1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

23 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm được xác lập………..17 2.. Trong giao dịch

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……… 3

NỘI DUNG………3

I Lý luận chung………3

1 Giao dịch dân sự……….3

2 Ý chí tự nguyện của chủ thể trong giao dịch dân sự……… 4

3 Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể……… 4

4 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể……… 5

II Các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể………5

1 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo……….6

2 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn……….8

3 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối……… 12

4 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe doạ……… 14

5 Giao dịch dân sự được xác lập mà vào thời điểm xác lập, người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình 15

III Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể………17

1 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm được xác lập……… 17

2 Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải

Trang 2

hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật………18

3 Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường……… 19

IV Một số kiến nghị……… 20

1 Về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể… 20

2 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể……… 21

LỜI KẾT……….23

 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………24

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU:

Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của giao dịch dân sự, Bộluật dân sự nước ta đã quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ và tương đối hoàn thiện

về việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân

sự Các quy định đó của BLDS đã tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và antoàn cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự, tạo nên sự ổn định của các quan

hệ tài sản trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần vàoquá trình hội nhập khu vực và thế giới Trong giao dịch dân sự yếu tố tự nguyệnđóng vai trò hết sức quan trọng, có thể nói đây là yếu tố đặc trưng của pháp luậtdân sự nói chung, giao dịch dân sự nói riêng, là căn cứ để chủ thể xác lập mộtgiao dịch nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.Tuy nhiên không phải giao dịch nào cũng hoàn toàn hợp pháp, đáp ứng đúngmục đích ban đầu của các chủ thể, ko có sự tranh chấp Ngày nay khi xã hộingày càng phát triển, với sự gia tăng nhanh chóng của các giao dịch dân sự, thìnhững sự tranh chấp của các chủ thể cũng ngày càng tăng và phức tạp, đặc biệt

đó là nhưng tranh chấp xảy ra do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể Để hiểu rõ

hơn về vấn đề này, em xin chọn đề bài “Một số vấn đề về giao dịch dân sự vi

phạm sự tự nguyện của chủ thể” Do nhiều lí do bài viết của em còn hạn chế,

mong thầy (cô) góp ý, giúp em hoàn thiện kiến thức của mình hơn

NỘI DUNG:

I Lý luận chung:

1 Giao dịch dân sự:

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát

sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của công dân (Điều 121 BLDS2005)

Hợp đồng “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 BLDS 2005) Hợp đồng dân sự

là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hằng ngày Thôngthường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất ý chícủa các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua bán, cho thuê…) nhưng cũngtồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia (hợp đồng hợp tác – Điều 111 BLDS

Trang 4

2005) Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia.Trong hợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sựthống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng Do vậy,hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập,thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Hành vi pháp lý đơn phương là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía

chủ thể nên việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sựtrước hết phụ thuộc vào ý chí của chủ thể đó Ví dụ: Sự thể hiện ý chí của cánhân trong việc lập di chúc, từ chối nhận di sản thừa kế hay hứa thưởng.Thông thường hành vi pháp lý đơn phương được xác lập của một bên chủ thểduy nhất, nhưng cũng có trường hợp nhiều chủ thể cùng tham gia vào một bêncủa giao dịch (hai cá nhân, tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng )

Điểm khác nhau giữa hợp đồng với hành vi pháp lý đơn phương là hợpđồng được xác lập dựa trên sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thểkhông cùng một phía (các bên), còn hành vi pháp lý đơn phương là sự tuyên

bố ý chí công khai của một phía chủ thể

2 Ý chí tự nguyện của chủ thể trong giao dịch dân sự:

Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một nguyên tắc cơbản trong giao dịch dân sự Điểm c khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định:

“Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.

Chủ thể của giao dịch dân sự có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộgia đình nhưng trực tiếp tham gia giao dịch bao giờ cũng là con người cụ thể

Dù với tư cách cá nhân hay với tư cách đại diện cho pháp nhân, tổ hợp tác, hộgia đình thì người tham gia giao dịch dân sự cũng phải hoàn toàn tự nguyện

Tự nguyện được hiểu là sự phù hợp, thống nhất giữa mong muốn bên

trong với sự bày tỏ mong muốn đó ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định

Ý chí của chủ thể phải là ý chí đích thực, tức là nguyện vọng, mong muốn chủquan bên trong của chủ thể không bị tác động bởi bất cứ yếu tố khách quanhay chủ quan nào khác dẫn tới việc chủ thể đó không nhận thức hoặc kiểmsoát được ý chí của mình Giữa ý chí đích thực của chủ thể (bên trong) với sựbiểu hiện ý chí (sự biểu hiện ra bên ngoài) phải có sự thống nhất Nếu không

có sự thống nhất ý chí thì chủ thể không có sự tự nguyện

3 Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:

Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là giao dịch vi phạm

sự thống nhất giữa mong muốn bên trong với sự bày tỏ, thể hiện mong muốn

Trang 5

đó ra bên ngoài Vi phạm sự tự nguyện trong giao dịch dân sự có thể là hành

vi vô ý hoặc cố ý thực hiện hoặc không thực hiện đúng những cam kết, thỏathuận, điều kiện mà một bên đưa ra và được bên kia chấp nhận

Trong những trường hợp một người không muốn tham gia một giao dịchnhưng họ buộc phải tham gia giao dịch đó hoặc muốn tham gia giao dịch nàynhưng buộc phải chấp nhận một nội dung khác vì những lý do nhất định làmcho họ không xử sự khác được thì giao dịch đó sẽ bị coi là vi phạm sự tựnguyện của chủ thể

4 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:

Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệuquả” Như vậy, có thể suy ra là giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch khôngtồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý

Thông thường giao dịch hợp pháp sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ củacác chủ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, xuất phát từ các nguyên nhânkhác nhau mà giao dịch có thể có sự vi phạm vào một trong các điều kiện cóhiệu lực của giao dịch dân sự Điều 127 BLDS 2005 quy định giao dịch dân

sự vô hiệu là “Giao dịch không có một trong các điều kiện được quy định tại

Điều 122 của Bộ luật này” Theo TS Lê Đình Nghị định nghĩa : “Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện

có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định” Theo TS Nguyễn

Văn Cường định nghĩa: “Giao dịch dân sự vô hiệu là loại giao dịch dân sự

khi xác lập các bên (hoặc chủ thể pháp lý đơn phương) đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn tới hậu quả pháp lý là không làm phát sinh quyền hay nghĩa vụ dân sự nào”

Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là giao dịch dân sự vôhiệu do không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là

“Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” (Điểm c khoản 1 Điều 122

BLDS 2005)

II Các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

Để đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giaodịch dân sự được quy định tại Điều 4 BLDS 2005, pháp luật dân sự cũng đãquy định một trong các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực đó là:

“Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” (Điều 122 BLDS 2005)

Các trường hợp giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể baogồm:

Trang 6

1 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo:

Khái niệm giả tạo trong giao dịch dân sự:

Giả tạo được hiểu là không thật, vì được tạo ra một cách không tự nhiên.

Như vậy, giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch dân sự được tạo ra một cáchkhông tự nhiên

Đối với giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toàn mongmuốn sự thể hiện một ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định mặc dù

ý chí đó không phải là ý chí đích thực Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sựđược xác lập do giả tạo là giao dịch dân sự được xác lập để nhằm che dấu mộtgiao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật:

Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự

một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dich bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”

Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch giả tạo, Điều 129BLDS 2005 đã phân chia giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo thành haitrường hợp:

- Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giaodịch khác:

Như vậy, ít nhất trong trường hợp này có hai giao dịch song song tồn tại

đó là giao dịch đích thực (bên trong) và giao dịch giả tạo (giao dịch che dấu,thể hiện ra bên ngoài) Ví dụ: Anh H muốn tặng cho chị P một chiếc xe máyVespa LX 125 nhưng không muốn vợ biết nên đã cùng chị P ký hợp đồngmua bán xe Ở ví dụ này có hai giao dịch cùng tồn tại, đó là giao dịch tặngcho xe (giao dịch bên trong, giao dịch đích thực) và giao dịch mua bán xe(giao dịch bên ngoài, giao dịch giả tạo)

Giao dịch giả tạo để nhằm che giấu giao dịch khác luôn luôn vô hiệu, còngiao dich đích thực (giao dịch bên trong) vẫn có hiệu lực pháp lý Tuy nhiên,nếu giao dịch đích thực cũng vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của giaodịch dân sự thì có thể vô hiệu

- Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụvới người thứ ba:

Trong trường hợp này, giao dịch dân sự được xác lập có sự tự nguyện khithể hiện ý chí, tuy nhiên sự thể hiện ý chí này lại nhằm mục đích trốn tránh

Trang 7

nghĩa vụ với một chủ thể khác Thông thường, việc trốn tránh nghĩa vụ vớingười thứ ba thường thể hiện ở hai trường hợp:

+ Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với một chủthể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đã xác giao dịch giả tạo

Ví dụ: Để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ trong một hợp đồng vay tài sản, A đã kýhợp đồng giả tạo bán nhà cho người thân của mình là B để tránh trường hợpngôi nhà đó có thể bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của A

+ Khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa vụ nhấtđịnh đối với Nhà nước nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả tạo Vídụ: A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B nhưng nhằm trốn tránh nghĩa

vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, A và B đã ký hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối(đương nhiên vô hiệu), hay nói cách khác, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

là giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giaodịch dân sự vô hiệu (Khoản 2 Điều 136 BLDS 2005)

Vụ án cụ thể: Bà Trần Thị D kiện bà Hoàng L ra tòa để tranh chấp tiền đặt

cọc mua bán nhà

Bà D cho rằng vào tháng 5/2005, bà L đã bán căn nhà ở quận Gò Vấp cho

bà D Bà D đã đặt cọc gần 400 triệu đồng Sau khi giao tiền cọc, bà D pháthiện bà L đã bán căn nhà này cho người khác Do đó, bà D kiện yêu cầu bà Lphải trả lại gần 400 triệu đồng tiền đặt cọc

Bà L bảo do bà vay tiền của người khác nhưng không trả được nên trước

đó bà đã làm hợp đồng bán căn nhà của mình cho chủ nợ Hợp đồng mua bánnhà này đã được công chứng vào tháng 11/2005 Sau đó bà D đồng ý đứng ratranh chấp nhà để bà L không bị mất nhà Vì thế, tháng 12/2005, bà và bà L

đã bán làm một bản hợp đồng mua bán nhà nhưng ghi lùi ngày vào tháng5/2005 để thể hiện bà L bán nhà cho bà D trước khi bán cho chủ nợ

Xử sơ thẩm vụ án vào tháng 5/2007, Tòa án nhân quận Gò Vấp, tuyên bốhợp đồng đặt cọc giữa bà D và bà L vô hiệu Cấp sơ thẩm bác yêu cầu của bà

D đòi bà L trả gần 400 triệu đồng tiền đặt cọc

Tháng 8/2007, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xử phúc thẩm vụ án vàcũng giải quyết theo hướng tương tự như cấp sơ thẩm Cấp phúc thẩm chorằng bà D xuất trình tại Tòa bản chính hợp đồng đặt cọc ghi lập vào tháng5/2005 Tuy nhiên, phần trên của hợp đồng này đã bị cắt mất bà L xuất trình

Trang 8

cho Tòa bản photo hợp đồng đặt cọc thì phần trên (phần mà bản chính bị cắtbỏ) có dòng chữ cho thấy hợp đồng này được fax đi từ một văn phòng luật sưvào tháng 12/2005.

Văn phòng luật sư nơi làm hợp đồng đặt cọc cho bà D lại khai làm mộtbản hợp đồng đặt cọc và fax đi ngay cho bà D vào tháng 12/2005, cứ khôngphải vào tháng 5/2005 Bà D cũng không lý giải được tại sao hợp đồng đặtcọc bà nói do hao bên tự làm lại có dòng chữ fax đi từ văn phòng luật sư Do

đó, hợp đồng đặt cọc này là giả tạo

2 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn:

Khái niệm nhầm lẫn trong giao dịch dân sự:

Theo nghĩa thông thường, nhầm lẫn được hiểu là hành vi thực hiện hoặc

nhận thức không đúng với ý định của người thực hiện hành vi hay nhận thức.Trong khoa học pháp lý, nhầm lẫn được hiểu là sự thể hiện không chính xác ýmuốn đích thực của một bên hoặc các bên trong giao dịch dân sự Hay nóitheo cách khác, ở đó không có sự thống nhất giữa ý muốn thật và ý chí bày tỏ

ra bên ngoài của chủ thể Bên cạnh đó, cũng có cách hiểu cho rằng nhầm lẫn

là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giaodịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Dù cách thể hiện ngôn từ cókhác nhau, nhưng về cơ bản, nhầm lẫn chính là sự không phù hợp giữa việcthể hiện ý chí của chủ thể với thực tế của sự việc

Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của pháp luật:

Điều 131 BLDS 2005 quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia

nhầm lẫn về nội dung của giao dich dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”.

Nhầm lẫn là việc mà các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch dân

sự mà tham gia xác lập giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Sựnhầm lẫn về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện ra rõ ràng màcăn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được Nếu bên bị nhầm lẫnchứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch đó bị tuyên bố vô hiệu.Theo Điều 131 BLDS 2005, pháp luật dân sự Việt Nam coi các nhầm lẫn

về nội dung chủ yếu của giao dịch dân sự là yếu tố đưa đến sự vô hiệu của

Trang 9

giao dịch dân sự Như vậy, các nhầm lẫn về nội dung không chủ yếu, cũngnhư những nhầm lẫn về chủ thể, nhầm lẫn về luật không được thừa nhận làyếu tố đưa đến sự vô hiệu của giao dịch.

