Điều đó cànglàm tăng thêm các tranh chấp và đã bị một số đối tượng lợi dụng những quyđịnh còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay nặng lãi, để tổ chức đánh bạc…Bài tập lớn học kỳ này
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Một số vấn đề lý luận về lãi suất trong hợp đồng vay tiền 2
1 Khái niệm hợp đồng vay tiền 2
2 Lãi suất trong hợp đồng vay tiền………
…….3
3 Đặc điểm của lãi suất 4
II Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền 5
III Thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng vay tiền 6
IV Nhận xét và kiến nghị của cá nhân về quy định của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng vay tiền 14
1- Về “mức lãi suất tương ứng” trong hợp đồng vay tiền 15
2- Về lãi suất cho vay trong hạn 16
3- Về lãi suất cho vay quá hạn 17
C Kết Luận 20
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
XXPT : Xét xử phúc thẩm
XXST : Xét xử sơ thẩm
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước taluôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà pháttriển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới Nhữnggiải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được những kết quả khảquan, trong đó có những biện pháp quy định về lãi suất
Vay tiền là một hình thức rất phổ biến, trong hợp đồng vay thường có mộtđiều khoản gọi là lãi suất Với những tác động tích cực của nó, lãi suất là mộtyếu tố quan trọng và đôi khi không thể thiếu trong đời sống Việc sử dụng lãisuất trong hợp đồng vay tiền cũng vậy Lãi suất không chỉ đem lại lợi nhuận vàthoả mãn nhu cầu về vật chất của người cho vay, lãi suất còn đem lại sự đầu tưhay sử dụng có mục đích của người đi vay
Trên thực tế các tranh chấp về hợp đồng vay tiền ngày càng gia tăng đặcbiệt là các tranh chấp liên quan đến lãi và lãi suất Tuy nhiên những quy địnhcủa pháp luật về vấn đề này còn rất chung chung và chưa rõ ràng Điều đó cànglàm tăng thêm các tranh chấp và đã bị một số đối tượng lợi dụng những quyđịnh còn thiếu chặt chẽ của pháp luật để cho vay nặng lãi, để tổ chức đánh
bạc…Bài tập lớn học kỳ này en xin trình bày đề tài : “ Một số vấn đề về lãi suất trong hợp đồng vay tiền” với kiến thức còn nhiều hạn chế và sự eo hẹp về tài
liệu, thời gian nên đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định
Em xin chân thành đón nhận ở thầy cô và các bạn những ý kiến đóng góp bổ ích
để đề tài được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận về lãi suất trong hợp đồng vay tiền
1 Khái niệm hợp đồng vay tiền
Hợp đồng vay tiền là một hợp đồng vay có đối tượng là một tài sản đặc biệt– tiền Cho vay nói chung và cho vay tiền nói riêng bao gồm các yếu tố cấuthành cơ bản sau:
· Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có ít nhất hai bên chủ thể
tham gia, bao gồm bên vay và bên cho vay Bên cho vay là người có khoản tiềnchưa dùng đến, còn bên vay chính là người đang cần sử dụng số tiền đó để thoảmãn nhu cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng
· Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay chính là hợp đồng cho vay
tiền Hợp đồng này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc căn bảncủa hợp đồng như nguyên tắc về tự do và thống nhất ý chí, nguyên tắc tự địnhđoạt…
· Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng
trước và hành vi hoàn trả một số tiền nhất định
Có thể thấy rằng, phổ biến là hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụngnhưng không phải vì thế các hình thức cho vay khác không hoạt động Có thể làcho vay giữa hai chủ thể, hai tổ chức với nhau… hoặc dưới hình thức họ, hụi,biêu, phường Việc cho vay chính là giao dịch dân sự được thể hiện dưới hìnhthức pháp lý là hợp đồng vay tiền Vậy hợp đồng vay tiền là gì?
