Điều 643 BLDS quy định: “ Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành h
Trang 1PHỤ LỤC
I MỞ ĐẦU 2
II NỘI DUNG
1 Những quy định tại khoản 1 Điều 643 và Điều 669 Bộ luật dân sự 3
1.1 Quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 31.2 Quy định tại Điều 669 BLDS 7
2 Mối liên hệ giữa những quy định tại khoản 1 Điều 643 và Điều 669 BLDS 9
3 Một số vấn đề thực tiễn khi áp dụng những quy định tại khoản 1 Điều 643 và Điều 669 BLDS 13
3.1 Những vấn đề thực tiễn 133.2 Những hạn chế trong mối liên hệ giữa những quy định tại khoản 1Điều 643 BLDS và Điều 669 BLDS 18III KẾT LUẬN 21
Trang 2I. MỞ ĐẦU
Pháp luật tôn trọng quyền của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản chonhững người còn sống Xét dưới góc độ đạo lý và dưới góc độ pháp lí thì cá nhânphải có những “ nghĩa vụ” nhất định đối với một số đối tượng theo xác định củapháp luật, bởi vì có những trường hợp người lập di chúc không cho những người
mà mình có “ nghĩa vụ” đối với họ được hưởng di sản Vì vậy, để bảo vệ lợi íchcủa một số người trong diện những người thừa kế theo pháp luật, phù hợp vớiphong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, pháp luật đã hạn chếquyền lập di chúc được thể hiện ở Điều 669 BLDS Những người sau đây vẫn đượchưởng phần di sản bằng ít nhất 2/3 suất của người thừa kế theo luật, nếu thừa kếđược chia theo luật, trừ khi họ từ chối hưởng di sản hoặc không có quyền hưởng disản theo quy định tại Điều 642 hoặc khoản 1 Điều 643 BLDS Những người thừa
kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm:
a “Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng
b Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Tuy nhiên, có thể thấy pháp luật cũng quy định khá chặt chẽ về vấn đề ngườithừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, những người được quy định tạiĐiều 669 BLDS sẽ không được hưởng thừa kế nếu họ vi phạm khoản 1 Điều 643BLDS
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này cần tìm hiểu mối liên hệ giữa những quy định tạikhoản 1 Điều 643 BLDS về người không được quyền hưởng di sản và Điều 669BLDS về người hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trang 3II. NỘI DUNG
1 Những quy định tại khoản 1 Điều 643 và Điều 669 Bộ luật dân sự
1.1 Quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự
Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật Dân sự năm 2005 đều ghi nhận quyền hưởng
thừa kế của cá nhân Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, có một số trường hợp cábiệt người thừa kế vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc đạo đức xã hội bị phápluật tước quyền hưởng di sản kể cả theo di chúc và theo pháp luật Điều 643 BLDS
2005 đã quy định những người không được quyền hưởng di sản vì họ không cònxứng đáng được quyền thừa kế Điều 643 BLDS quy định:
“ Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản;”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS các trường hợp không đượchưởng quyền hưởng di sản như sau:
Điểm a khoản 1 Điều 643 BLDS: “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;”.