Nếu một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giaodịch thì sẽ thuộc trường hợp vô hiệu do lừa dối

Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là giao dịch bị hạn chế về thời hiệuyêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (khoản 1 Điều 136 BLDS2005) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do nhầmlẫn là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập

Vụ án cụ thể: Vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn ông Tạ

M, bị đơn anh Nguyễn Thế V và chị Nguyễn Thị P

Qua đọc báo, ông Tạ M đến văn phòng môi giới nhà đất tại phố B gặp anhNguyễn Văn H là người của văn phòng này Anh H cho biết có quen chủ cănnhà số 18 ngách 25/77 phố M Họ đang cần bán với giá 6 tỷ đồng Sau đó,ông Tạ M được dẫn đến xem toàn bộ khuôn viên ngôi nhà trên của a NguyễnThế V và chị Nguyễn Thị P Vợ chồng anh V sẽ bán ngôi nhà cho ông X vớiđiều kiện ông X phải đặt cọc trước 700 triệu đồng vào ngày 02/10/2008 đểanh V trả nợ ngân hàng lấy sổ đỏ (do ngôi nhà đang bị thế chấp tại ngânhàng), ông M đã đồng ý Hai bên thống nhất giá chuyển nhượng nhà đất là 5,4

tỷ đồng, số tiền này được giao làm ba đợt:

- Đợt 1: Ngày 02/10/2008, bên mua giao cho bên bán 700 triệu đồng Đây

là bên mua đặt cọc và là biện pháp hai bên thực hiện hợp đồng;

- Đợt 2: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 02/10/2008, bên mua phải giaocho bên bán 4,6 tỷ đồng (Thực tế ngày 10/10/2008, ông M giao cho vợ chồnganh V 60 triệu đồng, và ngày 16/10/2008, ông M lại giao tiếp cho anh V 180triệu đồng Đây là tiền các bên thực hiện tiếp hợp đồng);

- Đợt 3: Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nhà đất, trong thời hạnnăm ngày bên mùa phải giao nốt 100 triệu đồng cho bên bán để trao giấychứng nhận cho bên mua

Theo đó, ngày 02/10/2008, ông M đã đưa cho vợ chồng anh V 700 triệuđồng để giải chấp ngôi nhà Lúc đó, anh V đã đưa cho ông xem giấy chứngnhận quyền sử dụng đất bản gốc nhưng ông chỉ chú ý tới tên chủ sở hữu chứkhông để ý tới diện tích nhà và ông đã được anh V đưa cho giữ bảnphotocopy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có công chứng vàongày 27/10/2008, qua sự thông báo của anh H, ông M mới biết được chiều

Trang 10

rộng mặt tiền của ngôi nhà thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của vợ chồnganh V là 1,69m nhỏ hơn so với chiều rộng mặt tiền của ngôi nhà trên thực tế

là 2,73m Ông M nghĩ mình đã bị lừa nên đã không tiếp tục thực hiện hợpđồng nữa Về phía anh V cho rằng đã thông báo với ông M về mặt tiền chỉrộng 1,69m và cung cấp cho ông M bản photocopy giấy chứng nhận quyền sửdụng đất trước ngày 02/10/2008, nhưng không có căn cứ pháp lý nào chứngminh Như vậy, trước ngày 02/10/2008, ông m không thể nào biết được nênông lầm tưởng toàn bộ nhà đất nguyên trạng thuộc quyền sở hữu sử dụng củaanh V Bởi lẽ, một tài sản một tài sản là nhà đất giá trị lớn mà có khoảng đấtkhông thuộc quyền sử dụng của bên bán thì nguyên tắc khi ký kết hợp đồngthì bên mua phải thông báo cho bên bán và phải được thể hiện trong hợp đồng

về chiều rộng mặt tiền để sau này tránh phiền phức cho cả hai bên, nhưng hợpđồng đặt cọc ngày 02/10/2008 lại không đề cập tới Cụ thể, tại Điều 1 của hợpđồng chỉ ghi địa chỉ, tổng diện tích theo giấy chứng nhận, diện tích nhà bốntầng và hướng của nhà đất Trong khi chiều rộng của mặt tiền thực tế hiện naykhông khớp với chiều rộng của mặt tiền nhà đất trong giấy chứng nhận