Điều 388 – Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) định nghĩa: “Hợp đồng dân
sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Là một loại hợp đồng dân sự, hợp đồng vay tài sản được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn
Trang 4trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định”
2 Lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêmmột phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu Tỉ lệ phần trăm của phần tăngthêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất
Lãi xuất giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hợp đồng vay tiền Nócũng là cái mà các bên thường quan tâm khi tham gia vào quan hệ vay tài sản
Để hiểu rõ về lãi xuất, trước tiên chúng ta phải đi làm rõ một khái niệm có liênquan mật thiết đến nó trong hợp đồng vay tiền đó là lãi
Lãi là một khoản tiền hoặc vật, ngoài vốn gốc, mà người cho vay nhận được
từ người đi vay khi có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc sử dụngvốn vay của người này Điều đó cho thấy, căn cứ vào lãi xuất, số tiền vay vàthời hạn vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định cho bên cho vay, tiền lãinhiều khi lãi suất cao, số tiền vay lớn và ngược lại
Về lãi suất có nhiều cách định nghĩa về lãi và lãi suất Có định nghĩa cho
rằng: lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian
nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn.
Trang 5Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa là tỷ lệ
của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhấtđịnh
Từ những cơ sở trên, ta có định nghĩa về lãi suất như sau: lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc
năm do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định Căn cứ vào lãi suất sốtiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định Số tiền này
tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay
Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồng vaytiền sẽ không có lãi suất Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thì không đượcvượt quá “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bốđối với loại cho vay tương ứng”
3 Đặc điểm của lãi suất
Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinhthần của cả bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản:
Lãi suất chủ yếu vẫn được tồn tại trong các hợp đồng vay bởi lẽ trong hợp đồngvay bên vay chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời hạn nhất định do đó phải cómột tỉ lệ xác định để tính lãi tương ứng với thời hạn vay Trong hợp đồng vaythì cơ sở để tính lãi chủ yếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do phápluật quy định
Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh
do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của
lãi suất là một tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào sốtiền vay gốc trong một thời hạn nhất định
Trang 6Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian
vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay.
Do đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà cácbên có thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp
II Quy định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay
tiền
Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọiquan hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoàivòng kiểm soát của pháp luật Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vàotình trạng này Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhất một điều về lãi suấtmột cách trực tiếp:
“Điều 476 Lãi suất
1 Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.
Ngoài ra còn có một trường hợp đặc biệt của lãi xuất đó là lãi suất nợ quáhạn, nó được áp dụng trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vaykhông trả hoặc trả nợ không đầy đủ cho bên cho vay
Theo quy định tại Điều 474 BLDS năm 2005 thì: “ Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả lại thời điểm trả nợ,
Trang 7nếu có thỏa thuận” khoản 4; Còn “ Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ” ( khoản 5) Như vậy, trong hợp
đồng vay khi đến hạn mà bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho
bên vay thì bên vay phải trả “ lãi đối với khoản nợ chậm trả” ( nếu là vay không có lãi) hoặc “ lãi trên nợ gốc và lãi quá hạn” ( nếu là vay có lãi) Lãi nợ
quá hạn chỉ có thể phát sinh trong trường hợp vay có lãi Và mức nợ lãi quá hạnkhi đó sẽ bằng mức lãi xuất cơ bản do NHNN công bố tại thời điểm trả nợ.Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 là quákhái quát sẽ tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làm biến thái đi
và lợi dụng nó để kinh doanh, tổ chức thực hiện một số hình thức không lànhmạnh
III Thực tiễn áp dụng lãi suất trong hợp đồng vay tiền
