1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Khái quát chung về công ty cổ phần, tổ chức quản lí công ty cổ phần

22 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 139,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 77 Luật DN 2005 quy định về CTCP, theo đó “CTCP là một loại hình đặc trưng của loại hình công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Công ty cổ phần là một mô hình doanh ngiệp điển hình trong nền kinh tế thịtrường Với khả năng huy động vốn lớn, nhanh chóng thuận tiện; khả năng chuyểnnhượng vốn linh hoạt; tạo điều kiện cho một khối lượng lớn nhà đầu tư thu lợinhuận từ hoạt động kinh doanh mà không cần phải có kiến thức kinh doanh, cũngkhông cần trực tiếp tham gia kinh doanh và thớc hợp với mô hình sản xuất kinhdoanh lớn đa nghành nghề, công ty cổ phần đang là loại công ty rất phát triển

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế to lớn đó, thỡ Công ty cổ phần cũng cũng

có những hạn chế nhất định Để khắc phục những hạn chế đó, và góp phần vào sựphát triển của công ty thì một vấn để rất quan trọng được pháp luật rất quan tâm đó

Trang 2

ghi nhận trong Luật công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp

2005 (Luật DN 2005).

Điều 77 Luật DN 2005 quy định về CTCP, theo đó “CTCP là một loại hình đặc trưng của loại hình công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà công ty

sở hữu”.

1.2 Đặc điểm:

Trong Luật DN 2005 đã đưa ra các đặc điểm của CTCP như là dấu hiệu để

phân biệt nhận biết loại hình CTCP với các loại hình Doanh nghiệp (DN) khác nhưCông ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) và Công ty hợp danh (CTHD) Chúng ta

có thể khái quát về CTCP với bốn đặc điểm cơ bản sau:

- Một là: CTCP là một pháp nhân, CTCP tồn tại độc lập với các chủ thể khácthể hiện cả về tư cách chủ thể cũng như về tài sản Tài sản của công ty được thành

từ nhiều nguồn khác nhau trong đó quan trọng nhất là vốn cổ phần và tách bạch rõrang với tài sản Cổ đông Cổ đông có quyền sở hữu một phần hình công ty tươngứng với giá trị cổ phần nắm giữ, nhưng không có quyền sở hữu tài sản công ty,việc thay đổi cơ cấu cổ đông ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty Công ty nhândanh chính mình khi tham gia các quan hệ pháp luật và phải chịu trách nhiệm trướccác nghĩa vụ phát sinh đến hết giá trị tài sản của công ty

- Hai là: CTCP có cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt, có khả năng xã hội hóacao – cấu túc vốn “mở”, vốn điều lệ của công ty được chia thành các cổ phần, các

cổ phần được tự do chuyển nhượng trong công ty cũng như ngoài công ty (trừtrường hợp điều lệ công ty hoặc pháp luật có quy định khác) Công ty có khả nănghuy động nguồn vốn lớn chặt chẽ, dễ dàng thông qua phát hành chứng khoán theoquy định của pháp luật

Trang 3

- Ba là: CTCP có tính chất đối vốn điểm hình Những vấn đề và quản lí nội

bộ và quyền lợi của cổ đông được giải quyết cơ bản dựa trên nguyên tắc đối vốn.Các cổ đông tham gia vào công ty không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉtrên cơ sở cổ phần Đặc điểm này cùng với khả năng dễ dàng chuyển nhượng cổphần làm cho CTCP thường có số lượng cổ đông lớn Pháp luật các nước chỉkhống chế số lượng tối thiểu mà không số lượng tối đa các cổ đông của đông ty

- Bốn là: Với cấu trúc vốn và tính chất thành viên riêng của mình, CTCPđòi hỏi một cơ cấu tổ chức chặt chẽ để bào vẹ quyền lợi của các cổ đông cũng nhưcác chủ thể có quan hệ với công ty Pháp luật hầu hết các nước đều quy định rừ cỏcquy chế quản lí, điều hành và kiểm sát

Trên đây là những đặc điểm cơ bản nhất của CTCP, ngoài ra Điều 77 Luật

DN 2005 còn chỉ ra những đặc điểm khác để nhận diện CTCP như: cổng đông có

thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiều là ba và không hạn chế số lượngtối đa

2, Khái niệm tổ chức, quản lí CTCP.

