 2000 đến 2014 113

Nội dung một số Tuyên bố chung, Thông cáo chung giữa Campuchia và Trung Quốc từ năm 2000 đến nay 116

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia

Đảng Nhân dân Campuchia

FUNCINPEC National United Front for an Independent, Neutral,

Peaceful, and Cooperative Cambodia Đảng Mặt Trận dân tộc thống nhất vì sự phát triển kinh tế và hòa hợp Campuchia

Trang 5

5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian gần đây, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường Sự tranh giành ảnh hưởng, lợi ích giữa các cường quốc diễn ra quyết liệt, tác động tiêu cực đến hòa bình, ổn định và phát triển của thế giới Trong

đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc và tranh giành ảnh hưởng Trung - Mỹ là những yếu tố quan trọng nhất tác động đến quan hệ quốc tế Ngay từ đầu thế kỷ XXI, với sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, quân sự và chính trị, Trung Quốc triển khai

chiến lược “Hướng Nam”, trong đó khu vực châu Á - Thái Bình Dương và khu

vực Đông Nam Á luôn được đặt vị trí ưu tiên số một Đây là một trong ưu tiên chiến lược quan trọng của Trung Quốc nhằm chiếm không gian, mở rộng ảnh hưởng cho sự trỗi dậy, đồng thời tìm cách thoát khỏi vành đai bao vây chiến lược của Mỹ Việc Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương và tranh chấp lãnh thổ giữa các nước ở Biển Đông, Biển Hoa Đông đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, tham vọng trỗi dậy, giấc mộng

“phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa - giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc”

Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp

tác với Campuchia, nâng quan hệ Campuchia - Trung Quốc lên tầm “Quan hệ

đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” Đây là một trong những vấn đề nổi bật,

thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế

Campuchia và Trung Quốc đều là hai quốc gia láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam Vì vậy, mọi diễn biến, biến động về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội ở Campuchia và Trung Quốc đều có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài đối với Việt Nam, nhất là về chính trị, quốc phòng - an ninh Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Campuchia đã có từ lâu đời và

Trang 6

trải qua không ít những thăng trầm Bước sang thế kỷ XXI, trước bối cảnh nhu cầu tìm hiểu về những vấn đề trong quan hệ quốc tế, khu vực, nhất là thực trạng, xu thế phát triển của các quốc gia xung quanh Việt Nam gia tăng, khiến chúng ta cần có sự quan tâm nghiên cứu cụ thể hơn để làm rõ thực trạng quan hệ Campuchia - Trung Quốc và tác động đối với Việt Nam

Do đó, việc nghiên cứu quan hệ Campuchia - Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI có ý nghĩa quan trọng để đánh giá về kết quả, tác động của quan hệ này đối với Việt Nam Đây là cơ sở để đưa ra những giải pháp phát huy tác động tích cực, giảm thiểu những tác động tiêu cực từ mối quan hệ Campuchia - Trung Quốc đối với Việt Nam

Vì những lý do trên tôi chọn đề tài “Quan hệ Campuchia – Trung Quốc

những năm đầu thế kỷ XXI” làm đề tài Luận văn của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quan hệ giữa Campuchia và Trung Quốc những năm đầu của thế kỷ XXI trên các lĩnh vực chủ yếu là chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và văn hóa xã hội

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian, Luận văn tập trung phân tích quan hệ Campuchia với

Trung Quốc trong khoảng thời gian tính từ chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân tháng 11/2000 đến chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Campuchia Hun Sen tháng 4/2014

Về nội dung, Luận văn tập trung phân tích một số vấn đề chính, bao

gồm: (1) Những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Campuchia - Trung Quốc; (2) Những hoạt động, kết quả đạt được trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc trên các lĩnh vực chủ yếu; (3) Đánh giá thành công, hạn chế và tác động

Trang 7

từ đó rút ra tác động của mối quan hệ này đối với Việt Nam

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định những nhân tố tác động đến quan hệ Campuchia - Trung Quốc

- Làm rõ những hoạt động và kết quả hợp tác giữa Campuchia - Trung Quốc kể từ năm 2000 đến năm 2014

- Đánh giá thành công, hạn chế trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc

từ năm 2000 đến 2014 trên các lĩnh vực chủ yếu; rút ra tác động trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc đối với mỗi nước

- Rút ra những tác động, nhất là những tác động tiêu cực của quan hệ Campuchia - Trung Quốc đối với Việt Nam

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Là một vấn đề nổi bật, đáng chú ý, quan hệ Campuchia - Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phân tích chính trị của Việt Nam và thế giới Đã có một số bài viết, bài bình luận đánh giá về thực chất quan hệ Campuchia - Trung Quốc, những tác động ảnh hưởng của quan hệ này đối với mỗi nước và đối với Việt Nam

4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Quan hệ Campuchia - Trung Quốc từ 1993 đến nay của Both Sreng,

Trang 8

Luận văn thạc sỹ quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao, Hà Nội, 2011 đã cung cấp một số thông tin, tư liệu cơ bản về quan hệ Campuchia - Trung Quốc kể từ năm 1993 đến năm 2010 trên các lĩnh vực chủ yếu dựa trên hai mặt thành tựu và hạn chế Luận văn cho biết, những thành tựu đạt được trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng, góp phần thiết thực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của Campuchia, đáp ứng lợi ích hai nước, tuy nhiên quan hệ này đứng trước hàng loạt các vấn đề nhạy cảm và phức tạp, tác động tiêu cực trên nhiều lĩnh vực đối với Campuchia Luận văn

đã rút ra đánh giá thực trạng quan hệ Campuchia - Trung Quốc, bài học đối với Campuchia; đồng thời tác giả dự báo triển vọng quan hệ Campuchia - Trung Quốc và đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước

Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia trong những năm đầu thế kỷ XXI của Nguyễn Thành Văn (Tạp chí Khoa học và chiến lược,

Viện Chiến lược và Khoa học/Bộ Công an, Số 4/2013) khái quát quan hệ Campuchia - Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI, đồng thời cung cấp nhưng thông tin, tư liệu về sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia trên các lĩnh vực chủ yếu Bài viết đã chỉ rõ, bước vào thế kỷ XXI, ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia được gia tăng mạnh mẽ, làm cho quan hệ giữa Campuchia và Trung Quốc ngày càng mật thiết, gắn bó hơn

Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia đã làm hài lòng, đem lại lợi ích cho cả hai bên Campuchia được hưởng lợi kinh tế từ những khoản đầu

tư, viện trợ và thương mại của Trung Quốc Ngược lại, Trung Quốc được hưởng lợi từ việc Campuchia ủng hộ các tham vọng của Trung Quốc

Cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ ở Campuchia của Nguyễn Thị Hằng

(Tạp chí quan hệ Quốc phòng, Số 25, Quý 1/2014) đã cung cấp thông tin, đối chiếu, so sánh sự cạnh tranh ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Campuchia trên các lĩnh vực chủ yếu trong khoảng thời gian gần đây Bài viết đánh giá,

sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc cả về kinh tế, quân sự và việc

Trang 9

9

Mỹ đẩy mạnh chuyển hướng sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương bằng

biện pháp chiến lược “tái cân bằng” đã dẫn đến cuộc cạnh tranh ảnh hưởng

chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ tại khu vực Đông Nam Á, trong đó có Campuchia Bài viết dự báo, trong tương lai, cuộc cạnh tranh ảnh hưởng này

sẽ tiếp tục diễn ra gay gắt, điều đó buộc Campuchia phải “khéo léo” trong

việc củng cố quan hệ với Trung Quốc và mở rộng quan hệ với Mỹ

4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

China‟s Cambodia Strategy của Paul Marks, Parameters, Autumn 2000

đã khái quát, phân tích những vấn đề trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc

kể từ những năm 1960 đến năm 2000, cung cấp một số các số liệu, thông tin, phân tích, đánh giá việc Trung Quốc chú trọng thúc đẩy và gia tăng ảnh hưởng trên bốn lĩnh vực ngoại giao, thông tin, kinh tế và quân sự nhằm cải thiện quan hệ với Campuchia Bài viết chỉ ra rằng, đây là bốn công cụ quyền lực quốc gia của Trung Quốc đối với Campuchia, góp phần giúp Trung Quốc đẩy mạnh chiến lược xây dựng liên minh khu vực để chống lại ảnh hưởng của

Mỹ và tăng cường an ninh riêng của mình ở Đông Nam Á

China and Cambodia: With Friends Like These của Viện nghiên cứu

Jamestown Foundation/Mỹ, tháng 1/2013 đã phân tích những thành công, kết quả đạt được trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc thời gian qua và dự báo trở ngại trong quan hệ hai nước trong tương lai Bài viết mô tả việc Trung Quốc ủng hộ các chế độ chính trị khác nhau ở Campuchia từ năm 1960 đến nay nhằm duy trì ảnh hưởng, nhấn mạnh những thành công đạt được trong các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước từ năm 2010 đến 2012 Tác giả đặt ra ba thách thức lớn trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc trong tương lai gồm: chính sách ngoại giao của Campuchia với các nước nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc; một số tác động tiêu cực từ đầu tư kinh tế, viện trợ của Trung

Trang 10

Quốc cho Campuchia và hoài nghi về việc duy trì quyền lực lãnh đạo lâu dài của chính quyền Campuchia hiện nay

Cambodia - China Relation: Past, Present and Future của nghiên cứu

sinh Phou Sambath, 2011, Viện quan hệ quốc tế, Đại học Thành Công/Trung Quốc đã tiếp tục kế thừa quan điểm trước đó của các học giả và đưa ra nhiều

số liệu đánh giá về quan hệ Campuchia và Trung Quốc kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ trên 4 lĩnh vực chủ yếu là chính trị - các khía cạnh ngoại giao, quân sự, kinh tế và văn hóa - giáo dục - khoa học Từ đó, bài viết dự báo, mặc

dù một số vấn đề tồn tại nhưng trên cơ sở quan hệ truyền thống và lợi ích, quan hệ Campuchia - Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường và củng cố trong những năm tới Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới

Rõ ràng là nghiên cứu về quan hệ Campuchia - Trung Quốc nói chung còn khá khiêm tốn so với nhu cầu nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện nay Vấn