Hợp đồng vay tiền là quan hệ tương đối phổ biến trong cuộc sống hàngngày Nó có tác động giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn khi thiếuthốn để sản xuất và lưu thông hàng hoá, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của conngười, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp Hợp đồng vay tiền trong nhândân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khókhăn tạm thời trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh
Các hợp đồng dân sự luôn mang trong nó tính chất “ thoả thuận giữa cácbên ” tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người cho vay trong hợp
đồng vay tiền có lãi suất bằng cách “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công
bố đối với loại cho vay tương ứng” Nhưng “ quy định vẫn chỉ là quy định ”,
không có chế tài áp dụng thì việc đưa ra các quy định này cũng không mang lại
Trang 8kết quả như ý muốn Nếu có chế tài áp dụng đối với việc quy định lãi suất cũngchỉ là chế tài hành chính, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại một khoản tiền
mà bên vay chứng minh được việc vay với lãi suất vượt qua mức quy định củapháp luật của bên cho vay gây thiệt hại cho mình Hơn nữa, nhu cầu đi vay củangười vay thường trong những trường hợp cấp bách và cần thiết, việc tuyên bốhợp đồng vô hiệu của Toà án đôi khi làm ảnh hưởng đến công việc của người đivay Cần phải có những quy định và chế tài cụ thể để hạn chế tình hình trên.Việc quy định lãi suất quá cao sẽ không chỉ gây ảnh hưởng cho nền kinh tế
mà còn ảnh hưởng đến chính bên cho vay Khi lãi suất của bên cho vay cao sẽkhiến các doanh nghiệp, các cá nhân… (bên vay) không vay dẫn đến tình trạngtiền bị đọng lại và không phát huy được giá trị sinh lời của nó Doanh nghiệpvay tiền là để đầu tư nhưng với mức lãi suất cao sẽ dự tính việc đầu tư không cólãi nên các doanh nghiệp không vay là đương nhiên Còn cá nhân, họ cần tiềncũng có thể để đầu tư, cũng có thể vay để chi trả cho một công việc nào đó hay
để đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày… lãi suất cao khiến những người nàykhông có khả năng trả cả gốc lẫn lãi nên họ “không dám” vay Và như vậynguồn tiền trong các Ngân hàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không nhữngkhông đem lại hiệu quả mà còn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các cánhân… muốn vay
Việc quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế cũng không ổn Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng cho các đốitượng ưu tiên mà pháp luật quy định còn mặt bằng chung phải phù hợp với mọinhân tố ảnh hưởng đến lãi suất (lạm phát hay giảm phát, kinh tế phát triển haychậm phát triển…) Lãi suất thấp sẽ làm giảm hiệu quả của đồng tiền, làm giảm
sự phát triển kinh tế, làm giảm nguồn thu của bên cho vay Nhìn một cách kháchquan, lãi suất thấp chỉ có lợi trước mắt cho bên vay Nhưng cái lợi trước mắtkhông phải là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới
Trang 9Như vậy, việc quy định lãi suất quá cao hay quá thấp đều không mang lạihiệu quả Nhà nước tính toán làm sao để pháp luật có những quy định hợp lýkhông làm giảm hiệu quả của giá trị đồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởngđến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bềnvững và lâu dài cho nền kinh tế.
Hơn nữa có thể thấy sự bất cập và thiếu chặt chẽ còn thể hiện ở chỗ: lãi suấtđược quy định trong BLDS 2005 phải ≤ (nhỏ hơn hoặc bằng) 150% lãi suất cơbản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng Trongtrường hợp A cho B vay với lãi suất là 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhànước công bố trong thời gian 1 năm nhưng hết 1 năm B vẫn chưa trả cho A, lúcnày phát sinh lãi suất quá hạn và lãi suất này được tính như thế nào? Nếu A và
B có thoả thuận về mức lãi suất quá hạn nhưng mức lãi suất này lại vượt quá150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (vì lãi suất đúnghạn mà A và B thoả thuận đã bằng 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhànước) thì lúc này hậu quả sẽ ra sao? Việc áp dụng Điều 476 BLDS 2005 có thực
sự hiệu quả? Nếu trường hợp A và B không thoả thuận về lãi suất quá hạn thìviệc tính lãi suất này sẽ theo quy định của pháp luật, tức là vẫn ≤ (nhỏ hơn hoặcbằng) 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố, như vậy việc phânloại lãi suất đúng hạn và lãi suất quá hạn không còn ý nghĩa bởi vì cách tính lãisuất đúng hạn và lãi suất quá hạn là như nhau
Thứ hai: Thực tế cho thấy việc giải việc giải quyết những tranh chấp về lãisuất trong thời gian qua gặp không ít khó khăn Một phần nguyên nhân là do cácquy định về lãi suất trong các hợp đồng vày còn chưa rõ ràng và ổn định, Điểnhình như việc ngân hàng liên tục có những thay đổi về chính sách lãi suất Đểhiểu rõ thực tiến giải quyết các tranh chấp có liên quan đến lãi suất trong hợpđồng vay tiền, trước hết ta cần đưa ra các quy định của hiện hành điều chỉnh
Trang 10việc tính lãi suất khi có tranh chấp xảy ra ( các tranh chấp ở đây được hiểu làtranh chấp hợp đồng vay ở ngoài tổ chức ngân hàng, tín dụng.)
