Phân tích đặc trưng của hợp đồng lao động Theo Điều 26 Bộ Luật Lao động 1994: “ Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công,
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC……… 1
ĐỀ BÀI……… ….2 BÀI LÀM………4
1 Phân tích đặc trưng của hợp đồng lao động và phân biệt với hợp đồng dịch vụ dân sự……… 4 1.1 Phân tích đặc trưng của hợp đồng lao động………4 1.2 Phân biệt hợp đồng lao động với hợp đồng dịch vụ dân sự………….8
2 Giải quyết tình huống……… …….10
a Việc Bà H không có mặt tại công ty X vào ngày 01/5/2008 khi được giám đốc triệu tập để giải quyết công việc khẩn cấp có bị coi là vi phạm kỷ luật lao động hay không? Tại sao? 11
b Nhận xét về việc xử lý kỉ luật bà H của Công ty X trong vụ việc trên? 12
c Hãy giải quyết quyền lợi cho bà H theo quy định của pháp luật hiện hành? 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………16
Trang 2ĐỀ SỐ 04
1 Phân tích đặc trưng của hợp đồng lao động và phân biệt với hợp đồng dịch vụ dấn sự (3 điểm)
2 Trong phần nhận định, bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện GK ghi:
“Qua xem xét các tình tiết của vụ án có thể nhận thấy bà Nguyễn Thị H đã vi phạm kỉ lụât lao động vì vào ngày 1/5/2008 bà H không có mặt tại công ty khi được Giám đốc triệu tập hợp pháp để giải quyết công việc khẩn cấp Sau khi bị Giám đốc kỉ luật khiển trách, chuyển làm công việc khác ( từ nhân viên văn thư chuyển xuống làm nhân viên tạp vụ ) vì không đủ phẩm chất tiếp tục làm công việc cũ từ ngày 12/5/2008 đến 31/12/2008 Nhưng bà H đã không hoàn thành nhiệm vụ vì ngày 15/5/2008 trong khi bê khay tiếp tân đã để đổ cà phê ra sàn nhà khách, làm hỏng tấm thảm trị giá 15 triệu của công ty Vì vậy, công ty đã ra quyết định sa thải là hoàn toàn đúng pháp luật vì đã gây thiệt hại nghiêm trọng
và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm Xét về phía công ty, mặc dù chưa có Nội quy lao động bằng văn bản nhưng trong quá trình quản lí đã thường xuyên nhắc nhở nhân viên về ý thức chấp hành mệnh lệnh Do đó, coi như đã chuẩn bị tinh thần, thái độ cho nhân viên Hơn nữa, Bộ luật Lao động đã quy định rõ về các hình thức xử lí kỉ luật lao động nên thiết nghĩ cần ủng hộ công ty trong việc
xử lí đối với người lao động vi phạm Về vấn đề này công ty cần rút kinh nghiệm ban hành Nội quy để có cơ sở pháp lí vững chắc để xử lí người laođộng”
Hỏi:
a Việc Bà H không có mặt tại công ty X vào ngày 01/5/2008 khi được giám đốc triệu tập để giải quyết công việc khẩn cấp có bị coi là vi phạm kỷ luật lao động hay không? Tại sao? (1 điểm)
b Nhận xét về việc xử lý kỉ luật bà H của Công ty X trong vụ việc trên? (4
Trang 3c Hãy giải quyết quyền lợi cho bà H theo quy định của pháp luật hiện hành? (2 điểm)
Trang 4BÀI LÀM
1 Phân tích đặc trưng của hợp đồng lao động và phân biệt với hợp đồng dịch vụ dân sự.
1.1 Phân tích đặc trưng của hợp đồng lao động
Theo Điều 26 Bộ Luật Lao động 1994: “ Hợp đồng lao động là sự thỏa
thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hê lao động”.
