1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA CHO BỊ CAN, BỊ CÁO

18 956 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 39,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ điều này mà trong Hiến pháp, pháp luật của nước ta nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng luôn luôn có các quy định thể chế hoá quyền và nghĩa vụ của người bào chữ

Trang 1

MỤC LỤC

CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Cơ quan tiến hành tố tụng: CQTHTT

Người tiến hành tố tụng: NTHTT

Bộ luật tố tụng 2003: BLTTHS

Cơ quan điều tra: CQĐT

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong tố tụng hình sự, có nhiều người tham gia nhưng vị trí người bào chữa rất quan trọng, nó có tác dụng giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý, kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm cho quá trình giải quyết

vụ án hình sự được khách quan và đúng pháp luật Trong tố tụng hình sự, người bào chữa là người tham gia tố tụng được đặt bên cạnh những người bị buộc tội như bị can, bị cáo Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa luôn luôn gắn liền với quyền của bị can, bị cáo Khi tham gia tố tụng, người bào chữa có nhiệm vụ làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ để gỡ tội cho thân chủ mình, cùng thân chủ hợp thành một bên tranh tụng Sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là cần thiết và khách quan, trước hết là

Trang 3

thực hiện nguyên tắc “bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo” Sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác Chính vì vậy có thể nói rằng, trong tố tụng hình sự, sự tham gia của người bào chữa là rất cần thiết, nó có cả ý nghĩa về pháp lý và ý nghĩa xã hội Xuất phát từ điều này mà trong Hiến pháp, pháp luật của nước ta nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng luôn luôn

có các quy định thể chế hoá quyền và nghĩa vụ của người bào chữa Vì vậy, nghiên cứu về “Địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự”

có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực tiễn pháp luật tố tụng của nước ta hiện nay

PHẦN NỘI DUNG

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA CHO BỊ CAN, BỊ CÁO

a. Khái niệm người bào chữa cho bị can, bị cáo

Theo từ điển luật học của Nhà xuất bản Tư pháp và Nxb Từ điển bách khoa 2006 thì “Bào chữa là việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo”

Khi một công dân trở thành đối tượng bị Nhà nước nghi là một tội phạm

và phải tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thì họ có quyền biện minh cho bản thân mình Vì vậy, pháp luật quy định cho những người này có quyền bào chữa để biện minh cho những gì hành vi của mình, có thể chứng minh sự vô tội hay để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà họ phải chịu đối với tội phạm mà mình thực hiện Tuy nhiên, khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự không phải bị can, bị cáo nào cũng nắm rõ về các thủ tục tố tụng, các quy định của pháp luật

về quyền bào chữa cho để họ có thể tự mình bào chữa; hơn thế nữa, họ thường không có kinh nghiệm khi tiếp xúc với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Chính vì vậy, một nhu cầu khách quan là bị can, bị cáo cần có người hiểu biết về pháp luật, có kinh nghiệm tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và

Trang 4

lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo trước sự buộc tội của các CQTHTT, đó chính là người bào chữa

Điều 11 BLTTHS đã cụ thể hóa quyền bào chữa của bị can, bị cáo

“Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Nhờ người khác bào chữa là việc bị can, bị cáo nhờ người bào chữa

bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Tuy nhiên, ở nước ta chưa

có một khái niệm thống nhất về người bào chữa trong tố tụng, mỗi tác giả khi nghiên cứu về quyền bào chữa đều đưa ra cho mình một khái niệm khác nhau Giáo trình Luật tố tụng hình sự của trường Đại học Luật Hà

Nội 2008 đưa ra khái niệm: “Người bào chữa là người được các cơ quan tiến

hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội; những tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Chương IV, Điều 56 BLTTHS quy định người bào chữa là tham gia tố tụng để bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo

Mặc dù có nhiều quan điểm được đưa ra như vậy nhưng đều có điểm chung là người bào chữa là người được pháp luật công nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo

b. Khái niệm địa vị pháp lý của người bào chữa cho bị can, bị cáo

Địa vị pháp lý của một người là vị trí của người đó trong mối quan hệ pháp luật nhất định Điều này có nghĩa là khi tham gia vào một quan hệ pháp luật họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý tương xứng với vị trí của họ trong quan hệ pháp luật đó