đề quan hệ Campuchia - Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI chưa được nghiên cứu cụ thể để đưa ra những tác động đối với mỗi nước và đối với Việt Nam Việc nghiên cứu quan hệ Campuchia - Trung Quốc bắt đầu được quan tâm, tuy nhiên các tác giả chưa khái quát và đưa ra các phân tích, đánh giá tổng thể mà chủ yếu đưa các thông tin thời sự, các sự kiện nổi bật… Do đó, bản thân tôi cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập các tài liệu, số liệu, đánh giá, phân tích liên quan đến quan hệ hai nước Tuy nhiên, các tài liệu này có ý nghĩa gợi mở để tôi hình thành đề tài và là những nguồn tư liệu quý giá, có giá trị tham khảo tốt trong việc triển khai thực hiện đề tài

5 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Hướng tiếp cận

Luận văn sử dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tiếp cận hướng nghiên cứu quan hệ song phương Campuchia - Trung Quốc từ tổng thể đến cụ

Trang 11

11

thể, từ bên ngoài vào bên trong

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, lôgic; hệ thống cấu trúc, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, hệ thống hóa tư liệu; phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành của khoa học xã hội để xem xét vấn đề

6 Nguồn tài liệu

6.1 Nguồn tài liệu gốc

- Tuyên bố chung, Thông cáo báo chí, văn kiện hợp tác được ký kết giữa Chính phủ hai nước liên quan đến hợp tác chính trị, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội

- Tài liệu xuất bản, báo cáo, số liệu thống kê của cơ quan hữu quan, Bộ, ngành của Campuchia và Trung Quốc

- Thông tin, số liệu thống kê của hai nước công bố trên Tân Hoa Xã/Trung Quốc, Thông tấn xã Campuchia và các kênh thông tin đại chúng

6.2 Nguồn tài liệu thứ cấp

- Các công trình khoa học đã được công bố, bao gồm các bài viết đăng ở tạp chí chuyên ngành, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu tiếng Việt

- Tài liệu nghiên cứu, tài liệu dịch từ các cơ quan nghiên cứu, ý kiến của các chuyên gia, nhà hoạt động chính trị do Thông tấn xã Việt Nam phát hành

- Số liệu, thông tin do các cơ quan thông tấn, báo chí quốc tế có uy tín và các số liệu tham khảo, dịch từ báo chí Việt Nam

7 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn

7.1 Ý nghĩa khoa học

- Luận văn đề cập đến vấn đề có ý nghĩa thiết thực nhưng tương đối mới

Trang 12

và có nhiều vấn đề khoa học cần phải làm rõ, trong đó tập trung khái quát, hệ thống và cụ thể hóa quan hệ hợp tác Campuchia - Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI trên các lĩnh vực chủ yếu, từ đó làm rõ sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Campuchia, đánh giá thành công, hạn chế và tác động của quan hệ này đối với mỗi nước

- Rút ra tác động ảnh hưởng của quan hệ hợp tác Campuchia - Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI đối với Việt Nam, từ đó nhằm đưa ra các luận điểm khoa học phục vụ cho công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay

7.2 Đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa và cập nhật tư liệu về quan hệ Campuchia và Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI

- Trên cơ sở làm rõ thực trạng quan hệ Campuchia - Trung Quốc, đưa ra những đánh giá, tác động, nhất là đối với Việt Nam Từ đó, đưa ra những luận

cứ khoa học có tính tham khảo để hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia hiện nay

- Nội dung của luận văn có thể được tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy về chủ đề này ở bậc đại học và sau đại học

Trang 13

13

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YỂU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC 1.1 Tình hình thế giới và khu vực

1.1.1 Tình hình thế giới

Bước sang thế kỷ XXI, hệ thống, trật tự quốc tế đã và đang trải qua những thay đổi to lớn Sự tác động của các nước lớn và các nước đang trỗi dậy đã ảnh hưởng sâu sắc đến những diễn biến của tình hình quốc tế Các nhân tố như ảnh hưởng của cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, tập đoàn hóa, đa cực hóa cùng với sự nổi lên của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống và những tác động ngày càng có xu hướng gia tăng của những thể hành vi phi quốc gia ảnh hưởng lớn đến phương hướng phát triển trong quan hệ quốc tế Trong cục diện ngày càng đa cực, tất cả các nước đều chủ động và tích cực tìm kiếm các tập hợp lực lượng mới rất đa dạng về quy mô, lĩnh vực, cấp độ cũng như hình thức, nhằm theo đuổi lợi ích và nâng cao vị thế quốc gia trong quan hệ quốc tế

Quan hệ giữa các nước lớn vẫn tiếp tục diễn ra trong khuôn khổ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, nhưng nhiều nước phải giải quyết các vấn đề nội bộ Bởi vậy, các nước có xu hướng vừa xử lý các vấn đề nội bộ, tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực nhưng vẫn cạnh tranh về chiến lược Tất cả các nước lớn đều quan tâm đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam

Á Điều chỉnh này mang tính chiến lược, thực chất và lâu dài nhằm tạo thế đứng ở khu vực được dự báo sẽ là trung tâm quyền lực mới của thế giới

Mỹ suy giảm sức mạnh tương đối, nhưng chủ động điều chỉnh trọng tâm chính sách, cách thức tiếp cận nhằm duy trì, củng cố ảnh hưởng trên phạm vi

Trang 14

toàn cầu trong cục diện mới Chính sách đối ngoại linh hoạt, chú trọng “sức

mạnh thông minh” của chính quyền Obama đã đạt được một số thành công

nhất định, giúp Mỹ “thích nghi” với sự thay đổi ngày càng rõ nét về tương

quan lực lượng Mặc dù kinh tế châu Âu (EU) đang từng bước hồi phục, song

vị thế và ảnh hưởng của EU đối với các vấn đề quốc tế có phần suy giảm, nhất là các vấn đề quốc tế liên quan đến kinh tế Trong khi đó, Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, chính trị đã và đang thách thức vị thế của các cường quốc khác, đặc biệt là Mỹ Do sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ lập tức triển khai mạnh mẽ chiến lược tái cân bằng tại khu vực Đông Nam Á, nhằm thu hẹp không gian chiến lược của Trung Quốc và thắt chặt hơn nữa quan hệ với các đồng minh, đối tác tại châu Á - Thái Bình Dương như với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia nhằm kiềm chế tham vọng của Trung Quốc Sau khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm 2008, nhất là trước sự phục hồi mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi, tranh thủ vị thế của mình, các nước thuộc Nhóm tổ chức các nền kinh tế lớn mới nổi (BRICS) tăng cường hợp tác nhằm gia tăng sức ép lên các nước phát triển, đồng thời đã có những bước can dự mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực chính trị - an ninh Những động thái này thể hiện rõ tham vọng của Nga, Brasil và Ấn Độ muốn đẩy nhanh quá trình hình thành trật tự đa cực Sự trở lại của Tổng thống Putin khiến quan hệ Nga - Trung tiếp tục được củng cố cả về song phương và đa phương (trong khuôn khổ Tổ chức hợp tác Thượng Hải - SCO) nhằm tạo đối trọng chiến lược với Mỹ và EU Chính vì vậy, quan hệ Nga - Mỹ có sự bất đồng trong nhiều vấn đề, nhất là liên quan đến phía Tây của Nga

Có thể nói, cạnh tranh giữa các nước lớn tiếp tục chi phối, ảnh hưởng lớn đến quan hệ quốc tế, nhưng những bất đồng trong quan hệ quốc tế chỉ là tạm thời, các nước lớn vẫn tránh đối đầu trực tiếp trong những vấn đề không hoặc chưa thuộc lợi ích chiến lược, cốt lõi của mình, nhằm kiềm chế trong bối cảnh các bên đều là đối tác quan trọng của nhau Tình hình thế giới có những diễn

Trang 15

15

biến phức tạp và khó lường, nhưng vẫn hướng lái xu thế chung là hợp tác hòa bình, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

1.1.2 Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Từ đầu thập niên 1990 đến nay, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động Hợp tác khu vực về kinh tế trong khuôn khổ Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã mở rộng sang các lĩnh vực chính trị an ninh Châu Á - Thái Bình Dương trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, hội tụ các nền kinh tế phát triển năng động nhất hiện nay với 2,6 tỷ dân, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 19.000 tỷ USD, chiếm 47% giá trị trao đổi hàng hóa toàn cầu và đóng góp 70% tỉ lệ tăng trưởng kinh

tế thế giới1 Chính vì vậy, khu vực này tiếp tục thu hút sự quan tâm, chú ý của toàn cầu và đa phần các nước lớn đều điều chỉnh chính sách theo hướng ưu tiên châu Á - Thái Bình Dương Bên cạnh đó, khu vực này đã trở thành địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc Mỹ đang thực hiện bước chuyển căn bản về đối ngoại kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, xem châu Á - Thái Bình Dương là địa bàn trọng tâm chiến lược, chú trọng và tăng cường hợp tác ở khu vực, trong đó có Đông Nam Á

Chủ nghĩa khu vực tiếp tục phát triển, mức độ thể chế hóa tiếp tục gia tăng với các cơ chế đang định hình cả về chính trị, an ninh lẫn kinh tế Quá trình liên kết kinh tế khu vực ngày càng chặt chẽ hơn thông qua các cơ chế như ASEAN, APEC… Nội dung của các cơ chế hợp tác như APEC, ASEM ngày càng mở rộng, gắn với các thách thức toàn cầu mới, phản ánh sự cạnh tranh gay gắt giữa các nền kinh tế, song cũng cho thấy nhu cầu hợp tác tiếp tục là xu thế lớn APEC thúc đẩy mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư gắn với ứng phó các thách thức phi truyền thống

1

Lê Khương Thùy, Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI, Viện nghiên cứu châu Mỹ, 2012, Tr.17

Trang 16

Tuy nhiên, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục đối mặt với nhiều vấn đề nổi cộm như tranh chấp biên giới lãnh thổ gia tăng; các nước vừa và nhỏ đứng trước sức ép bị lôi kéo vào cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Mỹ; các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt hơn, cùng với những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nước Trong những năm gần đây, khu vực này đặc biệt nóng lên bởi sự bùng phát của các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải như giữa Trung Quốc - Nhật Bản, Đài Loan - Nhật Bản, Nhật Bản - Hàn Quốc tại Biển Hoa Đông; giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN tại Biển Đông Mức độ gay gắt của một số tranh chấp như Trung Quốc - Nhật Bản về Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc - Philippines về Scarborough lên mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, đe dọa an ninh và ổn định ở khu vực, dẫn tới bùng phát của tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở một số nước, đặc biệt là Trung Quốc Quan hệ giữa Trung Quốc - Nhật Bản tiếp tục căng thẳng, nhưng các bên vẫn đang kiềm chế, chưa

