1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích những yếu tố ảnhhưởng đến việc thực thi pháp luật thuế TTĐB ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế

16 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 123 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt TTĐB năm 2008 thay thế Luật Thuế TTĐB năm 1998 và các luật sửa dổi, bổ sung luật thuế TTĐB năm 2003 và 2005 đã khắc phục những khuyết điểm của luật cũ, khẳng

Trang 1

MỤC LỤC

A, ĐẶT VẤN ĐỀ 1

B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1

I, CƠ SỞ LÝ LUẬN 1

1, Khái niệm pháp luật Thuế TTĐB 1

2, Khái niệm thực thi pháp luật thuế TTĐB 2

3, Vai trò của hoạt động thực thi pháp luật thuế TTĐB 2

II, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ TTĐB ………3

1, Yếu tố khách quan 3

2, Yếu tố từ các cơ quan nhà nước 6

3, Yếu tố từ tâm lý người dân 11

III, Thực trạng tình trạng thực thi thuế tiêu thụ đặc biệt 12

1, Những thành tựu đạt được trong quá trình thực thi pháp luật thuế TTĐB 12

2, Những hạn chế còn tồn tại trong công tác thực thi pháp luật thuế TTĐB 13

IV, Một số ý kiến để hoàn thiện thực thi pháp luật thuế TTĐB 13

C, KẾT LUẬN 14

Trang 2

A, ĐẶT VẤN ĐỀ

Đối với bất kì quốc gia nào thì thuế cũng đóng vai trò quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu Ngân sách nhà nước Việc thực thi một chính sách thuế có hiệu quả

sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này, từ đó tạo điều kiện mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Việt Nam, theo thống kê của tổng cục thuế thì 92% Ngân sách nhà nước là thu từ thuế nên cần có chính sách thuế hoàn chỉnh, thống nhất

và hợp lý nhất

Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) năm 2008 thay thế Luật Thuế TTĐB năm

1998 và các luật sửa dổi, bổ sung luật thuế TTĐB năm 2003 và 2005 đã khắc phục những khuyết điểm của luật cũ, khẳng định được vai trò chủ yếu là tạo nguồn thu quan trọng, ổn định cho ngân sách nhà nước, góp phần khuyến khích đầu tư, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên trong quá trình thực thi luật thuế GTGT đã xuất hiện khá nhiều bất cập cần được xem xét và có phương hướng khắc

phục kịp thời Để giải quyết vấn đề này, em xin đi vào: “Phân tích những yếu tố ảnh

hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế TTĐB ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế ”.

B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I, CƠ SỞ LÝ LUẬN

1, Khái niệm pháp luật Thuế TTĐB

Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt, Thụy Điển gọi là thuế đặc biệt Đối với VN, tiền thân của thuế TTĐB hiện hành

là thuế hàng hóa được ban hành năm 1974 Luật thuế TTĐB ban hành lần đầu tiên vào năm 1990 Kể từ khi bann hành đến nay, Thuế TTĐB đã qua nhiều lần bổ sung sửa đổi cho phù hợp với chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển

Trang 3

Thuế TTĐB đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời làm tăng nguồn thu cho Ngân sách nhà nước (NSNN)

Nhìn chung, các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB thường có các tính chất sau:

- Một số hàng hóa, dịch vụ có gía bán cao Ô tô dưới 24 chỗ, tàu bay, du thuyền…)

- Hàng hóa không thiết yếu, gây lãng phí (hàng mã, vàng mã…)

- Hàng hóa có thể có hại cho sức khỏe, làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường (thuốc lá, rượu bia…)

Việc quy định các hàng hóa, dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt tùy thuộc vào chính sách điều tiết của từng nước, xuất phát từ hoàn cảnh khách quan, chính sách điều tiết, hướng dẫn sản xuất tiêu dùng của Nhà nước, trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể

2, Khái niệm thực thi pháp luật thuế TTĐB

Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp luật Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản

lý nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật Nhưng cách hiểu đó là phiến diện

và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ ai trong xã hội đều phải tuân theo Vì vậy thực thi pháp luật phải là hoạt động thực hiện và tuân theo pháp luật của tất cả mọi người

Đối với pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế TTĐB nói riêng việc thực thi pháp luật chia làm 2 nhóm: hoạt thu (quản lý thuế) và hoạt động đóng thuế Tương ứng với 2 nhóm đối tượng đó là cơ quan nhà nước (chủ thể quyền lực) và chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (chủ thể mang nghĩa vụ)

3, Vai trò của hoạt động thực thi pháp luật thuế TTĐB

Pháp luật thuế TTĐB là một trong những công cụ giúp nhà nước thực hiện chính sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa dịch