Người bào chữa khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự có quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng Với địa vị pháp lý là người bào chữa trong

tố tụng hình sự, pháp luật quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ cơ bản

2. Các chủ thể có thể trở thành người bào chữa cho bị can, bị cáo

Trang 5

Khoản 1, Điều 56 BLTTHS quy định người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân

a. Luật sư

Theo quy định tại Điều 2, Luật luật sư 2006 thì: “Luật sư là người có đủ

tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Luật luật sư 2006 cũng quy định các tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành Luật sư:

- Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

- Có phẩm chất đạo đức tốt

- Có bằng cử nhân luật

- Đã được đào tạo nghề Luật sư

Ngoài các tiêu chuẩn trên để có thể hành nghề Luật sư trong các vụ án hình sự cần phải có các điều kiện sau:

- Phải có chứng chỉ hành nghề Luật sư

- Phải ra nhập một đoàn luật sư

Luật sư và người bào chữa là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất với nhau Theo quy định của pháp luật thì luật sư chỉ trở thành người bào chữa khi tham gia quá trình tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can,

bị cáo; được các CQTHTT cấp giấy chứng nhận bào chữa Trong quá trình tố tụng nếu luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của đương sự

b. Người đại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo

BLTTHS chưa có quy định cụ thể về những người có thể là đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo; nhưng dựa trên Luật hôn nhân và gia đình 2000, Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản có liên quan thì người đại diện hợp pháp của bị can,

bị cáo là cha mẹ hoặc người giám hộ của bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc

Trang 6

người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên hoặc người giám hộ được cử

c. Bào chữa viên nhân dân

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 57 BLTTHS có thể hiểu bào chữa viên nhân dân là người được Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận

tổ quốc Việt Nam cử để bào chữa cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình

Hiện chưa có quy định của pháp luật hướng dẫn về tiêu chuẩn và điều kiện trở thành bào chữa viên nhân dân và về việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho bào chữa viên nhân dân

3. Những người không được bào chữa, lựa chọn và thay đổi người bào chữa

Khoản 2 Điều 56 BLTTHS quy định: “Những người sau đây không được

bào chữa: a) Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó; b) Người tham gia vụ án

đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc nguời phiên dịch”.

Người đã tiến hành tố tụng có trách nhiệm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ cả về mặt buộc tội và gỡ tội Trong khi

đó, người bào chữa tham gia tố tụng là nhằm gỡ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này Một bên đứng trên góc độ Nhà nước và một bên lại đứng trên góc độ cá nhân Thế nên trong cùng một vụ án, một người không thể thủ một lúc hai vai để thực hiện tốt trách nhiệm chứng minh vụ án và nghĩa vụ bào chữa Bên cạnh đó, người thân của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng không được là người bào chữa trong

vụ án đó bởi nó sẽ ảnh hưởng đến sự khách quan của trong việc giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng

Người làm chứng, người giám định, người phiên dịch là những người tham gia tố tụng có nghĩa vụ trung thực, khách quan đảm bảo tính chính xác Họ không phụ thuộc vào bất kỳ một bên nào, mà chỉ tham gia tố tụng theo quy định

Trang 7

của pháp luật Chính vì vậy, họ không thể đồng thời là người bào chữa trong cùng một vụ án

4. Các hình thức tham gia bào chữa

a. Trường hợp bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ mời

Quyền lựa chọn người bào chữa thuộc về một trong hai chủ thể là bị can,

bị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì:

- Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên; người có nhược điểm về mặt tâm thần hoặc thể chất thì họ và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền lựa chọn người bào chữa

- Đối với bị can, bị cáo là người từ đủ mười tám tuổi trở lên, không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì chỉ có họ mới có quyền lựa chọn người bào chữa; do đó, trong trường hợp người thân thích của họ hoặc người khác lựa chọn (nhờ) người bào chữa cho họ