để các điểm nóng bùng phát thành xung đột

1.1.3 Tình hình khu vực Đông Nam Á

Khu vực Đông Nam Á, về cơ bản, diễn biến hòa bình ổn định, hợp tác và cùng phát triển, trong đó ASEAN ngày càng phát huy vai trò của mình trong hợp tác khu vực, quốc tế và với các nước lớn

ASEAN chú trọng hiện thực hóa mục tiêu Cộng đồng ASEAN dựa trên

ba trụ cột là chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội với thời hạn đặt ra cho việc hoàn thành chỉ tiêu là 31/12/2015 Về chính trị, ASEAN tập trung thực hiện Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN trên 14 lĩnh vực ưu tiên, thông qua cơ chế hợp tác như Hiệp ước Thân thiện

và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc

phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) Về kinh tế, ASEAN trở thành khu vực

Trang 17

17

phát triển năng động với dân số hơn 600 triệu người, quy mô GDP năm 2010 đạt hơn 1.000 tỷ USD, tổng giá trị thương mại khoảng 900 tỷ USD Trong giai đoạn 2010 - 2012, tăng trưởng GDP chung đạt 5%; đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ASEAN ước đạt 90 tỷ USD/năm ASEAN tiếp tục thực hiện

kế hoạch Tổng thể thực hiện Cộng đồng Kinh tế ASEAN (EAC) đạt trên 70% chỉ tiêu trong lộ trình, nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua các kế hoạch, khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mekong với các đối tác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Về văn hóa xã hội, ASEAN tiếp tục thúc đẩy hợp tác, thực hiện kết nối, tăng cường đoàn kết nhằm hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu hòa bình, phát triển và xây dựng cộng đồng ASEAN nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình xây dựng cộng đồng, tăng cường liên kết

Tuy nhiên, khu vực Đông Nam Á vẫn tiềm ẩn các nguy cơ gây mất ổn định, bởi đây là địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, đồng thời phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế về nguồn lực nhằm triển khai xây dựng cộng đồng ASEAN Khu vực Đông Nam Á cũng chịu tác động từ thiên tai, thảm họa, bão lụt, nạn khủng bố và buôn bán ma túy…; bất ổn từ chính trị nội bộ của từng nước, như ở Thái Lan, Campuchia; nguy cơ từ xung đột nội khối giữa Thái Lan với Campuchia; bất đồng trong tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông giữa 6 bên (Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan)

1.2 Khái quát tình hình Campuchia và Trung Quốc

1.2.1 Tình hình Campuchia

Về chính trị, Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) ngày càng phát huy vai

trò lãnh đạo trong Chính phủ liên minh với FUNCINPEC, trong Quốc hội, Thượng viện và chính quyền các cấp; tiếp tục củng cố vị thế của đảng cầm quyền và giữ vai trò nòng cốt trên chính trường Campuchia

Trang 18

Từ năm 1991 đến năm 1998, tình hình Campuchia diễn biến phức tạp do

sự đấu tranh giữa các phe phái chính trị, sự can thiệp của Mỹ, Trung Quốc… Ngày 23/10/1991, Hiệp định hoà bình Campuchia được ký kết giữa 19 nước

và 4 phái Campuchia tại Paris, trao cho Liên Hiệp Quốc quyền giám sát ngừng bắn, hồi hương người tị nạn Khmer, giải giáp và giải ngũ các phe xung đột, chuẩn bị tiến hành bầu cử tự do Tháng 5/1993, Campuchia tiến hành bầu

cử Quốc hội nhiệm kỳ 1 Kết quả, CPP và đảng FUNCINPEC giành được số phiếu gần tương đương (FUNCINPEC giành 58 ghế, CPP giành 51 ghế) Sau

đó, hai đảng thỏa hiệp dưới vai trò trung gian của Quốc vương Campuchia Sihanuok để thành lập Chính phủ liên hiệp CPP - FUNCINPEC nhiệm kỳ 1 với cơ chế đồng Thủ tướng (Ranariddh là Thủ tướng thứ nhất, Hun Sen là Thủ tướng thứ hai) Đến đầu năm 1997, mâu thuẫn giữa FUNCINPEC và CPP liên tiếp diễn ra, cao trào là vụ xung đột ngày 5-6/7 Phát hiện ý đồ đảo chính của Ranariddh, Hun Sen chủ động điều lực lượng về Phnom Penh, nhanh chóng trấn áp lực lượng quân sự của FUNCINPEC và Khmer Đỏ buộc Ranariddh phải lưu vong Sau đó, Quốc vương Sihanouk đứng ra hòa giải để Ranariddh về nước tranh cử trong Tổng Tuyển cử nhiệm kỳ 2 năm 1998

Từ năm 1998 đến 2013, CPP giữ vai trò là đảng cầm quyền ở Campuchia khi liên tục giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ 2 năm

1998, nhiệm kỳ 3 năm 2003, nhiệm kỳ 4 năm 2008, nhiệm kỳ 5 năm 2013; các cuộc bầu cử Thượng viện, bầu cử Hội đồng xã/phường, bầu cử Hội đồng quận/huyện, tỉnh/thành phố Trong quan hệ chính trị nội bộ, CPP chủ trương liên minh với đảng FUNCINPEC trong Chính phủ để giữ ổn định tình hình chính trị Năm 1998, CPP giành 64 ghế trong bầu cử Quốc hội, liên minh với FUNCINPEC (giành 43 ghế) để thành lập Chính phủ liên minh CPP - FUNCINPEC nhiệm kỳ 2, Chủ tịch FUNCINPEC Ranariddh giữ chức Chủ tịch Quốc hội Đến năm 2003, CPP giành 73/123 ghế trong Quốc hội nhưng không thể tự đứng ra thành lập Chính phủ do không đạt trên 2/3 ghế theo

Trang 19

19

Hiến pháp Sau gần một năm đàm phán, ngày 15/7/2004, CPP thỏa hiệp với FUNCINPEC (giành 26 ghế) thành lập Chính phủ liên minh CPP - FUNCINPEC nhiệm kỳ 3 do Hun Sen làm Thủ tướng, Ranariddh tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quốc hội Năm 2008, CPP giành thắng lợi lớn với 90/123 ghế Quốc hội, nhưng vẫn liên minh với FUNCINPEC (chỉ giành được 2 ghế) để thành lập Chính phủ liên minh CPP - FUNCINPEC nhiệm kỳ 4 do Hun Sen làm Thủ tướng Chính phủ liên minh CPP - FUNCINPEC ngày phát huy vai trò, giành được những thành tựu quan trọng trong cải cách và phát triển đất nước, giữ ổn định chính trị, kinh tế và mở rộng quan hệ quốc tế

Đến bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ 5 vào tháng 7/2013, CPP giành 68/123 ghế trong Quốc hội, giảm 22 ghế so với nhiệm kỳ 4, trong khi đó đảng đối lập CNRP bất ngờ giành 55 ghế, đảng FUNCINPEC không giành được ghế Sau khi Ủy ban bầu cử Quốc gia (NEC) công bố kết quả bầu cử, CNRP kiên quyết không tham gia Quốc hội, vu cáo CPP, NEC gian lận trong bầu cử Sau gần một năm đàm phán, phải đến ngày 22/7/2014, CPP và CNRP mới đạt được thỏa thuận tháo gỡ bế tắc chính trị và CNRP đồng ý tham gia Quốc hội Ngày 5/8/2014, 55 ứng cử viên trúng cử của CNRP đã tuyên thệ nhậm chức Nghị sỹ Quốc hội Campuchia trước Quốc vương Sihamoni Ngày 8/8/2014, Quốc hội Campuchia họp phiên bất thường với đầy đủ 123 thành viên Như vậy, bế tắc chính trị kéo dài gần một năm ở Campuchia đã chấm dứt

Có thể nói, tình hình chính trị Campuchia thời gian vừa qua diễn biến phức tạp do các phe phái chính trị hợp tác đan xen để tranh giành quyền lực, nhưng vai trò lãnh đạo nòng cốt vẫn nổi bật là CPP và lực lượng Bảo hoàng

do FUNCINPEC đứng đầu

Về kinh tế, kể từ năm 1991 đến nay, Campuchia chú trọng đẩy mạnh

phát triển các lĩnh vực kinh tế có thế mạnh, thúc đẩy cải cách nhằm tăng

Trang 20

cường hiệu lực quản lý kinh tế nội địa và duy trì tăng trưởng Trung bình từ năm 1991 đến 2008, GDP hàng năm tăng trưởng bình quân 8,14%, trong đó khu vực công nghiệp tăng trưởng đến 14,23%, khu vực dịch vụ tăng trưởng 8,42% và khu vực nông nghiệp tăng trưởng 4.2% Tăng trưởng kinh tế từ năm

2009 đến 2014 đạt trung bình 6,8% Tăng trưởng nông nghiệp năm 2012 đạt 4,1%, công nghiệp đạt 9,5%, dịch vụ là 6,4% GDP năm 2013 của Campuchia đạt 8,83 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.080 USD/năm Tuy nhiên, Campuchia vẫn là quốc gia nghèo trong khu vực, có thu nhập bình quân đầu người thấp Khoảng ¼ dân số Campuchia sống ở mức đói nghèo với thu nhập dưới 1,25 USD/ngày và phần lớn sống ở nông thôn Nền kinh tế Campuchia vẫn còn dựa vào nông nghiệp, nhưng vẫn nhập khẩu thực phẩm từ các nước láng giềng

Về quốc phòng - an ninh, Chính phủ Campuchia nắm chắc lực lượng vũ

trang, quan tâm tăng cường tiềm lực quân sự, bảo đảm chủ quyền, giữ vững

an ninh Chính phủ Campuchia ưu tiên tăng ngân sách quốc phòng, tăng cường mua sắm vũ khí trang bị Ngân sách quốc phòng của Campuchia năm