Trang 4

vụ giúp nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu mặt hàng này Vì vậy, khi thuế TTĐB không được thực thi trên thực tế thì Nhà nước không thể xác định số lượng của các mặt hàng bị đánh thuế TTĐB trên thị trường VN hiện nay, điều này sẽ dẫn tới hậu quả

là hành vi trốn thuế của các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (nhất là đối với loại thuế có mức thuế suất cao như thuế TTĐB), gây khó khăn cho chủ thể quản lý thuế

Công bằng trong xã hội là điều mà bất kỳ quốc gia hay dân tộc nào đều hướng tới Nhưng với sự phát triển kinh tế xã hội việc chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp nhân dân ngày càng cao Những người có mức sống cao thường muốn sử dụng những mặt hàng xa xỉ hơn so với mức sống của người khác như ô tô, máy bay, du thuyền…

Vì vậy thực thi pháp luật thuế TTĐB còn nhằm mục đích điều tiết thu nhập của các tầng lớp trong dân cư có thu nhập cao bằng cách áp dụng mức thuế cao đối với những mặt hàng đó Mặt khác, những mặt hàng là đối tượng chịu thuế TTĐB còn là những mặt hàng có hàng tuy không phải xa xỉ nhưng có hại cho sức khỏe của người sử dụng

và những người xung quanh nên hạn chế sử dụng như rượu, bia, thuốc lá… Với mức thuế suất cao, người tiêu dùng đôi khi phải bỏ qua hoặc hạn chế tới mức thấp nhất việc sử dụng hàng hóa chịu thuế TTĐB vì không đủ khả năng chi trả hoặc cân nhắc về giá trị mang lại và giá trị bỏ ra Như vậy, việc thực thi thuế TTĐB còn có vai trò hướng dẫn tiêu dùng hợp lý

Cũng như các loại thuế khác, thuế TTĐB tạo nguồn thu cho NSNN Việc thực thi pháp luật thuế TTĐB còn có ý nghĩa trong việc đem lại nguồn thu ổn định cho NSNN Đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

II, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ TTĐB

1, Yếu tố khách quan

1.1, Yếu tố kinh tế

Ở nước ta, thuế TTĐB được Quốc Hội khóa IX ban hành Luật Thuế TTĐB và

có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990 và đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Trong đó

Trang 5

những lần sửa đổi quan trọng vào các năm 1998, 2003 và 2005 Năm 2008, Luật thuế TTĐB (sửa đổi) được trình Quốc Hội thông qua vào tháng 11/2008, có hiệu lực thi hành từ 1/4/2009 Như vậy, nhìn chung khung pháp lý cho thuế TTĐB xuất hiện muộn hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Nói chung nền kinh tế Việt Nam phát triển muộn hơn so với nhiều nước Trước đây, khái niệm hàng hóa đặc biệt còn khá xa lạ Đối với thuế hàng hóa (được xem là tiền thân của thuế TTĐB) được quy định tại Quyết nghị 487 – NQ/QHK4 quy định còn mang tính liệt kê, những kinh doanh thiết yếu do lúc đó kinh tế Việt Nam còn mang tính bao cấp, những kinh doanh ngoài Nhà nước đều không được khuyền khích Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Nhà nước chỉ đánh thuế TTĐB vào những mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng nhằm khuyền khích phát triển kinh tế xã hội, bằng cách tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội Cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế Việt Nam các mặt hàng bị đánh thuế liên tục được điều chỉnh để phù hợp với tình hình kinh tế mới

Các yếu tố kinh tế thay đổi làm cho hành vi thực thi pháp luật thuế TTĐB cũng

thay đổi Khi các yếu tối kinh tế thay đổi sẽ có tác động tới việc thực hiện thuế TTĐB.

Ví dụ: có nhiều loại mặt hàng, dịch vụ tương tự những mặt hàng bị đánh thuế TTĐB nhưng pháp luật chưa quy định, nên các doanh nghiệp sẽ trốn thuế bằng cách áp dụng các hàng hóa, dịch vụ mới này Mặt khác, các mặt hàng được xem là xa xỉ như ô

tô dưới 24 chỗ sẽ không phải là đối tượng của thuế TTĐB khi kinh tế tăng lên, đời sống cũng như cơ sở hạn tầng ở Việt Nam ngày càng được nâng cao.