2.1 Khái niệm:

- Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), quản lí công ty là một

hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lí mà theo đú cỏc công ty được điều hànhtheo một ý chí thống nhất, quản lí công ty cho phép tạo ra một cơ chế mà các mụctiêu của công ty được xác lập, tạo ra các phương tiện để đạt được các mục đích đã

đề ra và giám sát việc thực hiện

- Theo ngân hàng thế giới (WB) quản lí công ty được coi là một hệ thống kếthợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các thông lệ quản lý của các công ty Nó chophép các công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lùc, hoạt độngmột cách hiệu quả, tạo ra các giá trị kinh tế lâu dai cho các thành viên trong khi

Trang 4

vẫn tôn trọng các quyền lợi của những người có quyền, lơi ích liên 2quan và của xãhội.

- Theo ngân hàng phát triển châu Á (ADB), quản lý công ty bao gồm một hệthống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản

lý, các chủ nợ, Chính phủ và những người có quyÒn, lợi ích liên quan khác và một

hệ thống các cơ chế để đảm bảo cho các quy chế nói trên được thực hiện một cáchtrực tiếphay gián tiếp

Như vậy, quản lý công ty là hệ thống các cơ chế mà theo đó công ty đượcquản lý, thông qua việc tổ chức điều hành nội bộ công tyvà các quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể quản lý như các cổ đông, hội đồng quản trị (HĐQT), Giám đốc,người lao động và những người có lợi ích lien quan được phân công rõ ràng

Từ việc phõn tích khái niệm quản lý công ty ở trên, ta có thể suy ra kết luận:Quản lý CTCP là hệ thống các cơ chế mà các chủ thể quản lí đặt ra để quản lí hoạtđộng của CTCP bao gồm các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củatừng bộ phận trong bộ máy quản lí, nguyên tắc và thư tục thông qua các quyếtđịnh Pháp luật về quản lý CTCP bao gồm các nội dung cơ bản về cơ cấu bộ máyquản lí CTCP; chức năng nhiệm vụ quyền hạn và thể thức hoạt động của các cơquan trông bộ máy quản lí (Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị(HĐQT), Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban kiểm soát (BKS)), Quyền hạn vàtrách nhiệm của người quản lí công ty, kiểm soát các giao dịch tư lợi

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng dến quản lí CTCP.

- Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đối với việc quản lí CTCP

CTCP đặc trưng của loại hình công ty đối vốn – loại hình công ty mà các cổcụng đụng không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốngóp, thỡ cỏc quy định về vốn là chế định tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng.Vốn của CTCP là vấn đề phức tạp, không chỉ liên quan đến bản chất kinh tế, khả

Trang 5

năng tài chính, mà còn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của CTCPtrên thị trường liờn quan đến hàng loạt các vấn đề như quyền sở hữu, chuyềnnhượng, thế chấp một cấu trúc vốn mền dẻo, linh hoạt không những đáp ứng đượcnhu cầu của công ty mà còn đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư khi mua cổphần, cổ phiếu của CTCP Dưới góc độ pháp lí cấu trúc vốn của CTCP bao gồmhai bộ phận vốn điều lệ và vốn vay

Trong cơ cấu tổ chức quản lí trong công ty có sự phân chia quyền lực rõràng giữa các bộ phận, sự phân chia quyền lực này phụ thuộc vào tỉ lệ vốn góp củacác cổ đông nhằm đảm bảo một cơ cấu tổ chức quả lí chặt chẽ, bảo vệ đến mức tối

đa quyền lợi của cổ đông Điểm khác biệt về cơ cấu tổ chức quản lí, đồng thời làđặc trưng của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác đó là cơ cấu

tổ chức quản lí của CTCP chịu sự chi phối của cấu trúc vốn Cấu trúc vốn khôngnhững đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh mà cũn cú vai trò quantrọng trong việc chi phối cơ cấu tổ chức quản lí của CTCP Trong CTCP việc hìnhthành bộ máy tổ chức quản lí và việc phân chia quyền lực giữa các bộ phận cấuthành đó, cấu trúc vốn có ảnh hưởng quyết định và chi phối

Sự chi phối của cấu trúc vốn với tổ chức bộ máy của CTCP thể hiện rõ nétnhất tại ĐHĐCĐ Điều này được thể hiện qua các quy định về quyền lợi nghĩa vụcủa ĐHĐCĐ Cơ chế quyết định các vấn đề của ĐHĐCĐ cũng bị chi phối bởi cấutrúc vốn hay nói cách khác bởi yếu tố vốn: Cổ đông nào tham gia biểu quyết, tỉ lệ

cổ phần của cổ đông tham gia biểu quyết chiếm bao nhiêu trong vốn điều lệ CTCPvới đặc trưng của nó bị chi phối bởi cấu trúc vốn, vì vậy HĐQT cũng sẽ bị chi phốibởi cấu trúc vốn Sự chi phối của cấu trúc vốn đối với HĐQT được thể hiện rõngay từ việc hình thành HĐQT Ngoài ra sự chi phối đú cũn thể hiện ở cơ chế thựcthi quyền lực của HĐQT Sự chi phối của yếu tố này đối với tổ chức bộ máy củaCTCP còn thể hiện ở việc hình thành cũng như cơ chế hoạt động của BKS Không