2013 đạt 400,16 triệu USD, dự kiến năm 2014 là 468 triệu USD Quân đội Campuchia đã mua khoảng 250 xe tăng, xe bọc thép đã qua sử dụng mua từ các nước Đông Âu từ năm 2010 - 20122 Tình hình quốc phòng - an ninh Campuchia cơ bản ổn định, tuy nhiên, biên giới Campuchia - Thái Lan còn tiềm ẩn bất ổn liên quan đến tranh chấp chủ quyền xung quanh ngôi đền Preah Vihear Từ năm 2008 - 2011, hai bên xảy ra nhiều cuộc xung đột ở khu vực biên giới, gây thiệt hại cho binh lính và thường dân hai nước, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực Trong đó, cuộc giao tranh tháng 10/2008 đã làm khoảng 20 người chết và hàng chục người bị thương; từ tháng 1-4/2011, đụng

độ giữa hai bên làm hơn 30 người chết, hàng trăm người bị thương và hàng

2 Thanh niên online, Hậu trường sức mạnh quân sự Campuchia, http://www.thanhnien.com.vn/pages/

20130111/hau-truong-suc-manh-quan-su-campuchia.aspx, truy cập ngày 14/11/2014

Trang 21

21

chục nghìn người dân hai nước phải sơ tán3 Bên cạnh đó, được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các lực lượng phản động ở Campuchia tiếp tục lợi dụng tình hình để liên kết, tăng cường tuyên truyền, kích động biểu tình, bạo lực chống phá Chính phủ Campuchia

Về đối ngoại, Campuchia chủ động, từng bước hội nhập quốc tế, nâng

cao vị thế trong khu vực Campuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN

(tháng 4/1999); thành viên chính thức thứ 148 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (tháng 10/2004), gia nhập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (tháng 10/2004) và đang tích cực vận động để tham gia APEC trong thời gian sớm nhất Campuchia là thành viên tích cực trong các cơ chế hợp tác khu vực như

Uỷ hội Mekong quốc tế (MRC); Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS); Khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia (CLV); Hành lang kinh tế Đông Tây (WEC) Campuchia đảm nhiệm cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN và tổ chức thành công các Hội nghị trong khuôn khổ hợp tác khu vực vào năm 2002 và năm 2012

Campuchia đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia, bao gồm các nước láng giềng và những đối tác quan trọng như Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam… Quan hệ Campuchia - Mỹ được thúc đẩy nhất là từ năm 2008 khi Tổng thống Mỹ Obama tuyên bố chính sách quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương trên nhiều lĩnh vực Về chính trị, hai bên duy trì các chuyến thăm, cam kết thúc đẩy hợp tác chính trị - ngoại giao, khắc phục những bất đồng Về quân sự, Mỹ và Campuchia thúc đẩy hợp tác, duy trì diễn tập chung, hợp tác đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình cho Quân đội Campuchia… Mỹ thực hiện Sáng kiến gìn giữ hòa bình toàn cầu (GPOI) với một số nước trong khu vực,

trong đó có Campuchia và duy trì tập trận thường niên “Người gác đền

3 BBC, Căn nguyên cu ̉a xung đột Thái - Campuchia, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/

2011/04/110428_thai_khmer_dispute_history.shtml, truy cập ngày 14/11/2014

Trang 22

Angkor” với Campuchia từ năm 2010 Về kinh tế, Mỹ là đối tác thương mại

quan trọng, là thị trường xuất khẩu nhiều mặt hàng của Campuchia

Quan hệ Campuchia - Việt Nam được củng cố và tăng cường Hai bên tích cực thúc đẩy các chuyến thăm, làm việc ở các cấp nhằm tăng cường hợp tác chính trị; nhất trí đẩy mạnh hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh

tế, thương mại, đầu tư, quốc phòng, an ninh…; triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã được ký kết; thúc đẩy công tác phân giới cắm mốc trên đất liền nhằm xây dựng đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển Kim ngạch thương mại song phương năm 2013 đạt khoảng 3,5 tỷ USD và hai bên cam kết sẽ đạt 5 tỷ USD vào năm 2015 Việt Nam tiếp tục ưu tiên giúp Campuchia đào tạo nguồn nhân lực, y tế, khám chữa bệnh cho nhân dân Campuchia Hai bên tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm 2012; thúc đẩy các chuyến thăm song phương giữa lãnh đạo cấp cao hai nước nhằm cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện

Quan hệ giữa Campuchia với Thái Lan từng bước được cải thiện Hợp tác thương mại được nối lại, khu vực biên giới dần đi vào ổn định Hai bên tiếp tục đàm phán để từng bước rút quân khỏi khu vực tranh chấp biên giới ở khu vực Preah Vihear

1.2.2 Tình hình Trung Quốc

Về chính trị, Đảng Cộng sản Trung Quốc giữ vai trò lãnh đạo đất nước,

thực hiện chính sách đổi mới, cải cách nội bộ, tiếp tục đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, thực hiện mục tiêu chiến lược

“xây dựng xã hội khá giả toàn diện” Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh cải cách

nhằm tìm ra mô hình tăng trưởng mới phù hợp với tình hình hiện nay của Trung Quốc, duy trì nguyên tắc lãnh đạo nhằm chia sẻ quyền lực và bảo đảm

sự ổn định về chính trị - xã hội Trung Quốc tổ chức thành công các kỳ Đại

Trang 23

23

hội Đảng Cộng sản Trung Quốc, nổi bật là Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 năm 2012, qua đó tiến hành quá trình chuyển giao quyền lực

giữa thế hệ lãnh đạo thứ 4 của Hồ Cẩm Đào với phương châm phát triển “xã

hội hài hòa” sang thế hệ lãnh đạo thứ 5 của Tập Cận Bình - nhân vật được

cho là quan hệ thân thiết với Quân đội, có lập trường cứng rắn cả về đối nội, đối ngoại, theo đuổi tư tưởng dân tộc chủ nghĩa trong chính sách ngoại giao Ngay sau khi nắm quyền lãnh đạo, Tập Cận Bình đẩy mạnh công tác chống

tham nhũng, xử lý “mạnh tay” hàng loạt các quan chức cấp cao tham nhũng,

trong đó có cựu ủy viên Bộ Chính trị Chu Vĩnh Khang, hai Phó Chủ tịch Quân ủy Trung Quốc Từ Tài Hậu và Quách Bá Hùng…

Về kinh tế, thực lực kinh tế của Trung Quốc có xu thế tăng trưởng nhanh,

nhưng thời gian gần đây có dấu hiệu chững lại GDP của Trung Quốc năm

1990 là 390,3 tỉ USD, năm 2000 là 1198,5 tỉ USD và năm 2010 là 5878,3 tỉ USD4 Trung Quốc thay thế Nhật Bản để trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới vào năm 2010 và hiện đang dẫn đầu về đối tác thương mại với 124 nước Trung Quốc có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới với 3.700 tỷ USD; là công xưởng lớn nhất thế giới, trong đó sản lượng ô tô gấp đôi của Mỹ5

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế phát triển không ổn định và cơ cấu kinh tế tiêu thụ nhiều năng lượng, dẫn đến phân hóa giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng Trung Quốc là nước sản xuất, tiêu dùng năng lượng lớn nhất trên thế giới, trong đó đứng thứ hai thế giới về tiêu thụ dầu, dự kiến sẽ là nước nhập khẩu dầu lớn nhất trong năm 2014; là quốc gia sản xuất và tiêu thụ than lớn nhất trên thế giới, chiếm gần một nửa số lượng than tiêu thụ của thế giới; tiêu thụ khoảng 40% sản lượng kim loại toàn cầu6 Ngoài ra, Trung Quốc đối mặt với khó

Trang 24

khăn trong giải quyết vấn đề lao động, ô nhiễm môi trường…

Về quốc phòng - an ninh, Trung Quốc tăng cường tiềm lực quân sự, đẩy

mạnh đối ngoại quân sự nhằm đối phó với những thách thức ở khu vực, sự hiện diện quân sự của Mỹ và bảo đảm lợi ích an ninh hàng hải cũng như tham vọng chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực

Trung Quốc tích cực triển khai chiến lược biển, áp dụng nhiều biện pháp, thủ đoạn để từng bước hiện thực hóa tham vọng độc chiếm Biển Đông,

mở rộng lãnh hải Trung Quốc đẩy mạnh yêu sách “đường chín đoạn” trên

Biển Đông, khiến tình hình khu vực trở nên bất ổn, tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN ngày càng trở nên phức tạp và căng thẳng Tranh chấp chủ quyền giữ Trung Quốc và Nhật Bản đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku trở nên căng thẳng

Trung Quốc mở rộng đối ngoại quân sự, tích cực tham gia các cuộc diễn tập song phương và đa phương, tiếp tục cải thiện quan hệ quân sự với các nước, kể cả với Mỹ, đồng thời tích cực tham gia các cuộc diễn tập với

Mỹ, Ấn độ, Philippines, Thái Lan, nhất là với Nga và các nước thuộc SCO Bên cạnh đó, Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng vũ trang, liên tục

tăng ngân sách quốc phòng nhằm “rút ngắn khoảng cách chênh lệch” so với

các nước tiên tiến Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng gấp 8 lần trong 20 năm qua và trở thành nước chi tiêu quân sự lớn thứ hai trên thế giới Bắc Kinh cho biết, tổng mức chi tiêu quân sự của Trung Quốc năm 2013 là 120 tỷ USD, tuy nhiên theo Hoa Kỳ, con số thực tế là gần 145 tỷ USD7

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tồn tại nguy cơ bất ổn từ mâu thuẫn xã hội, các vấn đề về dân chủ, nhân quyền và xung đột sắc tộc, tôn giáo trong nước, các vụ khủng bố thường xuyên diễn ra, nhất là tại các khu tự trị Tây Tạng và

7 BBC, Trung Quốc chi 145 tỷ USD cho quốc phòng, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/

2014/06/140606_china_military_budget.shtml, truy cập ngày 12/11/2014

Trang 25

25

Tân Cương Quan hệ quân sự hai bờ Trung Quốc - Đài Loan thiếu sự tin cậy

Về đối ngoại, Trung Quốc tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại tích cực

chủ động, tham gia rộng rãi vào các vấn đề quốc tế và khu vực nhằm khẳng định vị thế cường quốc của mình Theo đó: (1) Vừa cải thiện quan hệ, vừa gia tăng cạnh tranh với Mỹ và Nhật Bản Tiếp tục trao đổi, giao lưu quân sự với