1.2, Văn hóa – giáo dục

Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới đều có pháp luật để đảm bảo trật tự xã hội Nhưng văn hóa để thực thi pháp luật ở mỗi quốc gia thì không như nhau Pháp luật nói chung và pháp luật thuế TTĐB nói riêng luôn có một hệ thống pháp chế để đảm bảo thi hành, nhưng hoạt động của các cơ quan công quyền nếu không có văn hóa, không tôn trọng pháp luật thì việc thực thi pháp luật chắc chắn không đúng Bên cạnh đó, nếu các chủ thể quyền lực này đã có văn hóa, ý thức thực thi đúng pháp luật

Trang 6

nhưng các chủ thể có nghĩa vụ không có văn hóa và ý thức tôn trọng ý thức thực thi thuế sẽ dẫn tới hành vi trốn thuế, để thu được lợi nhuận cao hơn Hành vi trốn thuế tiêu thụ đặc biệt đồng nghĩa với không thực thi thuế đối với một số mặt hàng nhất định, cơ quan có quyền lực đôi khi không thể tìm ra do nhiều nguyên nhân khác nhau

Văn hóa bắt nguồn từ việc giáo dục, giáo dục ở đây mang ý nghĩa rộng tức là giáo dục ý thức của người dân ở gia đình, nhà trường và cả xã hội Đối với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế cần giáo dục họ nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và muốn làm được điều đó thì trước hết cần giáo dục nhóm chủ thể mang quyền lực được vai trò của thuế TTĐB, giáo dục sự tôn trọng một cách thực sự chứ không phải là nỗi khiếp sợ về các chế tài xử lý

1.3, Hội nhập quốc tế

Trong xu hướng phát triển toàn cầu, Việt Nam đã gia nhập rất nhiều sân chơi chung của quốc tế Trong đó, Việt Nam ra nhập WTO (Tổ chứ thương mại thế giới) Bên cạnh những lợi ích đạt được như bình đẳng với các nước lớn hơn, được bảo vệ quyền lợi khi bị xâm phạm, việc ra nhập WTO cũng đặt ra đối với Việt Nam những thách thức và khó khăn mới trong việc thực thi pháp luật đang tồn tại Đặc biệt với thuế TTĐB, Việt Nam đã có những hoạt động cụ thể như sau:

Để thực thi việc cam kết hội nhập, việc quy định lộ trình từng bước tăng thuế đối với một số mặt hàng như ô tô sản xuất lắp ráp trong nước (2004- 2005), thuốc lá, bia hơi (2006 – 2007) có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một mặt, bảo đảm thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước với hàng nhập khẩu theo đúng các nguyên tắc của WTO Mặt khác, đã hạn chế những tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng thuốc lá, bia hơi khi phải thực hiện các cam kết hội nhập, giúp các doanh nghiệp

có thời hạn phục hồi và ổn định sản xuất, kinh doanh

Đối với mặt hàng rượu: Theo cam kết, trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập tổ chức thương mại thế giới – WTO (tức từ năm 2010), tại Việt Nam tất cả các loại rượu

Trang 7

được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở lên sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối tính theo lít rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm

Đối với mặt hàng bia: Tương tự như rượu, theo cam kết, trong vòng 3 năm kể

từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế suất phần trăm (%) chúng đối với các loại bia, không phân biệt hình thức đóng gói bao bì

Vì vậy, việc thực thi pháp luật thuế TTĐB năm 2005 không còn phù hợp nữa

Và Việt Nam đã có những điều chỉnh cần thiết để việc thực thi luật thuế TTĐB không vấp phải sự phản đối của thế giới bằng cách sửa đổi Luật thuế TTĐB năm 2008 để phù hợp với hoàn cảnh mới, đảm bảo thực thi diễn ra phù hợp trong sân chơi chung toàn thế giới

2, Yếu tố từ các cơ quan nhà nước

Dưới các tác động của kinh tế xã hội nêu trên, các cơ quan nhà nước sẽ là người quyết định phương hướng thực thi thuế TTĐB Nếu có các chủ trương và phương hướng phù hợp sẽ góp phần tích cực tới việc thực thi pháp luật thuế TTĐB trên thực tế Và ngược lại, cũng có thể làm cho việc thực thi thuế khó được thực hiện

và nếu được thực hiện cũng sẽ gặp phải sự phản đối lớn trong xã hội, dẫn tới việc không thực thi được hoặc thực thi không đúng, không đủ

2.1, Chính sách

2.1.1, Đối tượng chịu thuế

Danh mục các hàng hóa là đối tượng áp dụng thuế TTĐB 2005 ở Việt Nam chỉ đánh vào 8 nhóm hàng hóa và 5 nhóm dịch vụ Con số này ít hơn một số nước trong khu vực như: Ở Thái Lan, thuế TTĐB đánh vào 15 nhóm hàng, ở Indonesia áp dụng cho 37 nhóm hàng Như vậy, nhìn vào phương diện số mặt hàng thì việc thực thi thuế TTĐB của Việt Nam có vẻ đơn giản hơn Nhưng trong quá trình thực thi, tổng kết của chính phủ việc thực hiện luật thuế TTĐB 2005 cho thấy đã tồn tại nhiều bất cập dân

xđến việc khó thực thi và bỏ sót nhiều mặt hàng Ví dụ: Tàu bay, du thuyền vì giá trị

của nó lớn hơn ô tô mà lại khoogn bị đánh thuế gây tâm lý ức chế cho những người mua ô tô Hay cùng là máy chơi điện tử Jackpot thuộc đối tượng chịu thuế TĐB.