Theo hướng dẫn trên thì quyền lựa chọn của người bào chữa cho bi can,

bị cáo có thể thuộc về cả hai chủ thể là bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ Quyền này là độc lập trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên; có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; và sẽ không có mâu thuẫn nếu hai chủ thể này thống nhất với nhau, vấn đề phát sinh trên thực tế sẽ xuất hiện khi không có sự đồng thuận giữa hai chủ thể này Trường hợp này hai chủ thể có thể trao đổi và đi đến thống nhất

b. Trường hợp Cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định

Để đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo trong trường hợp người đại diện hợp pháp của họ hoặc họ không mời được người bào chữa, CQTHTT phải thực hiện yêu cầu người bào chữa cho bị can, bị cáo

Theo quy định tại khoản 2, Điều 57 BLTTHS “Trong những trường hợp

sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề

Trang 8

nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình: a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự; b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa”.

II. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI

BÀO CHỮA CHO BỊ CAN, BỊ CÁO

Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của BLTTHS về trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia

tố tụng từ khi kết thúc điều tra

1. Các quyền tố tụng

Theo quy định khoản 2 điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có các quyền sau:

- Quyền có mặt khi hỏi cung bị can

Đây là quyền mở rộng sự tham gia của người bào chữa trong các hoạt động điều tra Việc tham gia này của người bào chữa cũng có ý nghĩa trợ giúp ban đầu đối với bị can, bị cáo, giúp cho bị can, bị cáo có tâm lý ổn định hơn khi trả lời các câu hỏi của điều tra viên, đảm bảo việc hỏi cung, lấy lời khai không chủ quan, duy lí trí theo hướng của điều tra viên

- Người bào chữa còn có thể hỏi cung bị can nếu được sự đồng ý của điều tra viên

Đây là quy định thể hiện sự công bằng của pháp luật Người bào chữa cũng có quyền tham gia vào các hoạt động điều tra khác như: hoạt động đối

Trang 9

chất, nhận dạng, hoạt động khám nghiệm, thực nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ tài sản

Khi tham gia các hoạt động điều tra, người bào chữa được quyền xem các biên bản về hoạt động tố tụng hình có sự tham gia của mình và các quyết định

tố tụng có liên quan tới người mà mình bào chữa Khi xem xét, người bào chữa

có thể đối chiếu với biên bản xem có phù hợp với quá trình tiến hành hoạt động điều tra hay không Nếu nhận thấy hành vi tố tụng của điều tra viên không phù hợp với các quy định của pháp luật hoặc biên bản có những yếu tố vi phạm pháp luật, người bào chữa có thể khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết

- Quyền đề nghị CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bi can

Việc quyết định địa điểm, thời gian hỏi cung thuộc quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan điều tra Người bào chữa chỉ được mời hoặc cử sau khi bị can, bị cáo đã bị bắt, tạm giam hoặc khởi tố Do đó, họ cần nắm rõ thông tin về địa điểm, thời gian hỏi cung để có sự chủ động cần thiết

- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định người phiên dịch

Người bào chữa nếu xét thấy việc tham gia của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch có thể không khách quan, vô tư ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình; có thể dựa vào căn cứ luật định để đề nghị thay đổi những người này

Điều 42 BLTTHS quy định người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành

tố tụng hoặc bị thay đổi nếu:

+ Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo;

+ Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;

Trang 10

+ Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Đối với người giám định quy định tại khoản 4, Điều 60 BLTTHS:

+ Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 42 của BLTTHS;

+ Đã tiến hành tố tụng với tư cách là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án hoặc đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch trong vụ án đó

Đối với người phiên dịch quy định tại Điều 61 BLTTHS:

+ Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 42 của BLTTHS;

+ Đã tiến hành tố tụng với tư cách là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án hoặc đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định trong vụ án đó

- Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa

Khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, người bào chữa phải căn cứ vào các chứng cứ, tình tiết có liên quan đến vụ án, các tài liệu thu thập được từ phía CQĐT Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào những chứng cứ, tài liệu do CQĐT thu thập được thì người bào chữa sẽ không nắm bắt được những tình tiết có lợi cho bị can, bị cáo Vì vậy, pháp luật cho phép người bào chữa được quyền tự mình thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác Sau đó, người bào chữa sử dụng những gì thu thập được để thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cáo hiệu quả hơn

- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Ngày đăng: 30/01/2016, 06:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w