Mỹ, phối hợp cùng giải quyết các vấn đề quốc tế như vấn đề Triều Tiên, Syria… nhưng kiên quyết phản đối các nước này sử dụng vấn đề Đài Loan, thương mại… để can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc; thực hiện

“trả đũa” Mỹ trong vấn đề thương mại, phản đối Mỹ tăng cường hiện diện ở

khu vực; (2) Thúc đẩy cải thiện quan hệ với các nước láng giềng nhằm gia tăng ảnh hưởng ở khu vực Trung Quốc tích cực tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhấn mạnh cùng xây dựng một môi trường khu vực ổn định, hòa bình và tin tưởng lẫn nhau, hợp tác cùng

có lợi, thúc đẩy quan hệ với Nga, Hàn Quốc, Triều Tiên, các nước Nam Á,

Nam Thái Bình Dương với phương châm “thân thiện với láng giềng và coi

láng giềng là bạn”; (3) Tăng cường hợp tác và gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ

đối với ASEAN Trung Quốc chủ trương đẩy nhanh tiến trình “hợp tác vành

đai Vịnh Bắc Bộ mở rộng”, đẩy nhanh tiến trình thực hiện Khu vực thương mại

tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA)… Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, ngược lại, ASEAN là đối tác lớn thứ ba của Trung Quốc Quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 230 tỷ vào năm 2011, tạo thành khu vực lớn thứ 3 về thương mại tự do của thế giới8 Trong nửa đầu năm 2013, kim ngạch thương mại ở mức 210 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2012 và gần bốn lần so với năm 2002 ASEAN hiện là địa điểm đầu tư

8

Thông tấn xã Việt Nam, Biển Đông sẽ là nơi đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc, TLTKĐB, số 290, ngày 25/3/2011

Trang 26

quan trọng thứ tư của Trung Quốc với tổng số vốn đầu tư lên tới 30 tỷ USD9; (4) Tăng cường quan hệ, mở rộng ảnh hưởng ở các nước, các khu vực khác trên thế giới, nhất là đối với châu Phi và châu Mỹ Latinh; (5) Trung Quốc coi trọng tăng cường đầu tư và viện trợ kinh tế, hợp tác quân sự nhằm gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ đối với Lào, Campuchia

1.3 Quan hệ truyền thống Campuchia - Trung Quốc

Tại Hội nghị Băng-đung (tháng 4/1955), Chu Ân Lai tiếp xúc với Sihanouk và sau đó, quan hệ giữa Trung Quốc và chính quyền Sihanouk diễn

ra nhiều mặt và khá dồn dập Trong những năm 1950 và 1960, Thủ tướng Chu

Ân Lai, Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ nhiều lần thăm Campuchia, trong khi Sihanouk sáu lần đến thăm Trung Quốc Hai bên chính thức đặt quan hệ ngoại giao từ tháng 7/1958 và Campuchia trở thành quốc gia không theo phe xã hội chủ nghĩa đầu tiên nhận viện trợ từ Trung Quốc10

Sihanouk góp phần phá vỡ sự cô lập của Trung Quốc trong những năm 1960 khi giúp Trung Quốc vận động tranh cử việc trục xuất Đài Loan tại Liên hợp quốc

Từ những năm 1960, Trung Quốc cùng lúc sử dụng nhiều con bài chính trị để gia tăng ảnh hưởng ở Campuchia Thứ nhất, Trung Quốc ngầm hỗ trợ lực lượng Khmer Đỏ nổi dậy để chống chính quyền Sihanouk, làm cho quan

hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng vào năm 1967 Cuối năm 1965, Mao Trạch Đông mời Pol Pot sang thăm Trung Quốc Sau khi trở về, năm 1966, Pol Pot thay đổi toàn bộ cương lĩnh chính trị mà Trung ương Đảng đã thông qua; xác định nhiệm vụ của cách mạng là lật đổ Sihanouk, chống Pháp và làm

“cách mạng văn hóa” theo kiểu Trung Quốc11

Thứ hai, Trung Quốc tăng cường hợp tác với Lon Nol Tháng 10/1965, Trung Quốc chính thức mời Lon

Trang 27

27

Nol thăm Bắc Kinh, khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia, để bàn việc Trung Quốc viện trợ quân sự cho Campuchia Ngay sau khi Lon Nol đảo chính vào năm 1970, lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố ủng hộ Lon Nol và khuyên Việt Nam cũng nên ủng hộ Lon Nol Bộ Ngoại giao Trung Quốc đề

nghị Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh “Sihanouk không có lực lượng, Việt Nam

cần ủng hộ Lon Nol; Trung Quốc đón Sihanouk nhưng vẫn quan hệ tốt với đại

sứ quan của Phnom Penh” và Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia cũng đề nghị

Đại sứ Việt Nam tại Campuchia điều tương tự… Phải đến 5/5/1970, Trung Quốc mới chính thức cắt đứt quan hệ ngoại giao với Lon Nol Thứ ba, Trung Quốc vẫn duy trì quan hệ với Sihanouk, tạo điều kiện để Sihanouk lưu trú ở Trung Quốc Sau khi bị Lon Nol lật đổ, Sihanouk và Hoàng tộc sang Trung Quốc thành lập Mặt trận đoàn kết dân tộc Campuchia và Chính phủ Đoàn kết dân tộc Vương quốc Campuchia đặt trụ sở tại Bắc Kinh

Từ năm 1975, Trung Quốc hậu thuẫn Khmer Đỏ, phản đối Việt Nam can thiệp vào Campuchia, gây ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc với Việt Nam Được sự hậu thuẫn của Trung Quốc, chính quyền Khmer Đỏ thực hiện chính sách đối ngoại thù địch và hiếu chiến với Việt Nam, kích động hận thù dân tộc, nhận viện trợ vũ khí trang bị và huấn luyện của Trung Quốc để chuẩn

bị xâm lược Việt Nam Tháng 4/1975, Pol Pot thực hiện chính sách dồn dân, xóa bỏ thành phố, tiền tệ, trường học, bệnh viện và tàn sát trí thức…Trong khi

dư luận thế giới hết sức kinh hoàng thì nhà cầm quyền Trung Quốc lại đồng tình và khuyến khích Pol Pot12

Trong thời gian từ 1975 đến 1978, Bắc Kinh giảm đáng kể viện trợ cho các nước đang phát triển, nhưng dành cho Campuchia ½ tổng số viện trợ của Bắc Kinh đối với các nước Tháng 8/1975,

12 Tiếp Pol Pot tháng 5/1975, Mao Trạch Đông ca ngợi “các đồng chí vừa giành được thắng lợi huy hoàng, chỉ

một đòn mà không còn giai cấp nữa”; “Trung Quốc đi một bước, các đồng chí đi hai bước” Ngày 28/9/1977,

tiếp Pol Pot tại Bắc Kinh, Thủ tướng Trung Quốc Hoa Quốc Phong cổ vũ “các đồng chí không chỉ giỏi phá hủy

thế giới cũ mà còn giỏi xây dựng thế giới mới”

Trang 28

Bắc Kinh viện trợ không hoàn lại cho Pol Pot 1 tỷ USD trong 5 năm, bao gồm viện trợ kinh tế và quân sự Trung Quốc lập cầu hàng không chuyên chở vũ khí cho Campuchia, yêu cầu Thái Lan cho Trung Quốc sử dụng đường bay qua không phận Thái Lan để vận chuyển hàng viện trợ cho Pol Pot; cử hơn 2 vạn cố vấn sang Campuchia; vạch kế hoạch giúp Pol Pot xây dựng các căn cứ quân sự ở Battambang, Siem Reap, Kampong Thom…; giúp Pol Pot xây dựng 23 sư đoàn vào năm 1978, có đủ hải, lục, không quân, trang bị hoàn toàn bằng vũ khí và phương tiện chiến tranh của Trung Quốc, vượt xa khả năng của nền kinh tế và nhu cầu phòng thủ của Campuchia13

Các bước leo thang chiến tranh của Campuchia diễn ra gần như song song với các bước leo thang của Trung Quốc trong việc gây sức ép quân sự chống Việt Nam Trong giai đoạn 1975-1979, Khmer Đỏ kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Campuchia, khiêu khích, gây xung đột dọc biên giới Ngày 31/12/1977, Đại sứ quán Campuchia ở Bắc Kinh tổ chức họp báo vu cáo Việt Nam xâm lược lãnh thổ Campuchia, ép buộc Campuchia tham gia Liên bang Đông Dương và tuyên bố cắt đứt quan

hệ ngoại giao với Việt Nam Tháng 1/1978, trong chuyến thăm Campuchia, Phó Ủy viên trưởng Quốc hội Trung Quốc Đặng Lĩnh Siêu khuyến khích

Campuchia “nước yếu, nước nhỏ có thể đánh bại nước lớn, nước mạnh”14

Tháng 11/1978, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp bàn về vấn đề Campuchia, quyết định tăng cường ủng hộ Khmer Đỏ bằng tiền bạc, vũ khí và ngoại giao, nếu Campuchia gặp khó khăn thì Trung Quốc sẽ tiến công vào

biên giới phía Bắc để hỗ trợ Khmer Đỏ, để “dạy cho Việt Nam một bài học”15

Cuối năm 1978, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng

sang Campuchia, tuyên bố “Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh bảo vệ độc

13 NXB Sự thật, Tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Campuchia, Hà Nội, 1985, Tr.56

14 NXB Sự thật, Tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Campuchia, Hà Nội, 1985, Tr.75

15 Vũ Dương Ninh (2002), Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1945-2000), Khoa Quốc tế học, Đại học

khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội

Trang 29

29

lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia Dân chủ”16 Tháng 12/1978, Pol Pot tập trung 19/23 sư đoàn chủ lực ở biên giới, tấn công trên tuyến biên giới Việt Nam Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam, các lực lượng yêu nước của Campuchia đã tiến công lật đổ chế độ Campuchia Dân chủ vào ngày 07/01/1979 Ngay sau đó, Trung Quốc tiến công vào biên giới phía Bắc của Việt Nam từ ngày 17/2-16/3/1979 nhằm gây sức ép buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia Báo chí Trung Quốc phát