Trang 6

phải CTCP nào trong cơ cấu tổ chức bộ máy cũng buộc phải có BKS (xem Điều 95

Luật DN 2005) Cũng giống như HĐQT, quyền đề cử và bầu thành viên BKS của

các cổ đông tại ĐHĐCĐ phụ thuộc vào loại cổ phiếu cũng như tỉ lệ vốn góp của họtrong công ty

- Ảnh hưởng của cơ cấu thành viên đối với việc quản lí CTCP

Khác với các loại hình DN khác, điểm nổi bật và thể hiện rõ nhất nét đặctrưng của CTCP là có sự tham gia của cụ đụng vào việc hình thành cơ cấu tổ chứcquản lí CTCP có số lượng thành viên rất đông, công ty có thể có tới hàng vạn cổđông ở hầu khắp trên thế giới Điều này xuất phát từ đặc trưng của CTCP là có cấutrúc vốn linh hoạt, vốn được chuyển nhượng dễ dàng Với số lượng thành viên lớn,việc quản lí điều hành công ty do bộ máy quản lí thực hiện đặt dưới sụ giám sátcủa cổ đông, thành viên HĐQT do ĐHĐCĐ bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm khi thựchiện chức năng nhiệm vụ của mình HĐQT tuân thủ đỳng cỏc quy định của phápluật, điều lệ công ty và quyết định của ĐHĐCĐ Chính đặc trưng này đã khiến choviệc thành lập và điều hành CTCP phức tạp hơn nhiều so với các loại hình công tykhác như công ty TNHH, CTHD…Trong CTCP vấn đề nhân thân không được đềcao, chính vì vậy CTCP không đòi hỏi mọi thành viên HĐQT phải là cổ đông công

ty CTCP có thể thuê người làm giám đốc hoặc tổng giám đốc Cũng như vậy,trong CTCP thành viên BKS không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao độngcủa công ty

Sự chi phối của cơ cấu thành viên tới tổ chức bộ máy quản lí CTCP còn thểhiện ở chỗ số lượng cổ đông chi phối tới tổ chức quản lí nội bộ CTCP Cơ cấu tổchức quản lí nội bộ CTCP tùy thuộc vào số lượng cổ đông Đối với CTCP cú trờn

11 cổ đông là cá nhân buộc phải thành lập BKS (Điều 95 Luật DN 2005) Đối với

CTCP có từ 11 thành viên trở xuống thỡ khụng nhất thiết phải thành lập BKS

2.3 Các yêu cầu đối với việc tổ chức quản lí CTCP:

Trang 7

Việc tổ chức bộ máy quản lí cho DN nói chung và cho CTCP nói riêng phảiđáp ứng được các yêu cầu sau:

- Thứ nhất: Bộ máy quản lí CTCP phải gọn nhẹ, linh hoạt để giảm chi phí.Chúng ta thấy rằng một bộ máy quản lớ cú gọn nhẹ, linh hoạt thì mới có thể thựchiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình đồng thời còn giảm được chi phí quản lí.Quản lí nội bộ trong công ty giải quyết vấn đề này bằng việc quy định rõ ràngquyền lợi và nghĩa vụ của bộ máy quản lí trong công ty, bằng việc tăng cường hoạtđộng kiểm tra quản lí và bằng những yếu tố động viên để gắn lợi ích của người

quản lí với lợi ích của cổ đông và của công ty Điều này đã được Luật DN 2005

giải quyết khá thành công

- Thứ hai: Việc tổ chức quản lí CTCP phải bảo đảm sự phân công rành mạchchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ phận trong bộ máy quản lí và cònphải có cơ chế phối hợp, kiểm soát, giám sát hữu hiệu giữa các bộ phận đó Theo

quy định của Luật DN 2005,nhiệm vụ, quyền hạn, thể thức hoạt động của

ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc (tổng giám đốc), BKS được qua định khá rõ ràng, cụthể Các cơ quan này có sự độc lập tương đối trong hoạt động va có sự chi phối lẫnnhau

