1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giánhững quy định của pháp luật hiện hành về quy trình xây dựng văn bản quy phạm phápluật ( VBQPPL) của Quốc hội

11 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 101 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất của nhà nước ta là “ nhà nước của dân, do dân, vì dân”, do đó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,nhân dân là chủ thể chính trong mọi hoạt động; và lập pháp không phải

Trang 1

BÀI LÀM

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước, một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội được Hiến định là chức năng làm luật và sửa đổi luật Việc ban hành ra được một văn bản Luật phải trải qua nhiều quy trình và được quy định cụ thể trong luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp Quốc hội ban hành ra văn bản quy phạm pháp luật theo đúng thẩm quyền mà pháp luật cho phép Vậy, để hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật hiện hành về quy trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội dưới đây là bài tiểu luận có đề tài: “ Đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ( VBQPPL) của Quốc hội.”

1.phạm vi văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành.

Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động lập pháp của Quốc hội, Luật ban hành VQPPL năm

1996 ( sửa đổi năm 2002), đặc biệt Luật ban hành VQPPL năm 2008 ra đời, đã cụ thể hóa một bước quan trọng các quy định của Hiến pháp năm 1992 Luật ban hành VQPPL năm

2008 là tiền đề, cơ sở pháp lý quan trọng để xác định thẩm quyền và nội dung của từng loại VBQPPL nói chung và văn bản do Quốc hội ban hành nói riêng Các văn bản do Quốc hội ban hành ban gồm: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết ( quy định tại khoản 1, điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008)

Các VQPPL do Quốc hội ban hành thông qua hoạt động lập pháp đó là những quy phạm quan trọng, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Quốc hội thực sự là cơ quan có ưu thế trong việc thể hiện ý chí chung trong các đạo luật, làm cơ

sở, tiền đề cho hoạt đọng quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước khác

2 Chủ thể tham gia hoạt động lập pháp.

Xuất phát từ đặc điểm lập pháp, việc tham gia hoạt động này bao gồm rất nhiều chủ thể

Do đó, xác định rõ vai trò của mỗi chủ thể trong quad trình quản lý là yếu tố quan trọng bảo đảm hiệu quả hoạt đọng này trên thực tế

Trang 2

Theo quy định tại Điều 87 Hiến pháp năm 1992: “ Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án Luật ra trước Quốc hội Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội” Việc mở rộng phạm vi chủ thể tham gia vào quá trình này nhằm tăng cường khả năng phát hiện nhu cầu điều chỉnh của luật, pháp lệnh về lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục sự hạn chế các lĩnh vực do pháp luật điều chỉnh, đáp ứng bối cảnh kinh tế, quốc tế hiện nay

Bản chất của nhà nước ta là “ nhà nước của dân, do dân, vì dân”, do đó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,nhân dân là chủ thể chính trong mọi hoạt động; và lập pháp không phải là một ngoại lệ, mà trái lại nó là một hoạt động thể hiện rõ nhất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, có sự đồng long của nhân dân đối với các dự thảo luật thì hiệu quả hiệu quả văn bản Luật sau khi ban hành mới đi vào cuộc sống sẽ phát huy vai trò của

nó trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội tạo một bước để hoàn thiện mạnh mẽ trong hoạt động lập pháp của Quốc hội trong thời gian tới

3 Quy trình lập pháp theo pháp luật hiện hành.

Mục đích mà hoạt đọng lập pháp hướng tới là kịp thời ban hành các văn bản luật, pháp lệnh một cách đồng bộ Một hệ thống pháp luật khi có sự phối hợp nhịp nhàng, logic của các đạo luật thì tránh được sự chồng chéo, mâu thuẫn, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan

hệ xã hội Nhằm đạt được mục đích đẩy mạnh hiệu quả hoạt động lập pháp thì các nhà làm luật phải làm nhiều việc, một trong những công việc đó là hoàn thiện hơn nữa trình tự lập pháp của Quốc hội Quy trình lập pháp của Quốc hội được xem như là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình của hoạt động lập pháp nói chung

Quy trình lập pháp của Quốc hội là thủ tục các bước tiến hành thông qua một đạo luật Quy trình lập pháp là một vấn đề rất quan trọng, nó buộc mọi chủ thể tham gia hoạt động lập pháp đều phải tuân thủ Việc tuân thủ đó, bên cạnh việc bảo đảm tính quyền lực tối cao của Quốc hội với tư cách là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, đồng thời nó còn góp phần bảo đảm chất lượng, tính khả thi của mỗi đạo luật Mỗi một giai đoạn trong trình tự lập pháp bao gồm một loạt quy trình diễn biến nối tiếp nhau