Hành vi cố ý giết người để lại di sản được hiểu là hành vi cố ý tước đoạt tính mạngngười để lại di sản một cách trái pháp luật Hành vi tước đoạt tính mạng là hành vi
Trang 4có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống của người
đó Hành vi tước đoạt tính mạng người để lại di sản là hành vi khách quan của tộigiết người phải là hành vi tước đoạt của người khác một cách trái pháp luật (phânbiệt với những hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợpphòng vệ chính đáng hay trong trường hợp thi hành án tử hình) Người có hành vi
cố ý giết người để lại di sản và đã bị kết án về hành vi cố ý đó thì không có quyềnthừa kế của người để lại di sản Pháp luật luôn bảo vệ những quyền lợi chính đángcủa mọi công dân nhưng những công dân có những hành vi trái pháp luật thì tưcách chủ thể của cá nhân trong một số quan hệ bị hạn chế hoặc bị đình chỉ theo luậtđịnh
Người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản và đã
bị kết án về một trong các hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế di sản của người đã
bị ngược đãi, bị hành hạ sau khi chết
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự củangười để lại di sản đã biết hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiệnhành vi để đạt được mục đích của mình
Người bị kết án về hành vi làm nhục danh dự của người để lại di sản thìkhông có quyền nhận di sản thừa kế của người đó để lại
Tuy nhiên, trong trường hợp người thừa kế chỉ bị kết án về hành vi vô ý làmchết người để lại di sản, người đó vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật nhận disản của người bị chính người được thừa kế đã vô ý gây ra cái chết cho người để lại
di sản
Điểm b khoản 1 Điều 643 BLDS: “ Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
nuôi dưỡng người để lại di sản” Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa người để lại
di sản với người thừa kế theo pháp luật khi người để lại di sản còn sống Nghĩa vụnuôi dưỡng, chăm sóc nhau khi còn sống giữa cá nhân với cá nhân đã không nhữngtheo thông lệ của xã hội mà còn được pháp luật quy định Phổ biến nhất là các
Trang 5quan hệ nuôi dưỡng nhau giữa cha – con, mẹ - con, anh, chị em ruột với nhau; ông
bà nội, ngoại với các cháu, vợ, chồng đối với nhau khi một bên cần được nuôidưỡng Nghĩa vụ cấp dưỡng gắn liền với nhân thân của cá nhân, không thể chuyểndịch cho người khác và cũng không thể phân chia như các nghĩa vụ khác Vợchồng có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không có khả năng lao động vàcòn cấp dưỡng cho nhau kể cả khi đã li hôn mà bên kia yêu cầu và được tòa ánthừa nhận
Người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản bị tòa án kết
án về hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế Điều 152 Bộ luật hình sự quy định:
“Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về ành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” Người
vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản không những phảichịu trách nhiệm hình sự mà còn bị tước quyền thừa kế do hành vi cố ý vi phạmnghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật
Điểm c khoản 1 Điều 643 BLDS: “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm
phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản
mà người thừa kế đó có quyền hưởng;” Do mưu đồ chiếm đoạt một phần hoặc
toàn bộ di sản thừa kế mà người thừa kế khác có quyền hưởng, cho nên đã có hành
vi cố ý giết người thừa kế khác Người thừa kế khác được hiểu là người thừa kế cóquyền hưởng di sản trong cùng một hàng với người có hành vi bị kết án là cố ý giếtngười thừa kế cùng hàng đó Tuy nhiên, người thừa kế khác có thể là người thừa kếkhác hàng nhưng người thừa kế bị giết chỉ có thể là người thừa kế ở hàng thừa kếtrên liền kề với hàng thừa kế của người có hành vi phạm tội nhưng phải giết toàn
bộ người thừa kế tại hàng trước đó hoặc từ hai người hoặc một người duy nhất và
Trang 6trong trường hợp không có người thừa kế thế vị nào Theo quy định trên thì mộtngười bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế khác với mục đích chiếm đoạtphần di sản của người đó có quyền hưởng thì bị tước quyền thừa kế Ngược lại,người chỉ bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế khác mà không nhằm mụcđích chiếm đoạt phần di sản của người thừa kế đó được hưởng thì không bị tướcquyền thừa kế Người thừa kế khác bị giết phổ biến nhất là người được hưởng disản thừa kế theo pháp luật, hiếm có trường hợp người bị giết là người được chỉđịnh thừa kế theo di chúc trừ một số trường hợp ngoại lệ.
Điểm d khoản 1 Điều 643 BLDS: “Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép
hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản;” Di chúc thể hiện ý chí của người có tài sản lập ra, định
đoạt tài sản của mình cho người thừa kế sau khi người lập di chúc qua đời Di chúc
là giao dịch dân sự một bên, thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc Ýchí của người lập di chúc phải hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự định đoạt tài sản củamình cho người thừa kế được chỉ định Quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của
cá nhân chính là quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu khi còn sống Hành vi cảntrở đối với người lập di chúc là hành vi trái pháp luật, do vậy người có hành vi cảntrở sẽ bị tước quyền thừa kế của người để lại di sản
- Người có hành vi giả mạo di chúc được hiểu là người có hành vi lập một dichúc mạo danh người để lại di sản nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản tráivới ý chí của người để lại di sản
Hành vi giả mạo di chúc là hành vi của người đã lập một di chúc theo ý chícủa mình nhằm thay thế di chúc của người để lại di sản hoặc để cho những ngườikhác tưởng lầm rằng người chết có để lại di chúc
Trang 7- Hành vi sửa chữa di chúc là hành vi làm thay đổi nội dung của di chúc dongười để lại di sản lập ra, trái với ý chí của người đó khi còn sống Thông thườngviệc sửa chữa di chúc nhằm có lợi cho chính người có hành vi đó.