động một chiến dịch vu khống “Việt Nam bài Hoa, chống Trung Quốc”, “xâm

phạm biên giới Trung Quốc” và kêu gọi Mỹ, Nhật, phương Tây và ASEAN

lập Mặt trận quốc tế chống bá quyền, tức là chống Việt Nam và Liên Xô

Từ năm 1979 - 1991, Trung Quốc trợ giúp phái Sihanouk, tiếp tục hỗ trợ cho lực lượng Khmer Đỏ, can thiệp giải quyết vấn đề Campuchia Ngay sau khi Pol Pot bị lật đổ, Trung Quốc tranh thủ Thái Lan để cứu nguy cho Pol Pot,

sử dụng Thái Lan làm đất thánh cho Khmer Đỏ Đặng Tiểu Bình yêu cầu

“chính phủ Thái Lan cho phép Trung Quốc viện trợ vật chất cho Campuchia

qua Thái Lan” Trong cuộc gặp với Thủ tướng Thái Lan, Bí thư Quân ủy

Trung ương Trung Quốc Cảnh Tiêu đề nghị Thái Lan vận động để ASEAN không công nhận Chính phủ Campuchia; khẳng định Trung Quốc ủng hộ tuyệt đối Campuchia Dân chủ đến cùng và mong Thái Lan thu xếp để Ieng Sary đi Trung Quốc và về Campuchia qua Thái Lan Trung Quốc tiếp tục viện trợ vũ khí cho tàn quân Khmer Đỏ, chỉ riêng trong năm 1982, Bắc Kinh đã cung cấp cho tàn quân Khmer hàng vạn tấn vũ khí đạn dược, hàng nghìn khẩu pháo, cối các loại, tên lửa H.12 và hàng vạn khẩu B40, B41, súng trường và hàng vạn tấn lương thực; để lại khoảng 2.000 nhân viên quân sự để chỉ huy tàn quân Pol Pot chống phá17

Từ năm 1979, Trung Quốc tiếp đón Sihanouk,

Trang 30

duy trì quan hệ tốt và cấp nơi cư trú cho Sihanouk ở Bắc Kinh nhằm bảo đảm Sihanouk luôn ủng hộ Trung Quốc Sau năm 1979, Trung Quốc đưa Sihanouk giữ ghế của Campuchia Dân chủ ở Liên hợp quốc; vận động đàm phán để

thành lập “Chính phủ liên hiệp” gồm ba phái nhằm duy trì vị trí của Khmer

Đỏ, gạt bỏ vai trò của lực lượng cách mạng của Heng Samrin Đặng Tiểu

Bình khuyên Pol Pot “phải đoàn kết rộng rãi trên cơ sở dân tộc và yêu nước,

phải tính tới việc thành lập mặt trận đoàn kết với Sihanouk”18 Liên tục trong thời gian dài, Trung Quốc tìm cách trì hoãn hòa bình, ổn định ở Campuchia; yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, coi đây là điều kiện tiên quyết cho mọi giải pháp ở Campuchia Tháng 3/1983, Trung Quốc tuyên bố yêu cầu Việt Nam đơn phương rút quân là điều kiện tiên quyết cho việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Quan hệ chính trị Campuchia - Trung Quốc được thắt chặt sau biến cố chính trị ở Campuchia năm 1997 Từ ngày 5-6/7/1997, một cuộc đụng độ vũ trang xảy ra giữa lực lượng ủng hộ Thủ tướng thứ nhất Norodom Ranariddh với lực lượng ủng hộ Thủ tướng thứ hai Hun Sen Kết cục, Norodom Ranariddh phải chạy ra nước ngoài Sau cuộc xung đột, với lý do Đài Loan ngầm ủng hộ Norodom Ranariddh, Hun Sen ra lệnh đóng cửa Văn phòng đại diện Đài Loan, trục xuất các nhân viên của Văn phòng này khỏi Campuchia Động thái này của Hun Sen làm cho Trung Quốc thấy được tín hiệu điều chỉnh chính sách của Campuchia đối với Trung Quốc Ngay lập tức, Trung Quốc chính thức công nhận Chính phủ mới của Campuchia khi đại diện Chính phủ Campuchia sang Trung Quốc vào tháng 8/1997 Thủ tướng Trung Quốc Lý

Bằng khẳng định với đồng Thủ tướng Hun Sen và Ung Huot, rằng “Trung

Quốc sẽ không bao giờ can thiệp vào chính trị nội bộ của Campuchia” và “các

18 NXB Sự thật, Tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Campuchia, Hà Nội, 1985, Tr.86

Trang 31

31

vấn đề của Campuchia phải được giải quyết bởi nhân dân Campuchia”19

Bên cạnh quan hệ chính trị, ngoại giao, quan hệ kinh tế Campuchia - Trung Quốc trong thập niên 90 của thế kỷ XX cũng phát triển mạnh mẽ Năm

1992, thương mại song phương đạt 12,46 triệu USD, sau đó tăng lên 120,7 triệu USD vào năm 1997 và đạt 223,57 triệu USD vào năm 2000 Đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia tăng gấp ba lần trong năm 1997-1998 và tăng thêm 40% vào năm 1999 Trung Quốc ký bản ghi nhớ về việc Trung Quốc cam kết hỗ trợ nông nghiệp, năng lượng, thủy sản và vận tải biển vào tháng 9/1997) và chính thức viện trợ 116 xe tải chở hàng quân sự và 70 xe jeep trị giá 2,8 triệu USD vào tháng 12/199720 Tháng 2/1999, trong chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Hun Sen, Trung Quốc viện trợ không hoàn lại cho Campuchia 18,3 triệu USD và cho vay không lãi suất 200 triệu USD để Campuchia tiến hành các dự án cơ sở hạ tầng Phía Trung Quốc khẳng định,

chuyến thăm này là "một tầm cao mới" trong quan hệ Campuchia - Trung

Quốc và 218 triệu USD là khoản viện trợ cao nhất mà Trung Quốc cấp cho các nước trong thời điểm đó

Như vậy, quan hệ Campuchia - Trung Quốc trước thế kỷ XXI ngày càng được củng cố và phát triển Nổi bật là việc Trung Quốc sử dụng nhiều con bài chính trị ở Campuchia nhằm chi phối, hướng lái Campuchia theo ý đồ của Trung Quốc Quan hệ Campuchia - Trung Quốc là nhân tố quan trọng tác động đến lịch sử và hòa bình, ổn định ở Campuchia

1.4 Chủ trương, mục tiêu của Campuchia và Trung Quốc trong quan hệ giữa hai nước

1.4.1 Chủ trương, mục tiêu của Campuchia

19 Paul Mark, China's Cambodia Strategy, http://strategicstudiesinstitute.army.mil/pubs/parameters/

articles/00autumn/marks.htm, truy cập ngày 11/4/2014

20

Nguồn đã dẫn, 19

Trang 32

Đường lối đối ngoại của Campuchia là giữ chính sách trung lập, không liên kết, tồn tại hòa bình và ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng

và khu vực21

Campuchia chủ trương tăng cường quan hệ hợp tác chính trị, thúc đẩy hợp tác kinh tế với Trung Quốc, trong đó thu hút đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc, tạo cơ chế thông thoáng từ các nguồn vốn đầu tư từ Trung Quốc

để ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở cơ chế ASEAN - Trung Quốc,

cơ chế song phương và các diễn đàn kinh tế đa phương khác

Về chính trị, Campuchia mong muốn thúc đẩy hợp tác chính trị với

Trung Quốc để nâng cao vị thế trong khu vực và tận dụng sự ủng hộ của Trung Quốc trong các diễn đàn, cơ chế hợp tác đa phương Bên cạnh đó, Campuchia ở giữa Thái Lan và Việt Nam, những nước có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn Campuchia, vì vậy, Campuchia phải tìm kiếm các mối quan hệ tốt với các cường quốc bên ngoài làm đối trọng với Thái Lan và Việt Nam, trong đó quan hệ tốt với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu22

Về kinh tế, đối với quốc gia có trình độ phát triển thấp ở khu vực như

Campuchia, đầu tư và viện trợ của Trung Quốc là nguồn lực to lớn để Campuchia phát triển cơ sở hạ tầng, ổn định tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Campuchia không phải là quốc gia

có cơ sở hạ tầng tốt, do hậu quả của nội chiến và xung đột kéo dài nhiều thập

kỷ trước Những năm 2000, Campuchia chỉ có một hệ thống đường sắt chạy tới Kampong Cham và tới miền Tây Bắc giáp Thái Lan, tổng chiều dài đường sắt là 603 km; có khoảng gần 12% trong số 35,769 km đường bộ của Campuchia được trải nhựa và con đường tốt nhất ở Campuchia đường nối thủ

đô Phnom Penh với cảng biển Sihanoukville Ngoài ra, Campuchia cần đối tác kinh tế như Trung Quốc để thúc đẩy phát triển xuất khẩu, đẩy mạnh

21 Hội đồng Thủ tướng, Hiến pháp Campuchia 1993, http://cambodia.ohchr.org/klc_pages/KLC_files/

section_001/section_01_01_ENG.pdf, truy cập ngày 14/3/2014

22 Thông tấn xã Việt Nam, Campuchia hưởng lợi từ sự cạnh tranh ảnh hưởng khu vực giữa Mỹ và Trung

Quốc, số 174, ngày 30/6/2012, TLTKĐB

Trang 33

33

thương mại, phát triển các ngành kinh tế tiềm năng

Về quốc phòng - an ninh, Campuchia có đối tác mua sắm vũ khí trang bị,

đồng thời nhận viện trợ quân sự, hỗ trợ đào tạo để củng cố quốc phòng - an ninh, nhất là trong bối cảnh có tranh chấp biên giới với Thái Lan

1.4.2 Chủ trương, mục tiêu của Trung Quốc

Trung Quốc coi trọng quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, các nước đang phát triển, nhằm củng cố vị thế và cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ Campuchia là một trong những địa bàn mà Trung Quốc quan tâm vừa thúc đẩy hợp tác vừa gia tăng ảnh hưởng toàn diện Trung Quốc coi trọng phát triển quan hệ với Campuchia trên cơ sở tình hữu nghị truyền thống, tin cậy,

hỗ trợ cùng phát triển và chủ trương thường xuyên thúc đẩy quan hệ mạnh mẽ giữa hai nước thời gian tới23