Trang 3

Quy trình lập pháp của Quốc hội được tiến hành theo giai doạn sau:

3.1 Lập chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh

Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh trong nhiệm kì của Quốc hội và chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh hàng năm

Chủ thể có quyền trình dự án Luật được quy định tại điều 87 Hiến pháp năm 1992 gửi đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh đến Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ để cho ý kiến, đồng thời phải gủi đề nghị ấy đến Ủy ban pháp luật của Quốc hội để thẩm tra ( quy định tại khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008) Riêng Đại biểu Quốc hội có thẩm quyền riêng trong việc gửi kiến nghị về luật đến

Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ; cũng đồng thời gửi đề nghị đó đến Ủy ban pháp luật để kiểm tra

Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng dự án Luật, Pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình trình Ủy ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng Luật, pháp lệnh của cơ quan khác, tổ chức, Đại biểu Quốc hội; kiến nghị về Luật, Pháp lệnh của Đại biểu quốc hội Đề nghị chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Chính phủ thực sự có hiệu quả thì khoản 3, Điều 23 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 có quy định cụ thể trình tự xem xét và vai trò của Bộ tư pháp được chú trọng hơn; là cơ quan có trách nhiệm giúp Chính phủ lập chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh trên cơ sở đề xuất của các Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ Đây là một điểm mới so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996

Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với nhau thẩm tra đề nghị xây dựng Luật của Chính phủ, tổ chức, Đại biểu quốc hội; và kiến nghị về chương trình xây dựng luật, Pháp lệnh của Đại biểu quốc hội

Căn cứ vào dự kiến Chính phủ về chương trình xây dựng Luật của cơ quan khác, các tổ chức, Đại biểu quốc hội, ý kiến thẩm tra của Ủy ban pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự án chương trình được biểu quyết thông qua thì được bảo đảm triển khai thực hiện Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh xây dựng Luật, Pháp lệnh và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất

Trang 4

Văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hình thức của văn bản pháp luật và cũng là một hình thức quan trọng nhất của hoạt động xây dựng văn bản pháp luật Để hiểu đúng về văn bản quy phạm pháp luật và phân biệt được với các loại văn bản khác điều đầu tiên là phải hiểu định nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật và những đặc điểm của chúng

Định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật:

Theo quy định của luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.”

Từ quy định trên ta có thể hiểu: “ Quy phạm pháp luật không đơn thuần chỉ là các quy tắc xử sự chung mà các quy tắc xử sự chung, khi đặt vào văn bản quy phạm pháp luật

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hiến định hoặc luật định, chúng có màu sắc khác với các quy tắc xã hội khác (quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo…) bởi tính cưỡng chế của

bộ máy công quyền và việc tuân thủ chúng là bắt buộc.”

Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật:

* Văn bản quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung, tính trừu tượng, không đặt ra cho người này, người kia một cách xác định mà nhằm tới phạm vi đối tượng ít nhiều rộng hơn (ví dụ: tất cả các công dân, tất cả các công chức, tất cả các Doanh nghiệp…) Các quy phạm pháp luật được áp dụng đối với những người thuộc đối tượng được các quy phạm pháp luật đó điều chỉnh Như vậy, một quyết định bổ nhiệm một người vào chức vụ Chủ tịch xã không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng văn bản quy định một số quyền hạn cho các Chủ tịch xã sẽ là văn bản quy phạm pháp luật

* Văn bản quy phạm pháp luật được tuân thủ và thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước Nhà nước có thể dùng lực lượng công quyền để bảo đảm cho việc áp dụng quy phạm pháp luật

Trang 5

bằng việc áp dụng các chế tài Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình sự như hình phạt

tù hoặc phạt tiền, chế tài dân sự như huỷ bỏ hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng… Như vậy, bất luận là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận là hình thức văn bản nào (quyết định, chỉ thị, thong tư…

do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện

Do đó, khi đánh giá một văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không cũng như xem xét một văn bản có chứa ''quy phạm pháp luật'' hay không cần đặc biệt chú ý đến các đặc tính của quy phạm pháp luật, gồm: tính áp dụng chung (quy tắc ràng buộc chung và được tôn trọng chung), tính phi cá nhân (không nhằm vào một đối tượng, một con người nào cụ thể hay một nhóm đối tượng cụ thể), tính bắt buộc - tính cưỡng chế nhà nước (đối tượng bắt buộc phải thực hiện, không thể thoái thác) và phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành (chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật)