- Thứ ba: Tổ chức quản lí CTCP đảm bảo khả năng tham gia quản lí của các

cổ đông nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của các cổ đông Trước hếtnguyên tắc này được thể hiện ở việc quy định, ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của

cổ đông trong Luật DN 2005 (Điều 79, 80, 81, 82, 83, 84) Ngoài ra, cùng với việc quy định về quyền của các cổ đông, Luật DN 2005 còn quy định các biện pháp

nhằm khắc phục tình trạng các cổ đông đa số là thành viên trong HĐQT, Giám đốc(tổng giám đốc) và các cán bộ quản lớ khỏc lạm dụng vị thế quyền hạn của mình

để thu vén cho cá nhân, gia đình, làm phương hại đến lợi ích của công ty nói chung

và của các cổ đông thiểu số nói riêng

Trang 8

- Thứ tư: Tổ chức quản lí CTCP phải đảm bảo sự tách bạch giữa quyền sởhữu của cổ đông và quyền quản lí, điều hành công ty CTCP là một pháp nhân vàvới tư cách của nó, CTCP có cơ cấu tổ chức độc lập, thống nhất, có bộ máy quản lítrung gian Mọi hoạt động cua CTCP được tiến hành bởi bộ máy quản lí trung gian

đó Quyền quản lí công ty được giao cho HĐQT Luật DN 2005 quy định nghĩa vụ của người quản lí công ty (Điều 119) nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông –

chủ sở hữu công ty

- Thứ năm: Tổ chức quản lí CTCP đảm bảo thực hiện chế độ một thủ trưởngvới vai trò trung tâm của giám đốc điều hành CTCP là một chủ thể kinh doanh,mục tiêu thành lập cảu nó là tiến hành các hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợinhuận Để đạt được hiệu quả cần nắm bắt cơ hội kinh doanh Nên áp dụng chế độ

một thủ trưởng Luật DN 2005 đã giải quyết vấn đề này bằng việc quy định Giám

đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty Quyềnhạn và nhiệm vụ của Giám đốc (tổng giám đốc) được quy định rõ ràng cụ thể tại

Điều 116 Luật DN 2005.

II.Tổ chức và quản lí CTCP theo pháp luật hiện hành.

1 Cơ cấu bộ máy quản lý CTCP.

CTCP là một loại hình DN có tư cách pháp nhân Vì vậy, công ty phải cómột cơ cấu tổ chứ thống nhất, có người đại diện để công ty hoạt động với tư cách

là một chủ thể pháp lý độc lập CTCP với những đặc điểm về cấu trúc vốn và cơcấu cổ đông có đặc điểm khác biệt so với các loại hình công ty khỏc nờn cơ chế tổchức quản lý thường được quy định chặt chẽ hơn

Trong các hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới, cơ cấu tổ chức

quản lý của CTCP được quy định có những điểm khác nhau Chằng hạn, Luật

CTCP của CHLB Đức quy định CTCP bắt buộc phải có 3 cơ quan đó là: Đại hội

cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng giám sát Trong đó Hội đồng giám sát phải

Trang 9

có một nửa số thành viên là đại diện của người lao động Theo Luật DN 2005 quy

định thì CTCP phải có ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, đối vớiCTCP cú trờn 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là pháp nhân sở hữu trên50% tổng số cổ phần của công ty thì phải có Ban kiểm soát

2 Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lí CTCP.

2.1 Đại hội đồng cổ đông.

- Về nguyên tắc, CTCP được tổ chức quản lí tập trung thông qua cơ chế hộiđồng Theo đó, ĐHĐCĐ là cuộc họp của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là

cơ quan quyết định cao nhất của CTCP ĐHĐCĐ quyết định các vấn đề quan trọngnhất liên quan đến sự tồn tại và phát triển của CTCP

ĐHĐCĐ không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tạ trong thời gian họp và

ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc hoặc lấy ý kiến của các cổ đông cóquyền biểu quyết bằng văn bản

Luật DN 2005 trên cơ sở kế thừa và khắc phục nhưng thiếu sót của Luật DN

1999, quy định về ĐHĐCĐ một cách cụ thể và phù hợp hơn.Vỡ là cơ quan có

quyền quyết định cao nhất nên ĐHĐCĐ có quyền quyết định các vấn đề quantrọng nhất liên quan đế sự tồn tại và hoạt động của công ty Điều này được cụ thể

trong Khoản 2 Điều 96 Luật DN2005.