Về chính trị - ngoại giao, thứ nhất, Trung Quốc tăng cường quan hệ với

Campuchia để gia tăng ảnh hưởng ở khu vực Campuchia có vị trí địa chính trị quan trọng khi nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, có biển, nằm trên cầu nối giao thông giữa Trung Quốc xuống phía Nam Là thành viên của một số tổ chức khu vực và thế giới, nhất là ASEAN, Campuchia được coi là

một trong những viên ngọc trai trong “chuỗi ngọc trai” mà Trung Quốc đang

muốn tạo ra trong khu vực Đông Nam Á - vị trí đảm bảo quyền tiếp cận Vịnh Thái Lan và Biển Đông một cách thuận tiện nhất24 Đồng thời, Campuchia là kênh quan trọng để Trung Quốc tiếp cận sâu và gia tăng ảnh hưởng của mình xuống phía Nam, nhất là qua hợp tác khu vực tiểu vùng sông Mekong và ASEAN Trong giai đoạn hiện nay, ASEAN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, do đó lợi ích của Trung

23 Tuyên bố chung Campuchia - Trung Quốc năm 2000

24 Diễn đàn Đông Á, Why China charms Cambodia,

http://www.eastasiaforum.org/2013/08/24/why-china-charms-cambodia/, truy cập ngày 22/12/2013

Trang 34

Quốc là thúc đẩy quan hệ hợp tác với Campuchia và các thành viên ASEAN khác để làm cầu nối cho ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc25

Thứ hai, tăng cường quan hệ hợp tác với Trung Quốc góp phần cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở khu vực Đông Nam Á Khu vực này có hai đồng minh của Mỹ là Thái Lan và Philippines và quan hệ giữa các nước thành viên của ASEAN với Mỹ đang tích cực được thúc đẩy Trong khi đó, phương tiện

để chống lại ảnh hưởng của Mỹ là cơ chế liên minh thì Trung Quốc chưa có Mối quan hệ của Trung Quốc với Pakistan, Nga đang được thúc đẩy để thành liên minh và Trung Quốc tiếp tục hướng tới quan hệ liên minh với Myanmar, Campuchia và gần đây nhất là Indonesia trong khu vực Đông Nam Á Trong

China's Cambodia Strategy, Paul Marks nhận định “Lợi ích quốc gia của

Trung Quốc không thể tách rời kinh tế, quân sự hoặc chính trị từ lợi ích của các nước châu Á khác và quan hệ khu vực chặt chẽ hơn cũng có thể giúp xoa dịu chủ nghĩa bá chủ quốc tế của Mỹ vì liên minh có thể cạnh tranh và ngăn chặn sức mạnh, ảnh hưởng của Mỹ”26

Thứ ba, Trung Quốc mong muốn chia rẽ ASEAN nhằm ngăn chặn một

sự đồng thuận an ninh chống Trung Quốc27 Trung Quốc không mong muốn một ASEAN đoàn kết, thống nhất để tạo ra những nguy cơ ảnh hưởng đến sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và nhất là trước những leo thang của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông Đây cũng là một trong những mục tiêu mà Trung Quốc theo đuổi trong quan hệ với Myanmar, Campuchia và Indonesia Campuchia có thể làm trung gian hòa giải giữa Trung Quốc với các nước trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo và sự ủng hộ của Campuchia đối với Trung Quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng

25

Thông tấn xã Việt Nam, Tác động đối với Việt Nam từ việc Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng tại Lào và

Campuchia, TLTKĐB, số 53, ngày 04/03/2014

26 Paul Mark, China's Cambodia Strategy, http://strategicstudiesinstitute.army.mil/pubs/parameters/

articles/00autumn/marks.htm, truy cập ngày 11/4/2014

27

Nguồn đã dẫn, 26

Trang 35

35

Về quốc phòng - an ninh, Campuchia có vị trí quân sự chiến lược, nằm ở

trung tâm của bán đảo Đông Dương, có biển và gần tuyến giao thông hàng hải quốc tế Việc thắt chặt quan hệ với Campuchia có ý nghĩa quan trọng đối với Trung Quốc trong việc đảm bảo an ninh khu vực, nhất là tuyến đường thủy và đường bộ của Trung Quốc qua khu vực này, có ý nghĩa sống còn đối với chiến lược phát triển xuống phía Nam và ra Ấn Độ Dương của Trung Quốc Campuchia là vị trí có thể triển khai lực lượng quân sự, kiểm soát tuyến giao thông hàng hải, chi phối các nước xung quanh, tạo điều kiện lấn chiếm vùng lãnh hải rộng lớn ở phía Nam Về không quân, khu vực sân bay Kampong Chhang có thể kiểm soát không quân ở khu vực, tạo thành tiền phương phòng thủ từ xa của lực lượng không quân Trung Quốc Các căn cứ không quân của Campuchia có thể sử dụng để tiếp nhiên liệu cho các máy bay chiến đấu và yểm trợ không quân trên biển của Trung Quốc Về hải quân, cảng Sihanoukville của Campuchia sẽ cung cấp một cơ sở quân sự để triển khai sức mạnh hàng hải vào vịnh Thái Lan và eo biển Malacca, có thể triển khai căn cứ hậu cần bảo đảm xăng dầu cho ba hạm đội hiện tại để kiểm soát vùng biển Nam Trung Hoa, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Đây là địa thế chiến lược giúp bảo vệ lợi ích của Trung Quốc mà có thể triển khai lực lượng để chia rẽ khu vực ASEAN và giữa ASEAN với Mỹ28

Về kinh tế, Trung Quốc muốn tần dụng tiềm năng kinh tế của Campuchia

cho sự phát triển kinh tế, đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia Phía Trung

Quốc cho rằng, hợp tác kinh tế giữa Campuchia và Trung Quốc là “mô hình

hợp tác kiểu mẫu” đối với các nước đang phát triển bởi “Campuchia có nguồn tài nguyên đất và nước thuận lợi, trong khi Trung Quốc có thị trường, nguồn

28

Nguồn đã dẫn, 19

Trang 36

lực tài chính và kỹ thuật để đầu tư vào lĩnh vực này”29

Lợi thế của Campuchia là vị trí địa kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển của Trung Quốc Campuchia nằm bên vịnh Thái Lan, ở phía Bắc của eo biển Malacca và nằm bên cạnh các nền kinh tế năng động Việt Nam và Thái Lan, đứng ở vị trí trung tâm có tiềm năng phát triển kinh tế và là thành viên của nhiều diễn đàn, hợp tác kinh tế đa phương ở khu vực Ở phía Bắc, Trung Quốc với sức mạnh kinh tế của nước này cũng bổ sung vào sức hấp dẫn của Campuchia như một điểm trung chuyển tiềm năng trong mạng lưới kho vận Đông Á Campuchia cũng rất hữu ích đối với Trung Quốc như một thành tố của kinh tế khu vực Tiểu vùng sông Mekong (gồm tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Việt Nam và Campuchia) Trung Quốc hy vọng rằng khu vực kinh tế này sẽ hội nhập sâu hơn khi mạng lưới đường cao tốc và đường thủy trên sông Mekong được hình thành30

Campuchia là đất nước có nguồn nhân lực giá rẻ rất dồi dào và là thị trường tiêu dùng có triển vọng Theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Campuchia là nước có dân số trẻ nhất khu vực Tiểu vùng sông Mekong với hơn 50% dưới độ tuổi 22 Dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) chiếm khoảng 62% trong năm 2008, nhưng chỉ có khoảng 58% dân số

có việc làm Với cơ cấu dân số trẻ, trong độ tuổi tiêu dùng và đang tăng trưởng, Campuchia được kỳ vọng là một thị trường tiềm năng trong tương lai không xa31

Khi lao động của Trung Quốc trở nên đắt đỏ hơn thì lực lượng lao động giá rẻ ở Campuchia là một lựa chọn tốt cho các công ty của Trung Quốc Trung Quốc có thể dễ dàng tiếp cận thị trường sản xuất và tiêu thụ hàng may mặc của Campuchia - trước đây đã rất hạn chế nhập khẩu trực tiếp mặt hàng

29 Tân Hoa Xã, Chinese vice commerce minister praises China-Cambodia cooperation,

http://news.xinhuanet.com/english2010/china/2011-02/21/c_13742521.htm, truy cập ngày 13/5/2014

30 Thông tấn xã Việt Nam, Campuchia hưởng lợi từ sự cạnh tranh ảnh hưởng khu vực giữa Mỹ và Trung

Quốc, TLTKĐB số 174, ngày 30/6/2012

31 Vietstock, Campuchia: Tiềm năng thị trường và tài nguyên thiên nhiên, http://vietstock.vn/2012/06/

campuchia-tiem-nang-thi-truong-va-tai-nguyen-thien-nhien-1326-173882.htm, truy cập ngày 13/2/2014

Trang 37

có quặng sắt, trữ lượng khoảng 2,5-4,8 triệu tấn Campuchia cũng có một số khoáng sản quý khác như bạc, hồng ngọc… Ngoài ra, Campuchia phát hiện một số mỏ vàng, như mỏ vàng với trữ lượng khoảng 8,1 triệu tấn quặng ở tỉnh Mondulkiri Tài nguyên nước cũng đáng kể, bao gồm tiềm năng thủy điện từ việc thay đổi dòng chảy của sông Mekong Campuchia được kỳ vọng có tiềm năng về dầu mỏ Tuy trữ lượng dầu hiện nay chưa được ước tính chính xác nhưng một số tập đoàn lớn như Chevron (Mỹ), GS Caltex của Hàn Quốc đã tham gia khoan thăm dò dầu khí tại Campuchia Hiện nay đã có 22 giếng được khoan thăm dò tại thềm lục địa Campuchia (vịnh Thái Lan) Trữ lượng ước tính của lô A là khoảng 500 triệu thùng, nhưng hiện nay chỉ có khả năng khai thác khoảng 15-20% do địa tầng phức tạp32

Về điều kiện văn hóa - xã hội, Campuchia có số lượng người Hoa đông

đảo, có nét văn hóa tương đồng, chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, là mục tiêu quan trọng trong chiến lược di dân, bành trướng văn hóa của Trung Quốc Trong những năm 1970 là khoảng 250.000 người, tăng lên 500-600.000 người năm 1998 và đến năm 2008, ước tính khoảng 800.000 người33