Từ khái niệm về HĐLĐ đã nêu ở trên, ta có thể thấy những đặc trưng của HĐLĐ bao gồm:
Thứ nhất: Trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lí của NLĐ với NSDLĐ
Đây là đặc trưng được coi là tiêu biểu nhất của HĐLĐ mà các hệ thông pháp luật khác nhau trên thế giới đều thừa nhận Có thể thấy trong tất cả các loại quan hệkhế ước, duy nhất HĐLĐ tồn tại đặc trưng này Biểu hiện ra bên ngoài
là sựkhông bình đẳng, bởi một bên trong quan hệ có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị (NSDLĐ) và bên kia có nghĩa vụ thực hiện Song, yếu tố quản lí ở đây lại mangtính khách quan Bởi vì, khi tham gia quan hệ HĐLĐ mỗi NLĐ thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hóa, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động Vì vậy, cần thiết phải có sự thông nhất, lien kết, đồng bộ,…các quan hệ đơn lẻ trong trật tự chung thông qua trung tâm chỉ huy và điều phối bằng các yêu cầu đòi hỏi , ràng buộc, mệnh lệnh
…của chủ sơ hữu doanh nghiệp - bởi họ, tức chủ sở hữu trong điều kiện kinh tế thị trường phải có quyền quyết định kinh doanh như thế nào, tổ chức, sử dụng lao động ra sao để đạt hiệu quả cao nhất Do đó, yếu tố quản lí trong quan hệ lao động là kháchquan Sự thừa nhận của pháp luật về vấn đề này và trao quyền quản lí cho NSDLĐ là phù hợp với sự tồn tại và tồn tại của quan hệ lao động
Trang 5Tuynhiên, trong thực tế do sẵn có những ưu thế hơn hẳn so với NLĐ đồng thời lại cóquyền quản lí được pháp luật thừa nhận nên dễ dẫn đến sự lạm dụng, phân biệtđối xử, bất bình đẳng của NSDLĐ với NLĐ Song, vì là người có quyền tổchức, quản lí lao động nên NSDLĐ phải có trách nhiệm với các hậu quả xảy ratrong quá trinh lao động Chính vì thế, đây cũng là đặc trưng quan trọng để người ta phân biệt HĐLĐ với các loại hợp đồng có nội dung liên quan đến quan
hệ lao động
Thứ hai: Đối tượng của HĐLĐ một việc làm có trả công.
Mặc dù HĐLĐ là một loại quan hệ mua bán, song biểu hiện của nó không giồng các quan hệ thông thường khác trong xã hội mà là một loại quan hệ mua bán đặc biệt Một trong những khía cạnh đặc biệt của quan hệ này thể hiện ở chỗ hànghóa mang ra trao đổi-sức lao động luôn tồn tại gắn liền với cơ thể NLĐ Dođó, khi NSDLĐ mua hàng hoá sức lao động thì cái mà họ được “sở hữu” đó làmột quá trình lao động biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, thái độ, ý thức…của NLĐ và để thực hiện được những yêu cầu trên, NLĐ phải cung ứng sức lao động từ thể lực và trí lực của chính mình biểuthị thông qua những khoảng thời gian đã được xác định (ngày làm việc, tuần làmviệc… Như vậy, sức lao động đã được mua bán trên thị trường là sức lao động trừu tượng, do đó các bên phải mua bán thông qua một việc làm Chính vì vậy, nội dung chủ yếu đầu tiên của HĐLĐ Trong khi đó, vấn đề mà các chủ thể quan tâmchủ yếu trong quan hệ dân sự về lao động là lao động đã kết tinh vào sản phẩm, dịch vụ, tức là lao động quá khư Vì vậy, họ không quan tâm đến quá trình mà chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng như là một dịch vụ thông thường hay một quan hệ kinh tế mua đứt bán đoạn (đoạn mại)
Người ta có thể quan niệm việc làm theo nhiều cách khác nhau nhưng với
tư cách là đối tượng của HĐLĐ thì bao giờ nó cũng có một liên hệ xác định như liên hệ tạo ra một mối lợi Nói cách khác cũng như mọi quan hệ mua và bán
Trang 6khác, việc làm - như một thứ hàng hóa đem bán trên thị trường trước hết phải cóích mà ở đây có nghĩa là đem lại cái lợi cho người mua và bán nó Do đó việc làm với ý nghĩa là đối tượng của HĐLĐ phải là việc làm có trả công Như vậy, khi NLĐ tham gia vào quan hệ HĐLĐ hoàn thành công việc như đã thoả thuận thì NSDLĐ có trách nhiệm phải trả cồng cho quá trình lao động đó bất luận việc kinh doanh của NSDLĐ có lãi hay không Song về bản chất, tiền công của NLĐ
là giá trị của hàng hóa sức lao động, chính vì vậy nó được điều chỉnh bằng các quy chế pháp lí tương đối đặc biệt không như giá cả những hàng hóa thông thường
Việc xác định đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công không chỉ có