Như vậy, đối với văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành nói riêng đều phải có đầy đủ các dấu hiệu nêu trên Các dấu hiệu đặc trưng cần và đủ của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cũng chính là các yếu tố tạo thành định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đó là: văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ở địa phương) ban hành; được ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế Cũng có thể định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật một cách

trực tiếp từ các dấu hiệu của nó như sau: “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có tính

áp dụng chung, tính cưỡng chế, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình

tự, thủ tục do pháp luật quy định.”

Ví dụ:

Ví dụ 1: Luật các Bộ công chức ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2008, Điều 1 quy định: “ Luật này quy định về cán bộ, công chức; bầu cửa, tuyển dụng, sử dụng, quản lí cán bộ, công chức; nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện bảo đảm thi hành công

Trang 6

vụ.”, theo quy định trên thì luật cán bộ công chức áp dụng chung cho tất cả cán bộ công chức, không quy định cho riêng cá nhân, tổ chức nào

Ví dụ 2: Nghị định 34/ NĐ – CP ngày 2 tháng 4 năm 2010 nghị định về xử lí vi phạm

hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: “Điều 9 Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô

và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1 Phạt tiền từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành

vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm h, điểm l khoản 2; điểm c, điểm đ khoản 3; điểm c, điểm d khoản 4; điểm a, điểm c, điểm d khoản 5; điểm d khoản 7 Điều này;” theo quy định trên thì chỉ người nào vi phạm mới bị xử phạt và chưa quy định đối tượng cụ thể là ai bị xử phạt mà chỉ quy định chung; chỉ người nào vi phạm mới bị xử phạt

và khi đó các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền nhân danh nhà nước để xử phạt căn cứ vào các quy định của pháp luật

Từ hai ví dụ trên có thể hiểu Văn bản quy phạm pháp luật mang tính chung chung, không đặt ra cho người này người kia và văn bản quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước

Ví dụ 3: Quyết định xử phạt của Chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành công vụ đối với ông Nguyễn Văn A có hành vi: “ Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;” theo quy định tại điểm i, khoản 2, điều 9 Nghị định 34 quyết định xử phạt của đối với ông A là văn bản áp dụng pháp luật

Trang 7

pháp luật bằng việc áp dụng các chế tài Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình sự như hình phạt tù hoặc phạt tiền, chế tài dân sự như huỷ bỏ hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng… Như vậy, bất luận là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận là hình thức văn bản nào (quyết định, chỉ thị, thong tư… do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện

Do đó, khi đánh giá một văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không cũng như xem xét một văn bản có chứa ''quy phạm pháp luật'' hay không cần đặc biệt chú ý đến các đặc tính của quy phạm pháp luật, gồm: tính áp dụng chung (quy tắc ràng buộc chung và được tôn trọng chung), tính phi cá nhân (không nhằm vào một đối tượng, một con người nào cụ thể hay một nhóm đối tượng cụ thể), tính bắt buộc - tính cưỡng chế nhà nước (đối tượng bắt buộc phải thực hiện, không thể thoái thác) và phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành (chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật)

Như vậy, đối với văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành nói riêng đều phải có đầy đủ các dấu hiệu nêu trên Các dấu hiệu đặc trưng cần và đủ của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cũng chính là các yếu tố tạo thành định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đó là: văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ở địa phương) ban hành; được ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế Cũng có thể định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật một cách

trực tiếp từ các dấu hiệu của nó như sau: “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có tính

áp dụng chung, tính cưỡng chế, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình

tự, thủ tục do pháp luật quy định.”

