1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thừa kế theo bộ luật dân sự ở việt nam năm 2005

17 273 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ CHƯƠNG 22 – Điều 631 đến Điều 645, - Bộ luật dân sự  Quyền thừa kế của cá nhân Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để

Trang 1

MỤC LỤC

trang

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 6

CHƯƠNG II CÁC KHÁI NIỆM 9

CHƯƠNG III THỪA KẾ THEO DI CHÚC 9

CHƯƠNG IV THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 11

CHƯƠNG V NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN 12

CHƯƠNG VI THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ 12

CHƯƠNG VII KẾT LUẬN 17

CHƯƠNG VIII CÁC TÌNH HUỐNG MINH HỌA 18

CHƯƠNG IX CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU :

 Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm,theo dõi và bảo hộ Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác Do đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục, tập quán,tình cảm cha con, vợ chồng, anh em gắn bó keo sơn đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại thừa kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc Bên cạnh đó có những người đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di chúc này không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật phân xử hộ (đưa ra tòa) làm giảm sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có Chính vì vậy phần lớn các vụ việc thừa kế ở Việt Nam được giải quyết theo qui định của pháp luật

 Việt Nam đang trên bước đường hội nhập toàn cầu Tầm quan trọng của pháp luật ngày càng nâng cao Do đó nhu cầu nghiên cứu, sửa đổi luật pháp cho phù hợp với tình hình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu cầu cần thiết.Và theo em phương pháp nghiên cứu, sửa đổi, bổ xung tốt nhất cho pháp luật Việt Nam chính

là nghiên cứu, so sánh pháp luật Việt nam với pháp luật các nước trên thế giới để tìm ra những yếu tố đặc sắc, phù hợp để áp dụng vào thực tiễn nước ta

 Từ hai lí do trên nhóm em quyết định nghiên cứu vấn đề thừa kế theo bộ luật dân

sự ở việt nam nhưng vì thời gian, trình độ và tài liệu còn hạn chế nên em chỉ có thể nghiên cứu một phần trong “ vấn thừa kế theo bộ luật dân sự ở việt nam năm

2005 “

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ ( CHƯƠNG 22 – Điều 631 đến Điều 645, - Bộ luật dân sự )

 Quyền thừa kế của cá nhân

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật

 Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật

Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Toà

án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này

 Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản

 Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác

 Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra

và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

 Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Trang 4

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm

vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác

 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế

 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác

 Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân

 Người quản lý di sản

 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra

 Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản

 Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý

 Nghĩa vụ của người quản lý di sản

 Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 638 của Bộ luật này

có các nghĩa vụ sau đây:

- Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng

ý bằng văn bản;

- Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

- Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

- Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế

 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 638 của Bộ luật này có các nghĩa vụ sau đây:

- Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác;

- Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

- Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

Trang 5

- Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế

 Quyền của người quản lý di sản

 Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 638 của Bộ luật này

có các quyền sau đây:

- Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;

- Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế

 Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 638 của Bộ luật này có các quyền sau đây:

- Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;

- Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế

 Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm

 Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật này

 Các nguyên tắc cơ bản của thừa kế:

 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế:

Pháp luật thừa kế luôn tôn trọng ý chí của những người tham gia trong quan hệ thừa kế.Nếu như người để lại di sản mà có để lại di chúc thì việc phân chia di sản theo di chúc bao giờ cũng được ưu tiên giải quyết trước, phần tài sản chia cho những người thừa kế cũng tùy thuộc vào di chúc mà người chết để lại Đó chính

là sự tôn trọng ý trí của người để lại di sản.Và ngược lại, những người thừa kế có quyền đồng ý nhận toàn bộ di sản được thừa hưởng hoặc chỉ nhận một phần hoặc khước từ việc thừa hưởng di sản từ người chết đó là sự tôn trọng ý chí của người thừa kế

 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về quyền thừa kế:

Theo điều 632 Bộ luật dân sự -2005:"Mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật".Theo điều luật này thì mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình cho người khác và mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng trong việc thừa hưởng tài sản theo di chúc tức là bất kì cá nhân nào dũng được phép nhận tài sản theo ý chí của người chết Còn sự bình đẳng trong việc hưởng di sản là tất cá những người thừa kế theo qui định của pháp luật đều có quyền hưởng phần tài sản bằng nhau

Trang 6

 Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế:

Điều 635-BLDS 2005 đã qui định " Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế " Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản giữa người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản đương nhiên phải là người còn sống.Việc dịch chuyển di sản từ người chết này sang người chết khác là không thực hiện được.Tiếp đó là việc người còn sống đó phải còn sống ở thời điểm mở thừa kế.Có thể người thừa kế đã chết nhưng khi mở thừa kế thì ông ta còn sống hoặc đã chết hay mất tích nhưng chưa bị tuyên bố là đã chết hoặc ngày tuyên bố nguời đó chết là sau ngày mở thừa kế, khi đó ông ta việc chuyển giao di sản cho ông ta vẫn được thực hiện và nó sẽ được tính vào tài sản của người đó

CHƯƠNG II CÁC KHÁI NIỆM

I Khái niệm quyền Thừa Kế:( chương 22-điều 631-645 Bộ luật dân sự )

- Quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo trình tự do pháp luật quy định

II Di Sản Thừa Kế: (Theo khoản 1 điều 637- bộ luật Dân Sự )