Trang 38

Cùng với sự ủng hộ từ phía Trung Quốc và sự cho phép của chính quyền Campuchia, cộng đồng người Hoa ở Campuchia đang gia tăng mạnh mẽ vị trí

xã hội của họ và đang trở thành cầu nối quan trọng trong việc thắt chặt quan

hệ giữa Trung Quốc với Campuchia, cũng như gia tăng yếu tố văn hóa Trung Hoa tại Campuchia

Tiểu kết

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn, trong đó nổi lên là cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc Điều này dẫn đến nhiều quốc gia

đã điều chỉnh chính sách đối ngoại, tăng cường liên kết nhằm tìm kiếm những đối tác có lợi trong quan hệ quốc tế Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, chú trọng phát triển quân sự, đẩy mạnh chính sách ngoại giao để khẳng định

vị thế siêu cường trên thế giới; đẩy mạnh gia tăng ảnh hưởng đối với các nước

trong khu vực, chú trọng đến chiến lược “Hướng Nam” nhằm thoát khỏi vành

đai bao vây của Mỹ, đồng thời đẩy mạnh chiến lược biển, cứng rắn trong tranh chấp lãnh thổ biển đảo vì mục tiêu độc chiếm Biển Đông, mở rộng lãnh hải và chiếm tài nguyên thiên nhiên Một trong những mục tiêu quan trọng trong quan hệ quốc tế mà Trung Quốc hướng đến trong đầu thế kỷ XXI chính

là Campuchia Campuchia là quốc gia hội tụ những điều kiện quan trọng trong chiến lược hướng Nam, chiến lược chuỗi ngọc trai34 của Trung Quốc cả

về địa chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội Ngay từ trước thế kỷ XXI, Trung Quốc đã có ảnh hưởng ở Campuchia và sử dụng nhiều con bài chính trị nhằm hướng lái Campuchia theo ý đồ của Trung Quốc, phục vụ lợi ích của

34 “Chuỗi Ngọc Trai” dùng để chỉ các tuyến giao thông hàng hải Trung Quốc kéo dài đến Port Sudan Đường

biển chạy qua eo biển chiến lược điểm nút thắt của eo biển Mandab, eo biển Malacca, eo biển Hormuz và eo biển Lombok cũng như các lợi ích hải quân chiến lược quan tâm khác như Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh,

Maldives và Somalia “Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai" mô tả các biểu hiện ảnh hưởng địa chính trị đang gia

tăng của Trung Quốc tăng thông qua các nỗ lực để tăng sự tiếp cận vào các cảng và sân bay, phát triển các mối quan hệ đặc biệt ngoại giao và hiện đại hoá lực lượng quân sự mà mở rộng từ biển Nam Trung Hoa thông qua eo biển Malacca, qua Ấn Độ đại dương và đến vịnh Ba Tư

Trang 39

và từng bước nâng cao vị thế trong khu vực Chính vì vậy, bối cảnh thế giới khu vực, tình hình của Campuchia và Trung Quốc, chủ trương chính sách của Campuchia và Trung Quốc cũng như quan hệ truyền thống của hai nước trong thế kỷ XX là những nhân tố quan trọng thúc đẩy quan hệ hợp tác Campuchia - Trung Quốc trong những năm đầu của thế kỷ XXI

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 2.1 Quan hệ chính trị ngoại giao

Campuchia và Trung Quốc thúc đẩy quan hệ hợp tác ở các cấp, nổi bật là quan hệ ở cấp Nhà nước, Chính phủ, các tổ chức, đảng phái chính trị hai bên

và cấp địa phương

2.1.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai nước được phát triển lên tầm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện

Từ năm 2000 đến năm 2014, Campuchia và Trung Quốc trao đổi khoảng

60 chuyến thăm, cuộc gặp giữa lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ Trung Quốc với Hoàng tộc, Chính phủ Hoàng gia Campuchia và các cuộc gặp cấp Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Trong các chuyến viếng thăm, hai bên đều khẳng định, tình hữu nghị truyền thống lâu đời đã đặt nền tảng vững chắc cho việc xây dựng mối quan hệ giữa hai nước và cam kết thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới

Quan hệ Campuchia và Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI được khởi đầu bằng chuyến thăm Campuchia của Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân từ ngày 15-17/11/2000 Trong chuyến thăm lần này, hai bên ký Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác song phương, trong đó khẳng định

“Vào đầu thế kỷ mới, hai bên quyết tâm thúc đẩy quan hệ song phương chặt

chẽ hơn và mở ra cơ hội lớn hơn cho phát triển kinh tế - xã hội của hai nước; nhất trí duy trì trao đổi thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao của hai nước, tăng cường hơn nữa giao lưu hữu nghị và hợp tác giữa Chính phủ, Quốc hội, đảng phái chính trị, lực lượng vũ trang và các tổ chức phi chính phủ của hai nước nhằm tăng cường tin cậy lẫn nhau; thúc đẩy tình hữu nghị một cách toàn diện, ổn định trong phát triển chiều sâu của quan

Ngày đăng: 30/01/2016, 06:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Both Sreng (2011), Luận văn thạc sỹ “Quan hệ Campuchia - Trung Quốc từ 1993 đến nay”, Học viện ngoại giao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ “Quan hệ Campuchia - Trung Quốc từ "1993 đến nay”
Tác giả: Both Sreng
Năm: 2011
2. Dương Văn Huy (2013), Sự thay đổi của vị thế người Hoa ở Campuchia từ sau năm 1991, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thay đổi của vị thế người Hoa ở Campuchia từ "sau năm 1991
Tác giả: Dương Văn Huy
Năm: 2013
3. Harish C.Mehta, Julie B.Mehta (2008), Hun Sen nhân vật xuất chúng của Campuchia, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hun Sen nhân vật xuất chúng của "Campuchia
Tác giả: Harish C.Mehta, Julie B.Mehta
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
4. Hoàng Anh Tuấn (2012), Tình hình thế giới năm 2012 và triển vọng năm 2013, Viện nghiên cứu chiến lược ngoại giao/Học viện Ngoại giao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thế giới năm 2012 và triển vọng năm "2013
Tác giả: Hoàng Anh Tuấn
Năm: 2012
5. Lê Khương Thùy (2012), Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI, Viện nghiên cứu châu Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ "XXI
Tác giả: Lê Khương Thùy
Năm: 2012
6. Nguyễn Anh Thái (2010), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Tác giả: Nguyễn Anh Thái
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
7. Nguyễn Đình Bin (2005), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2010, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2010
Tác giả: Nguyễn Đình Bin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
8. Nguyễn Huy Quý (2008), Quan hệ đối ngoại của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách và mở cửa (1978 - 2008) thành tựu và kinh nghiệm, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đối ngoại của Cộng hòa nhân dân Trung "Hoa 30 năm cải cách và mở cửa (1978 - 2008) thành tựu và kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Huy Quý
Năm: 2008
11. Nguyễn Thành Văn (2013), Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia trong những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Khoa học và chiến lược/Viện chiến lược và Khoa học, Số 4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở "Campuchia trong những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Thành Văn
Năm: 2013
12. Norodom Sihanouk (2005), Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù Khmer Đỏ, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù Khmer "Đỏ
Tác giả: Norodom Sihanouk
Nhà XB: NXB Công An Nhân Dân
Năm: 2005
13. NXB Sự thật (1985), Tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Campuchia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với "Campuchia
Tác giả: NXB Sự thật
Nhà XB: NXB Sự thật (1985)
Năm: 1985
14. Trần Văn Đào (2011), Lịch sử quan hệ quốc tế, Học viện Quan hệ quốc tế 1970-1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ quốc tế
Tác giả: Trần Văn Đào
Năm: 2011
15. TTXVN (2009), Cambodia và những cuộc xâm nhập bí ẩn của Trung Quốc, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cambodia và những cuộc xâm nhập bí ẩn của Trung Quốc
Tác giả: TTXVN
Năm: 2009
16. TTXVN (2011), Biển Đông sẽ là nơi đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc, TLTKĐB, số 290, ngày 25/3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông sẽ là nơi đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc
Tác giả: TTXVN
Năm: 2011
17. TTXVN (2011), Nguồn gốc sự lạnh nhạt của Campuchia với Ngân hàng thế giới, Tài liệu tham khảo đặc biệt, sổ 235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc sự lạnh nhạt của Campuchia với Ngân hàng thế "giới
Tác giả: TTXVN
Năm: 2011
18. TTXVN (2012), Campuchia hưởng lợi từ sự cạnh tranh ảnh hưởng khu vực giữa Mỹ và Trung Quốc, TLTKĐB, số 174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campuchia hưởng lợi từ sự cạnh tranh ảnh hưởng khu vực "giữa Mỹ và Trung Quốc
Tác giả: TTXVN
Năm: 2012
19. TTXVN (2012), Campuchia quay tròn trong quỹ đạo của Trung Quốc, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Campuchia quay tròn trong quỹ đạo của Trung Quốc
Tác giả: TTXVN
Năm: 2012
20. TTXVN (2012), Trung Quốc không thể dùng Campuchia để thao túng ẢSEAN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc không thể dùng Campuchia để thao túng "ẢSEAN
Tác giả: TTXVN
Năm: 2012
21. TTXVN (2012), Trung Quốc muốn gì khi đầu tư vào Campuchia, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc muốn gì khi đầu tư vào Campuchia
Tác giả: TTXVN
Năm: 2012
22. TTXVN (2013), Quan hệ Campuchia - Trung Quốc: Thành công và trở ngại trong tương lai, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Campuchia - Trung Quốc: Thành công và trở ngại "trong tương lai
Tác giả: TTXVN
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê mậu dịch Campuchia - Trung Quốc 2000 - 2008 - Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng ở Thái Nguyên hiện nay
Bảng 2.1 Thống kê mậu dịch Campuchia - Trung Quốc 2000 - 2008 (Trang 60)
Bảng 2.2. Viện trợ trực tiếp của Trung Quốc vào Campuchia từ năm 1994 - 2008 - Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng ở Thái Nguyên hiện nay
Bảng 2.2. Viện trợ trực tiếp của Trung Quốc vào Campuchia từ năm 1994 - 2008 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w