- Hủy di chúc là hành vi của người đã làm tiêu hủy di chúc của người để lại
di sản và di chúc bị hủy đó đã không còn tồn tại dưới hình thức khách quan Thôngthường người có hành vi hủy di chúc là người thừa kế theo pháp luật của người lập
di chúc nhưng trong di chúc đó họ không có tên trong số những người được hưởng
di sản theo di chúc Vì vậy, họ hủy di chúc nhằm để việc thừa kế được giải quyếttheo pháp luật và họ sẽ được hưởng kỷ phần theo luật định Ví dụ như ông A có bangười thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất là 3 người con B, C, D Trước khi chết ông
A lập di chúc cho 2 người con C và D hưởng toàn bộ di sản mà ông để lại Thấymình sẽ không được hưởng di sản nếu chia theo di chúc, B đã hủy di chúc đó.Trong trường hợp này B sẽ bị tứơc quyền hưởng di sản theo pháp luật nghĩa là vụthừa kế trên vẫn được chia theo di chúc cho C và D hưởng toàn bộ di sản Nếu cóphần di sản nào đó được chia theo pháp luật (chẳng hạn do C đã trước chết ông Anên phần di sản đáng lẽ C được hưởng theo di chúc sẽ được chia theo pháp luật) thì
B vẫn không được hưởng đối với phần này và người được hưởng theo pháp luậtcòn lại là D Ngoài ra, người thừa kế theo di chúc chỉ thực hiện hành vi hủy di chúccủa người để lại di sản trong trường hợp họ đồng thời là người thừa kế theo luậtcủa người đó và nếu hưởng thừa kế theo di chúc thì họ sẽ được hưởng phần nhỏhơn so với phần di sản họ sẽ được hưởng theo pháp luật
Như vậy, những người có những hành vi như đã được quy định tại khoản 1Điều 643 BLDS sẽ không được hưởng di sản của người đã chết
1.2 Quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự
Theo truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, trong gia đình các con phải kínhtrọng, nuôi dưỡng cha mẹ Ngược lại, cha mẹ phải nuôi dưỡng các con chưa thànhniên hoặc con bị tàn phế không thể tự nuôi sống được bản thân; vợ, chồng phải
Trang 8thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống; giữa những người này ngoài nghĩa
vụ pháp lí họ còn có các nghĩa vụ về đạo đức đối với nhau Do đó, pháp luật quyđịnh trong trường hợp, họ phải được hưởng một phần kỷ phần nhất định từ di sảncủa người đã chết Điều này phù hợp với phong tục tập quán của nhân dân ta
Theo đó, Điều 669 BLDS 2005 quy định:
“ Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc hưởng phần
di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, me, vợ, chồng
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.”
Có thể thấy, Điều 669 Bộ luật dân sự đề cập đến vấn đề người thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung của di chúc Những người thừa kế không phụ thuộc vàonội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS gồm cha, mẹ, vợ, chồng,con dưới mười tám tuổi và con đã thành niên của người lập di chúc mà không cókhả năng lao động Những người này được hưởng phần di sản bằng hai phần basuất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật,trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản bằng cáchtruất quyền thừa kế hoặc di sản đã định đoạt hết cho những người khác hoặc chỉcho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, trừ trườnghợp họ từ chối nhận di sản hợp pháp Những người thừa kế không phụ thuộc vàonội dung của di chúc là những người thừa kế cần thiết, không thể bị người lập dichúc truất quyền, phần của mỗi người trong số họ được hưởng được bảo đảm tốithiểu bằng hai phần ba của một suất thừa kế nếu toàn bộ di sản được chia theopháp luật
Trang 9Nội dung của Điều 669 BLDS một mặt tôn trọng ý chí của người để lại disản nhưng mặt khác chính pháp luật lại hạn chế quyền định đoạt ấy nếu người đểlại di sản còn có những người mà khi họ còn sống họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng,chăm sóc Hay nói cách khác điều luật trên quy định một số người thừa kế luôn cóquyền hưởng một phần di sản nhất định mà không phụ thuộc vào việc người lập dichúc có cho họ hưởng hay không? Vì thế có thể nói rằng sự quy định trên của phápluật là sự dung hòa giữa phương diện kinh tế và phương diện đạo đức Nghĩa là sựdịch chuyển tài sản dù là hệ luận của quyền sở hữu đi nữa thì pháp luật vẫn canthiệp đến sự định đoạt của người lập di chúc để hạn chế quyền định đoạt của họnhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng thiết thực của những người có quan hệ thânthích với người đó Trái lại nếu sự chuyển dịch di sản được coi là bổn phận củangười đã chết đối với gia đình họ thì pháp luật vẫn cho phép người đó được tự domột phần nào, trong việc định đoạt tài sản miễn là phải làm tròn bổn phận tối thiểuđối với gia đình.