Theo hướng dẫn tại Thông Tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 thìviệc tính lãi suất được thực hiện như sau:
Đối với các hợp đồng vay ( kể cả có kỳ hạn và không có kỳ hạn) giao kếttrước ngày 01/07/1996 thì số tiền lãi chưa trả tính theo quy định của BLDS; sốtiền đã trả trước ngày 01/07/1996 không phải giải quyết lại; số tiền lãi đã trả từngày 01/07/1996 trở đi phải tính lại theo quy định của BLDS, nếu mức lãi suất
do các bên thỏa thuận cao hơn mức lãi suất được quy định trong BLDS
Đối với các hợp đồng vay ( kể cả có kỳ hạn và không có kỳ hạn) giao kết từngày 01/07/1996 trở đi thì việc tính lãi phải tuân theo các quy định của BLDS,
số tiền lãi đã trả cũng phải được giải quyết lại, nếu mức lãi suất mà các bên thỏathuận cao hơn mức lãi suất được quy định trong BLDS
Đến đây vấn đề đặt ra là sẽ áp dụng BLDS 1995 hay BLDS 2005 để giảiquyết tranh chấp? Vấn đề này được quy định rõ trong nghị quyết số45/2005/NQ-QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc Hội về việc thi hành BLDS
2005 Cụ thể: Nếu HĐVTS đang được thực hiện mà có nội dung và hình thứcphù hợp với quy định của BLDS 2005 thì áp dụng các quy định của BLDS
2005, còn nếu HĐVTS đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phùhợp khác với quy đinh của BLDS 2005 hoặc được thực hiện xong trước ngàyBLDS 2005 có hiệu lực (01/1/2006) mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quyđịnh của BLDS 1995 và các văn bản hướng dẫn áp dụng để giải quyết
Pháp luật quy định như vậy nhưng thực tiến giải quyết các tranh chấp hợpđồng vay tiền cho thấy các tòa án có cách hiểu khác nhau về cách tính lãi suất
Có tòa tính lãi từ khi vay hoặc từ khi đến hạn trả nợ cho đến khi XXST với lãisuất là lãi suất tại thời điểm cho vay, kể cả trong thời gian đó NHNN có sự tăng
Trang 11giảm lãi suất Nhưng có tòa lại áp dụng mức lãi suất do NHNN quy định quatừng thời kỳ…
quan điểm khác nhau về cách tính lãi suất.
Nội dung vụ án như sau:
Ngày 30/01/1996, Bà nguyễn Thị A cho ông Trần Văn B vay số tiền200.000.000đồng , lãi suất hai bên thỏa thuận là 5%/tháng, khi nào cần báotrước một tháng Bà A đã nhận đủ lãi và đúng theo thỏa thuận đến ngày30/5/2001 Sau đó ông B không trả lãi và vốn Bà A đã khởi kiện yêu cầu xemxét buộc ông B trả gốc và lãi chưa trả Thời điểm tòa án XXST là tháng 5/2004
Có 3 quan điểm khác nhau về việc tính lãi suất trong vụ án này:
Thứ nhất: Bà A nhận lãi của ông B mỗi tháng là 200.000.000 đồng x 5% =
10.000.000 đồng Từ tháng 02/1996 đến tháng 5/2001 tổng số tiền lãi đã nhận là10.000.000 đồng x 51 tháng = 510.000.000 đồng Lãi suất này được tính lại kể
từ ngày 01/07/1996 Như vậy Bà A chỉ được nhận lãi theo thỏa thuận đến ngày01/1996, tính được là 60.000.000 đồng ( 10.000.000đồng x 6 tháng) Sau ngày01/07/1996, lãi suất sẽ được tính đến thời điểm XXST với mức lãi tại thời điểmXXST ( 0,625%/tháng), tính được là 101.250.000 đồng ( 200.000.000 đồng x0,625 x 81 tháng) Như vậy đến lúc xét xử bà A chỉ được nhận tổng số tiền lãi là161.250.000 đồng và số vốn là 200.000.000 đồng Do bà A đã nhận510.000.000 đồng nên phải hoàn trả lại cho ông B số tiền chênh lệch:510.000.000 đồng – (161.250.000 đồng + 200.000.000 đồng) = 148.750.000đồng
Như vậy ngoài việc đòi được vốn, bà A chỉ nhận được lãi 161.250.000 đồng Tổng cộng cả gốc lẫn lãi là 361.250.000 đồng