Ví dụ:

Ví dụ 1: Luật các Bộ công chức ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2008, Điều 1 quy định: “ Luật này quy định về cán bộ, công chức; bầu cửa, tuyển dụng, sử dụng, quản lí cán bộ, công chức; nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện bảo đảm thi hành công

Trang 8

vụ.”, theo quy định trên thì luật cán bộ công chức áp dụng chung cho tất cả cán bộ công chức, không quy định cho riêng cá nhân, tổ chức nào

Ví dụ 2: Nghị định 34/ NĐ – CP ngày 2 tháng 4 năm 2010 nghị định về xử lí vi phạm

hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: “Điều 9 Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô

và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1 Phạt tiền từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành

vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b, điểm đ, điểm h, điểm l khoản 2; điểm c, điểm đ khoản 3; điểm c, điểm d khoản 4; điểm a, điểm c, điểm d khoản 5; điểm d khoản 7 Điều này;” theo quy định trên thì chỉ người nào vi phạm mới bị xử phạt và chưa quy định đối tượng cụ thể là ai bị xử phạt mà chỉ quy định chung; chỉ người nào vi phạm mới bị xử phạt

và khi đó các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền nhân danh nhà nước để xử phạt căn cứ vào các quy định của pháp luật

Từ hai ví dụ trên có thể hiểu Văn bản quy phạm pháp luật mang tính chung chung, không đặt ra cho người này người kia và văn bản quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước

Ví dụ 3: Quyết định xử phạt của Chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành công vụ đối với ông Nguyễn Văn A có hành vi: “ Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;” theo quy định tại điểm i, khoản 2, điều 9 Nghị định 34 quyết định xử phạt của đối với ông A là văn bản áp dụng pháp luật

Trang 9

Văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hình thức của văn bản pháp luật và cũng là một hình thức quan trọng nhất của hoạt động xây dựng văn bản pháp luật Để hiểu đúng về văn bản quy phạm pháp luật và phân biệt được với các loại văn bản khác điều đầu tiên là phải hiểu định nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật và những đặc điểm của chúng

Định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật:

Theo quy định của luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.”

Từ quy định trên ta có thể hiểu: “ Quy phạm pháp luật không đơn thuần chỉ là các quy tắc xử sự chung mà các quy tắc xử sự chung, khi đặt vào văn bản quy phạm pháp luật

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hiến định hoặc luật định, chúng có màu sắc khác với các quy tắc xã hội khác (quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo…) bởi tính cưỡng chế của

bộ máy công quyền và việc tuân thủ chúng là bắt buộc.”

Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật:

* Văn bản quy phạm pháp luật có tính áp dụng chung, tính trừu tượng, không đặt ra cho người này, người kia một cách xác định mà nhằm tới phạm vi đối tượng ít nhiều rộng hơn (ví dụ: tất cả các công dân, tất cả các công chức, tất cả các Doanh nghiệp…) Các quy phạm pháp luật được áp dụng đối với những người thuộc đối tượng được các quy phạm pháp luật đó điều chỉnh Như vậy, một quyết định bổ nhiệm một người vào chức vụ Chủ tịch xã không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng văn bản quy định một số quyền hạn cho các Chủ tịch xã sẽ là văn bản quy phạm pháp luật

Trang 10

* Văn bản quy phạm pháp luật được tuân thủ và thực hiện bởi sự cưỡng chế nhà nước Nhà nước có thể dùng lực lượng công quyền để bảo đảm cho việc áp dụng quy phạm pháp luật bằng việc áp dụng các chế tài Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình sự như hình phạt

tù hoặc phạt tiền, chế tài dân sự như huỷ bỏ hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng… Như vậy, bất luận là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận là hình thức văn bản nào (quyết định, chỉ thị, thong tư…

do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện

Do đó, khi đánh giá một văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không cũng như xem xét một văn bản có chứa ''quy phạm pháp luật'' hay không cần đặc biệt chú ý đến các đặc tính của quy phạm pháp luật, gồm: tính áp dụng chung (quy tắc ràng buộc chung và được tôn trọng chung), tính phi cá nhân (không nhằm vào một đối tượng, một con người nào cụ thể hay một nhóm đối tượng cụ thể), tính bắt buộc - tính cưỡng chế nhà nước (đối tượng bắt buộc phải thực hiện, không thể thoái thác) và phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành (chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật)

Như vậy, đối với văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành nói riêng đều phải có đầy đủ các dấu hiệu nêu trên Các dấu hiệu đặc trưng cần và đủ của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cũng chính là các yếu tố tạo thành định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đó là: văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ở địa phương) ban hành; được ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng biện pháp cưỡng chế Cũng có thể định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật một cách

trực tiếp từ các dấu hiệu của nó như sau: “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có tính

áp dụng chung, tính cưỡng chế, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình

tự, thủ tục do pháp luật quy định.”

Ví dụ:

Ngày đăng: 30/01/2016, 05:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w