2 Mối liên hệ giữa những quy định tại khoản 1 Điều 643 và Điều 669 Bộ luật dân sự
Mặc dù, những quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS và Điều 669 BLDS đềcập hai vấn đề khác nhau: một là về việc người không được quyền hưởng di sản,hai là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nhưng những quyđịnh ở hai điều luật này lại có mối liên hệ khá chặt chẽ với nhau
Xét thấy, Điều 669 BLDS quy định người được thừa kế không phụ thuộcvào nội dung di chúc là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất củangười để lại di sản tức là những người có quan hệ huyết thống trực hệ, quan hệ hônnhân và quan hệ nuôi dưỡng đối với người để lại di sản khi còn sống Tuy nhiên,không phải tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản đều
là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc; để được nhận
Trang 10phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc những người này cònphải thỏa mãn các điều kiện:
- Người lập di chúc không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần disản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật (2/3 một suất theoluật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật)
- Không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản theo quy định tạiĐiều 642 BLDS
- Không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theoquy định tại Khoản 1 Điều 643 BLDS
Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nói trên, thì những người này sẽ đượchưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo phápluật Tuy nhiên, người để lại di sản lập di chúc sau khi đã biết được các hành vi củangười theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS nhưng vẫn thể hiện ý chí chohưởng thì người này chỉ được hưởng di sản theo di chúc Nếu người có tài sảnkhông định đoạt cho người này được hưởng di sản thì người này cũng không đượcquyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật
Như vậy, có thể thấy mối liên hệ giữa những quy định tại khoản 1 Điều 643BLDS và Điều 669 BLDS:
Thứ nhất, những quy định tại khoản 1 Điều 643 là một trong ba điều kiện
không thể thiếu trong việc xác định người được hưởng 2/3 suất thừa kế mà khôngphụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS Theo Điều
669 BLDS để được hưởng 2/3 suất thừa kế thì người thừa kế không phụ thuộc vàonội dung của di chúc phải không thuộc trường hợp những người không có quyềnhưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS Bởi lẽ, những ngườikhông được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 là nhữngngười có hành vi trái pháp luật và đã bị kết án cho nên bị tước quyền hưởng di sảnthừa kế kể cả trong trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trang 11Thứ hai, những quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS là cơ sở khi xác định
suất thừa kế được chia theo pháp luật để tính phần được hưởng của những ngườiđược thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669BLDS thì họ không là tham số để xác định 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật,
vì họ không có quyền thừa kế theo pháp luật Tóm lại, những trường hợp thuộc quyđịnh tại khoản 1 Điều 643 BLDS không phải là trường hợp được hưởng di sản màkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc Và như vậy quyền hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc không áp dụng đối với người từ chốinhận di sản hoặc với những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tạikhoản 1 Điều 643 BLDS (người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng,sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản,xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; người vi phạm nghiêmtrọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; người bị kết án về hành vi cố ý xâmphạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần disản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặcngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa dichúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí củangười để lại di sản)
Thứ ba, những quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS liên quan đến việc tính
suất 2/3 thừa kế theo luật tại Điều 669 BLDS Theo quy định tại Điều 669 BLDSthì cách tính 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật như sau:
- Lấy tổng di sản gốc là phần di sản còn lại để chia thừa kế sau khi đã thanhtoán toàn bộ nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại theo thứ tự ưu tiên thanh toánđược quy định tại Điều 683 BLDS gồm mai táng phí cho người đó, các khoản cấpdưỡng còn thiếu, các khỏan bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sảncủa người khác, các khoản nợ của Nhà nước, của các chủ thể khác; chi phí quản lí,bảo quản di sản Phần di sản còn lại được hiểu là di sản để chia thừa kế và là phần