 Di sản thừa kế bao gồm: tài sản riêng, phần tài sản cảu ngưòi chết trong tài sản chung với người khác, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế

 Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tên lúc còn sống Tài sản chung với ngưòi khác là phần tài sản do lúc còn sống ngưòi chết đã đồng tao ra cùng chung với một người khác, thì lúc chết phần tài sản đó cũng được đua vào di sản của ngưòi chết

CHƯƠNG III THỪA KẾ THEO DI CHÚC (Chương 22 – Điều 646 đến Điều 673 – Bộ luật dân sự )

 Di sản của người đã chết được chuyển cho những người thừa kế theo di chúc người chết để lại Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình

Trang 7

cho người khác sau khi chết Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập

di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

 Người lập di chúc có các quyền: chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản; chỉ định người giữ di chúc, người quản lí di sản, người phân chia di sản

 Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản, thì có thể di chúc miệng Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản, miệng thì có thể di chúc miệng Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Sau 3 tháng, kể từ thời điểm lập di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc miệng bị huỷ bỏ

 Di chúc được coi là hợp pháp nếu:

 Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép

 Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật Nội dung của di chúc được quy định tại điều 656 Bộ luật dân sự Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, thì

có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và

kí vào bản di chúc Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận hoặc uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản di chúc Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế

 Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc, thì coi như không có di chúc và di sản được thừa kế theo pháp luật

Trang 8

CHƯƠNG IV THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT ( Chương 24 – Điều 674 đến Điều 680 – Bộ luật dân sự )

I Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp

- Người chết không để lại di chúc

- Di chúc không hợp pháp

- Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người lập di chúc; cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế

- Những người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối hưởng quyền di sản

II Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản

- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc

- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực

- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế

III Những người thừa kế theo pháp luật (hàng thừa kế) được qui định thứ tự như sau

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di chúc bằng nhau

 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa

kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

- Thừa kế thế vị pháp luật quy định: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần

di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước

Trang 9

hoặc cùng thời diểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

-CHƯƠNG V NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYÊN HƯỞNG DI SẢN

( Chương 22 – Điều 643 – Bộ luật dân sự )

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh

dự, nhân phẩm của người đó

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản

 Những người này vẫn được hưởng di sản thừa kế nếu người để lại di sản đã biết các hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc

 Tài sản không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế sẽ thuộc Nhà nước

CHƯƠNG VI THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

I Nhiều quy định pháp luật còn mâu thuẫn

1 Thực trạng

Hiện nay, trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xảy ra tình trạng các luật quy định một nội dung giống nhau nhưng lại không thống nhất với nhau Việc không thống nhất giữa quy định của pháp luật dẫn đến khó khăn khi vận dụng vào thực tiễn

Trang 10

Ví dụ :

Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ sự quy định về hình thức di chúc miệng như sau:” trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa di bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng Và: di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng”

Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì di chúc miệng chỉ được lập trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là tính mạng của người để lại di chúc bị đe dọa, được hiểu

là người di chúc không còn khả năng hoặc không thể lập di chúc bằng văn bản Và nếu sau một thời gian, do pháp luật quy định mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn sáng suốt thì di chúc miệng đó mặc nhiên vô hiệu Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận tính hợp pháp di chúc miệng với những điều kiện hết sức chặt chẽ Tuy nhiên, với những quy định hiện hành thì di chúc miệng có còn là một loại hình di chúc hợp pháp nữa hay S và việc để lại di chúc miệng có thể thực hiện được không? Nhưng pháp luật dân sự đã quy

định, trường hợp để lại di chúc miệng là phải trước mặt hai người làm chứng và những lời di chúc đó sẽ được ghi chép lại và công chứng trong thời hạn năm ngày, sau thời hạn

này di chúc mới được coi là hợp pháp

Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29.11.2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007 quy định rất cụ thể về thủ tục công chứng Điều 48 Luật công chứng có quy định về công chứng di chúc người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác công chứng di chúc… Quy định này của Luật công chứng chỉ đúng với trường hợp thực hiện công chứng đối với di chúc được lập thành văn bản Còn đối với di chúc miệng thì người di chúc đã trong hoàn cảnh đặc biệt bị cái chết

đe dọa thì không thể tự mình yêu cầu công chứng được Nếu buộc người lập di chúc phải

tự mình yêu cầu công chứng di chúc thì không còn tồn tại loại hình di chúc miệng nữa

Vì, nếu người để lại di chúc miệng có thể tự mình yêu cầu công chứng thì trong mọi trường hợp ý chí đó sẽ được công chứng viên ghi chép lại, có nghĩa là đều được thể hiện bằng văn bản, và thực hiện công chứng đối với văn bản được thành lập theo cách như vậy

Như vậy, có thể thấy rằng với quy định trên, Luật Công chứng đã phủ nhận hoàn toàn tính hợp pháp của loại hình di chúc miệng và, với quy định đó thì chỉ tồn tại duy nhất một loại hình di chúc, đó là di chúc bằng văn bản

2 Kiến nghị

Từ những phân tích trên cho thấy, giữa các luật quy định về cùng một nội dung đã xảy

ra những sự mâu thuẫn với nhau Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn đến tình trạng vô hiệu hóa các quy định pháp luật trong các luật khác nhau, gây ra tình trạng khó áp dụng trong

thực tiễn những quy định của pháp luật Đây là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng trong

quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính thống nhất và đồng

Ngày đăng: 30/01/2016, 05:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w