Ông M yêu cầu Tòa án buộc anh V phải trả cho ông 700 triệu đồng tiềnđặt cọc và 240 triệu đồng tiếp tục thực hiện hợp đồng vì ông xác nhận có lỗimột phần là không xem xét kỹ giấy tờ chứng nhận trong điều kiện có thể.Anh V không chấp nhận yêu cầu trên của ông M đòi lại tiền đặt cọc vì lỗi

từ ông M, còn 240 triệu đồng anh đồng ý trả lại Anh đề nghị Tòa án xử theopháp luật

Từ nhận định trên, khẳng định anh V không thông báo cho ông M biết vềthực trạng nhà đất thuộc quyền quản lý và sử dụng của anh theo giấy chứngnhận quyền sử dụng đất khi hai bên ký kết hợp đồng ngày 02/10/2008 Đâyđược coi là lỗi từ phía anh V Hơn nữa, bản photocopy chứng nhận quyền sửdụng đất mà anh V đưa cho ông M dù có tẩy xóa hay không thì không có giátrị pháp lý Tại ngân hàng, ngày 02/10/2008, tuy ông M có xem bản chínhgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chỉ được xem qua (anh H xác nhậntại tòa) vì phải đưa cho anh H đi làm thủ tục chuyển nhượng sang tên cho ông

M, ông mới nộp 700 triệu thì không được giữ giấy chứng nhận Đáng lẽ ông

M phải xem xét và quan sát kỹ giấy chứng nhận nhưng vì lúc đó ông chưađược anh v thông báo chiều rộng mặt tiền, ông chỉ chú tâm vào giấy chứng

Trang 11

nhận mang tên chủ sử dụng đất là anh V là ông yên tâm Tuy nhiên đây cũng

là thiếu sót của ông M được coi là lỗi nên phải chịu trách nhiệm một phần Như vậy, hợp đồng đặt cọc về chuyển nhượng quyền sử dụng đất khôngthực hiện được do lỗi từ hai phía Ông M không xem xét kỹ bản chính giấychứng nhận ngay từ khi ký kết, còn anh V không thông báo cho ông M biết vềđặc điểm thửa đất cần chuyển nhượng tại thời điểm ký hợp đồng Diện tích đókhông thuộc quyền sở hữu và sử dụng của anh V mà mang đi chuyển nhượng

và nhận tiền đặt cọc là có lỗi Khi ông M thông báo thì đã gần đến hạn giaotiền đợt hai nên việc ông M chậm giao tiền là không có lỗi Vài ngày sau, anh

V đến văn phòng nhà đất để lấy lại giấy chứng nhận về đồng nghĩa với việcanh V từ chối chuyển nhượng nhà đất cho ông M

Tòa sơ thẩm căn cứ vào Điều 358, 142 BLDS 2005; Điều 25, 130, 131,

244, 245 BLTTDS xử:

- Xác định hợp đồng đặt cọc tiền ngày 02/10/2008 không thực hiện được

do lỗi hỗn hợp của các bên tham gia hợp đồng là ông Tạ M và anh NguyễnThế V, chị Nguyễn Thị P

- Các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận Buộc anh V và chị P(do anh V đại diện) phải trả cho ông M số tiền 940 triệu đồng gồm 700 triệuđồng theo hợp đồng đặt cọc ngày 02/10/2008 và 240 triệu đồng tiền tiếp tụcthực hiện hợp đồng

Như vậy, ta thấy dù Tòa án xác định hợp đồng đặt cọc giữa ông Tạ M vàanh V, chị P là không thực hiện được nhưng lại xử lý hậu quả giống như khihợp đồng dân sự vô hiệu Điều đó là không hợp lý

Dựa vào nội dung vụ án có thể thấy trong vụ tranh chấp này hoàn toàn có

đủ căn cứ để có thể tuyên bố hợp đồng đặt cọc do ông M và anh V, chị P ký

bị vô hiệu Bởi lẽ, ở đây cả ông M, anh V, chị P đều bị nhầm lẫn về đối tượngcủa hợp đồng là diện tích mặt tiền (cổng vào) của ngôi nhà, còn anh V, chị Pthì nhầm lẫn về việc đã thông báo cho ông M biết hiện trạng của ngôi nhà –đối tượng hợp đồng Vì vậy, lẽ ra trong trường hợp này, Tòa án nhân dânquận B phải tuyên bố hợp đồng đặt cọc giữa ông M với anh V, chị P vô hiệu

do nhầm lẫn theo qui định tại Điều 131 BLDS 2005 Như thế mới có đủ cơ sởpháp lý để giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu trongtrường hợp này

3 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối:

3.1 Khái niệm lừa dối trong giao dịch dân sự:

Ngày đăng: 30/01/2016, 05:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w