Trang 8

Nhưng trong thực tế, ngoài chủng loại máy Jockpot còn có các loại máy slot machines khác cũng đang được sử dụng cho các trò chơi điện tử có thưởng Vì vậy nếu chỉ quy định máy Jackpot thuộc đối tượng chịu thuế thì không bao quát được tất

cả các loại trò chơi điện tử có thưởng khác Điều này sẽ dẫn tới việc khi thực thi các doanh nghiệp kinh doanh trò chơi điện tử sẽ sử dụng máy slot nhằm không phải nộp thuế TTĐB

Vì vậy, luật thuế TTĐB 2008 đã quy định thêm một số mặt hàng là đối tượng

áp thuế TTĐB Bao gồm 10 nhóm hàng hóa và 5 nhóm dịch vụ Cụ thể như sau:

- Đối với hàng hóa:

a, Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm;

b, Rượu

c, Bia;

d, Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng;

đ, Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3;

e, Tàu bay, du thuyền;

g, Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng;

h, Điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống;

i, Bài lá

k, Vàng mã, hàng mã

- Đối với dịch vụ:

a, Kinh doanh vũ trường

b, Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke);

c, Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót (Jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự;

Trang 9

d, Kinh doanh đặt cược;

đ, Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;

e, Kinh doanh xổ số

2.1.2, Thuế suất

Thuế suất đối với các hàng hóa bị áp dụng thuế TTĐB là cao từ 10-70% Trong

đó mặt hàng bị đánh thuế cao nhất là vàng mã, hàng mã 70% Trước đây mức thuế suất cao nhất 100% năm 1998, 80% năm 2003, 75% năm 2005 Như vậy, mức thuế suất thuế TTĐB đang giảm dần, điều này góp phần quan trọng trong việc thực thi trong thực tế Một mặt nó phù hợp với xu hướng hội nhập thế giới của Việt Nam Mặt khác, nhận được ủng hộ của các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài dẫn đến việc luật được tôn trọng hơn và ý thức tuân theo pháp luật thuế TTĐB, giúp việc thực thi thuế TTĐB diễn ra nhanh chóng và hạn chế được hành vi trốn thuế Nhưng mức thuế suất vẫn phải đảm bảo được mục đích hướng dẫn tiêu dùng mà Nhà nước đã

đề ra Cân bằng lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân

2.1.3, Phương pháp tính thuế

Phương pháp tính thuế TTĐB 2008 được quy định tại Điều 6 Luật thuế TTĐB:

“6 Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho

là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.

Gía tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này bao gồm cả khoản thu thêm, được thu (nếu có) mà cơ sỏ kinh doanh được hưởng.

Gía tính thuế được tính bằng Đồng Việt Nam Trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.

Chính Phủ quy định cụ thể Điều này”

Nghị định 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB quy định chi tiết việc tính thuế TTĐB như sau:

Trang 10

“1, Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như sau:

Gía bán chưa có thuế giá trị gia tăng Gía tính thuế tiêu thụ đặc biệt =

1+ thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt Trong đó, giá bán chưa có thuế GTGT được xác định theo quy định của pháp luật về thuế GTGT

2, Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như sau:

Gía tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Gía tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập khẩu

3, Đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá tính thuế không loại trừ giá trị vở bao bì, vỏ chai

4, Đối với hàng hóa gia công thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán hàng hóa của cơ sở gia công bán ra hoặc giá bán của sản phẩm cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm bán.

5, Đối với hàng hóa sản xuất dưới hình thức hợp tác kinh doanh giữa cơ sở sản xuất và cơ sở sở hữu thương hiệu (nhãn hiệu) hàng hóa, công nghệ sản xuất thì giá bán tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán ra của cơ sở sở hữu thương hiệu hàng hóa, công nghệ sản xuất.

6, Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán của hàng hóa bán theo phương thức trả tiền một lần, không bao gồm khoản lãi trả gớp, lãi trả chậm.

7, Đối với dịch vụ, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá cung ứng dịch vụ của

cơ sở kinh doanh dịch vụ bán ra

8, Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho, khuyến mại giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh hoạt động trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, khuyến mại các hàng hóa, dịch vụ này.

Ngày đăng: 30/01/2016, 05:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w