ý nghĩa trong việc đưa ra một trong những căn cứ để phân biệt HĐLĐ với những hợp đồng khác có nội dung tương tự mà còn có ý nghĩa với chính quan
hệ HĐLĐ, chẳng hạn ở khía cạnh xác định chủ thể trong quan hệ lao động Thôngthường người ta xác định tư cách NSDLĐ thông qua yếu tố quản lí trong quan hệ, song điều này không phải bao giờ cũng dễ dàng
Thứ ba: HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện
Đặc trưng này xuất phát từ bản chất của quan hệ HĐLĐ Nếu như quan
hệ thuộc dân luật điều chỉnh, người ta chỉ quan tâm đến lao động đã kết tinh và sản phẩm, dịch vụ thì quan hệ lao động theo HĐLĐ các bên không chỉ chú ý đến laođộng quá khứ mà họ còn quan tâm đến lao động sống, tức lao động đang
có, laođộng đang diễn ra Hơn nữa HĐLĐ thường được thực hiện trong môi trường xãhội hóa, có tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa rất cao Vì vậy, khi NSDLĐ thuê mướn NLĐ người ta không chỉ quan tâm đến trình độ chuyên môn của NLĐ mà còn quan tâm đến đạo đức, ý thức phẩm chất…tức nhân thân của NLĐ Do đó NLĐ phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được dịch chuyểncho người thứ ba Mặt khác, trong HĐLĐ ngoài những quyền lợi do hai bên thỏathuận thì NLĐ còn có một số chế độ quyền lời theo quy định của
Trang 7pháp luật như quyền nghỉ hàng năm nghỉ lễ tết, quyền hưởng chế độ hưu trí… Nhưng nhữngquyền lợi này của NLĐ chỉ được hiện thực hóa trên cơ sở sự cống hiến cho xã hội của NLĐ (chủ yếu thể hiện thông qua thời gian làm việc,mức tiềnlương ) Vì vậy, để được hưởng những quyền lợi nói trên NLĐ phải trực tiếp thực hiện HĐLĐ - đây là lí do thứ hai phải giải thích cho đặc trưng này của HĐLĐ
Song theo quy định tại khoản 4 Điều 30 BLLĐ thì NLĐ có quyền dịch chuyển nghĩa vụ lao động của mình cho người khác nếu được sự đồng ý của NSDLĐ Quy định này là cần thiết nhằm đáp ứng các nhu cầu khách quan trong quan hệ HĐLĐ Nhưng cũng cần chú ý việc giải quyết hậu quả khi có sự kiện pháp lí nảy sinh trong trường hợp này
Thứ tư: Trong HĐLĐ sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bởi những giới hạn pháp lí nhất định
Trong thực tế với tất cả các quan hệ hợp đồng sự thoả thuận của các bên bao giờ cũng phải đảm bảo các quy định của pháp luật như sự bình đẳng, tự do,
tự nguyện, tính không trái pháp luật…Đối với HĐLĐ ngoài những đặc điểm nói trên thì sự thỏa thuận của các bên còn bị chi phối bởi nguyên tắc thoả thuận: Quyển lợi của NLĐ là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu Theo đó, sự thoả thuận của các bên thường bị khuôn khổ, khống chế bởi những ngưỡng, giới hạn pháp lí nhất định của BLLĐ, thỏa ước lao động tập thể…như tiền lương tối thiểu, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,… Nói cách khác, trong các quan hệ hợp đồng dân sự, kinh tế khung pháp lí cho sự thoả thuận của các bên là rất rộng, đảm bảo tối đa quyền thoả thuận, định đoạt của các bên Nhưng trong quan hệ HĐLĐ quyền tự do và định đoạt của các bên bị chi phối bởi những giới hạn pháp lí nhất định Đặc trưng này của HĐLĐ xuất phát từ nhu cầu bảo vệ, duy trì
và phát triển sức lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường không chỉ với
tư cách là các quyền cơ bản của công dân mà còn có ý nghĩa xã hội đặc biệt
Trang 8quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Mặt khác, HĐLĐ
có quan hệ đến nhân cách của NLĐ do đó quá trình thỏa thuận thực hiện HĐLĐ không thể tách rờivới việc bảo vệ và tôn trọng nhân cách của NLĐ
Ngoài ra cũng cần chú ý HĐLĐ là loại hợp đồng vừa có tính ưng thuận ( thỏathuận) vừa có tính thực tế Chính vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa vụ thông qua sự thỏa thuận của các bên với các thủ tục và hình thức theo quy định của phápluật, người ta còn thừa nhận tính thực tế của quan hệ HĐLĐ Theo đó, trongtrường hợp này các quy định của pháp luật được thừa nhận một cách mềm dẻo và linh hoạt Thừa nhận đặc trưng này của HĐLĐ sẽ giải quyết được về mặt líluận rất nhiều vấn đề phát sinh trong thực tế hiện nay như về chủ thể của HĐLĐ, hình thức, nội dung HĐLĐ
Thứ năm: HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay
vô hạn định.