Là cơ quan tập thể, ĐHĐCĐ thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình chủyếu thông qua kì họp của ĐHĐCĐ, do đú,ĐHĐCĐ phải họp một năm ít nhất một

lần Luật DN2005 quy định ĐHĐCĐ phải họp thường niên trong thời hạn 4 tháng,

kể từ ngày kết thúc năm tài chính Theo đề nghị của HĐQT, cơ quan dăng kí kinhdoanh có thể gia hạn, nhưng không quá 6 tháng, kể thừ ngàykết thúc năm tài chính

Đây là quy định mới của Luật DN2005 so với quy định tại Luật DN1999.Luật

DN2005 quy định mộy cách chi tiết cụ thể các trường hợp mà ĐHĐCĐ còn có thể

họp bõt thường tại Khoản 3 Điều 97 Thẩm quyền triệu tập ĐHĐCĐ trước hết

Trang 10

thuộc về HĐQT công ty Khi nhận được yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ, HĐQTphải tiệu tập trong thời hạn 30 ngay, kể từ ngày được yêu cầu Nếu HĐQT khôngtriệu tập thì BKS thay thế HĐQT triệu tập Nếu BKS không triệu tập thì cổ đônghoặc nhóm cổ đông yêu cầu có quyền triệu tập ĐHĐCĐ Người triệu tập phải lậpdanh sách cổ đông có quyền dự họp, lập chương trình và nội dung cuộc họp, gửigiấy mời họp dến từng cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là 7 ngày, trước ngàykhai mạc

- Về điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ được quy định tại Điều 102 Luật

DN2005 Cuộc họp ĐHĐCĐ được tiến hành khi có số cổ đông dự họpđại diện ít

nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Tỉ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định (Điều 76 Luật DN1999 quy định là 51%).Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất

không đủ điều kiện tiến hành thì phải hoãn ngày và triệu tập họp lần thứ hai trongthời hạn 30 ngày, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất, Cuộc họp của ĐHĐCĐ triệu

tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện cho ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết (Luật DN1999 là 30%) Nếu lần thứ hai cũng

không thành công thì phải triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn 20 ngày, kể từngày dự định họp lần hai Trong trường hợp này, cuộc họp ĐHĐCĐ được tiếnhành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỉ lệ số cổ phần có quyền biểuquyết của các cổ đông dự họp

- Về việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ, các quyết định của ĐHĐCĐđược thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng vănbản.Cỏc nội dung được thông qua bằng hình thức biểu quyết hay lấy ý kiến bằng

văn bản được quy định cụ thể tại Điều 104 Luật DN2005 Khoản 3 Điều 104 Luật

DN 2005 quy định, quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được

số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp

Trang 11

chấp thuận; tỉ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định trong khi đó Điểm a Khoản 2

Điều 77 Luật DN1999 quy định tỉ lệ này là 51%.

Đối với quyết định liên qua đến loại cổ phần và số lượng cổ phần đượcquyền chào bán của từng loại, bổ sung, sửa đổi Điều lệ công ty, tổ chúc lại, giải thể

công ty, bán hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất

của công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đong

đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận, tỉ lệ cụ thể do điều lệ

công ty quy định Ngoài việc quy định các diều kiện thông qua các quyết định của

ĐHĐCĐ, Luật DN 2005 quy định yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ Theo

quy định này thì BKS có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏquyết định của ĐHĐCĐ

Với các quy định như trên, đã thể hiện sự khác biệt đáng kể của CTCP sovới một số loại hình doanh nghiệp khác Đó là sự biểu hiện rõ nét tính dân chủtrong hoạt động kinh doanh cũng như trong tổ chức quản lí Tuy nhiên, đây là nềndân chủ cổ phần, tức là nền dân chủ dựa vào sức mạnh đóng góp của cổ đông Nềndân chủ cổ phần hầu như không mang sắc thái chính tri, mà chủ yếu mang sắc tháikinh tế Cơ chế quản lí và đời sống của CTCP nói chung chứa đựng nhiều yếu tốdân chủ hơn so với các loại hình DN một chủ khác như DNTN, DNNN và các loạihình DN khác Trong các loại hình DN đó không thể tồn tại cơ chế bỏ phiếu theo

nguyên tắc “một cổ phần một lá phiếu” Chủ sở hữu có toàn quyền quyết định việc

thành lập, hoạt động kinh doanh của DN Ngược lại, hoạt động của CTCP khôngthể do một chủ sở hữu hay một nhóm chủ sở hữu nào đó quyết định, mà là do tất cảcác chủ sở hữu quyết định Tại ĐHĐCĐ, các cổ đông bàn bạc, thảo luận những vấn

đề có liên quan đến hoạt động của CTCP và quyết định bằng việc bỏ phiếu

So với các Luật khác trước đây (Luật Công ty 1990, Luật DN 1999) có quy định về CTCP thì Luật DN2005 quy định khá chi tiết và đầy đủ chức năng nhiệm

Ngày đăng: 30/01/2016, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w