HĐLĐ phải được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian nhất định hay trong khoảng thời gian vô hạn định Thời hạn của hợp đồng có thể được xác định ró từ ngày có hiệu lực đến một thời điểm nào đó, song cũng có thể không xác địnhtrước thời hạn kết thúc Ở đây, các bên, đặc biệt là NLĐ không có quyền lựa chọnhay làm việc theo ý chí chủ quan của mình mà công việc phải được thi hành tuầntự theo thời gian đã được NSDLĐ xác định (ngày làm việc,tuần làm việc) Đâycũng chính là một trong những căn cứ để người ta phân biệt HĐLĐ với các hợp đồng dich vụ, hợp đồng gia công do Luật dân sự điều chỉnh Sự ngắt quãng, tạm ngưng trong việc thực hiện hợp đồng chỉ được áp dụng trong những trường hợp đã được luật pháp quy định (các trường hợp tạm hoãn HĐLĐ quy định tại điều 35 BLLĐ sửa đổi, bổ sung; Điều 10 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003)
1.2 Phân biệt hợp đồng lao động với hợp đồng dịch vụ dân sự
Trang 9- Khái niệm hợp đồng: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 26 BLLĐ 1994) Còn hợp đồng dịch vụ dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên,theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ
- Hợp đồng lao động do Luật lao động điều chỉnh Còn hợp đồng dich vụ dân sự do Luật dân sự điều chỉnh
- Hợp đồng lao động có lợi hơn cho NLĐ, luôn bảo vệ quyền lợi cho NLĐ và bất lợi hơn cho NSDLĐ vì phải đóng bảo hiểm Còn hợp đồng dịch vụ dân sự thì dường như hai bên được lợi ngang nhau và bên thuê dịch vụ không phải đóng bảo hiểm cho bên cung ứng dịch vụ
- Chủ thể: Hợp đồng lao động: chủ thể bắt buộc phải là người lao động và người sử dụng lao động Còn hợp đồng dịch vụ dân sự : chủ thể có thể là bất kì
cá nhân, pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự
- Đối tượng của hợp đồng: đối tượng của hợp đồng lao động là công việc
có trả công Còn đối tượng của hợp đồng dịch vụ dân sự là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội
- Trong quan hệ HĐLĐ thì quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ là mối quan hệ mang tính lâu dài, NLĐ quản lí, sử dụng NLĐ và có sự phân công công việc cho NLĐ, còn NLĐ thực hiện công việc đó thường xuyên dưới sự quản lí của người sử dụng lao đông Ngược lại, trong hợp đồng dịch vụ dân sự mối quan hệ giữa các bên chỉ là công việc mà bên cung ứng dịch vụ phải làm, công việc mang tính vụ việc hơn, một bên trong quan hệ hợp đồng giao việc cho bên kia thực hiện và chỉ việc trả tiền mà k hề có sự quản lí, sử dụng hay phân công công việc cho bên đó Khi công việc thoả thuận giữa hai bên hoàn thành thì hợp đồng dịch vụ đó cũng hết hiệu lực
Trang 10- Hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lí giữa NLĐ và NSDLĐ, đây
là đặc điểm mà hợp đồng dịch vụ dân sự không có Cụ thể trong trong quá trình thực hiện HĐLĐ thì người sử dụng lao động có quyền ra mệnh lệnh đối với ngưòi lao động Đồng thời trong thời gian thực hiện HĐLĐ thì NSDLĐ có quyền kỉ luật NLĐ bằng các hình thức như khiển trách, chuyển làm công việc khác, sa thải … Trong khi đó, trong hợp đồng dịch vụ dân sự thì quyền và nghĩa
vụ của hai bên là tương đồng nhau Bên cung ứng dịch vụ không phụ thuộc vào bên thuê dịch vụ, không chịu sự quản lí của bên thuê dịch vụ và cũng không có chuyện bên thuê dịch vụ tiến hành kỉ luật đối với bên cung ứng dịch vụ mà chỉ
có phạt vi pham hợp đồng
- Trong quan hệ hợp đồng dịch vụ dân sự thì các chủ thể quan tâm chủ yếu tới vấn đề sản phẩm cuối cùng mà bên cung ứng dịch vu đã làm ra chứ không cần quan tâm tới quá trình làm ra sản phẩm đó miễn là sản phẩm do bên cung ứng dịch vụ làm ra và đảm bảo chất lượng và các tiêu chí khác trong hợp đồng Còn trong quan hệ HĐLĐ thì thứ mà NSDLĐ sở hữu ở NLĐ đó là quá trình lao động tạo ra sản phẩm của họ được thể hiện thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ …
- Trong việc thực hiện HĐLĐ thì người lao động không có quyền lựa chọn hay làm việ theo ý chí chủ quan của mình mà công việc phải được tiến hành tuần tự theo thời gian mà người sử dụng lao động định sẵn (giờ làm việc, ngày làm việc, tuần làm việc… ) Đối với hợp đồng dịch vụ dân sự thì bên thuê dịch vụ chỉ quan tâm tới việc bên cung ứng dịch vụ có hoàn thành công việc đúng chất lượng ,số lượng trong thời gian đã thoả thuận hay không mà thôi Họ không cần quan tâm tới trong thời gian đó bên cung ứng dịch vụ có tiến hành làm công việc mà mình yêu cầu liên tục hay không, cái mà họ quan tâm đó là sản phẩm cuối cùng mà bên cung ứng dịch vụ làm ra
2 Giải quyết tình huống