Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án trước hết được xác định theo các điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên; trong trường hợp không có điề
Trang 1GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A Tìm hiểu chung về thẩm quyền của tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài.
I Khái quát về tố tụng dân sự quốc tế
1.Khái niệm
2 Nguyên tắc khi tham gia tố tụng dân sự quốc tế
2.1 Nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng chủ quyền quốc gia
2.2 Nguyên tắc có đi có lại
2.3 Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trong quan hệ tố tụng
Trang 22.4 Nguyên tắc luật tòa án
II Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế và các quy tắc xác định thẩm quyền chung
1.Khái niệm
2 Căn cứ xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia theo PL các nước 2.1 Dấu hiệu quốc tịch
2.2 Dấu hiệu nơi cư trú
2.3 Dấu hiệu nơi hiện diện của bị đơn hay nơi có tài sản của bị đơn
2.4 Dấu hiệu về mối liên hệ của vụ việc đối với lãnh thổ của quốc gia có tòa án2.5 Dấu hiệu về khả năng thực tế trao cho bị đơn lệnh gọi ra tòa án (writ)
2.6 Dấu hiệu theo sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng
2.7 Dấu hiệu theo nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại
B Cơ chế tác động của việc xác định thẩm quyền đối với việc xác định luật áp dụng.
C Xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam.
I Theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
II Theo pháp luật Việt Nam
1.Thẩm quyền chung quy định tại Điều 410 luật Tố tụng dân sự 2004
2 Thẩm quyền riêng qui định tại Khoản 2, Điều 411 Luật Tố tụng dân sự 2004
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế thìcác vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra ngày càng tăng, kéo theo đó là cáctranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài cũng nhiều hơn Khi một tranh chấp dân sự
có yếu tố nước ngoài được khởi kiện tại Tòa án của một quốc gia, vấn đề đầu tiên
là Tòa án phải xác định xem mình có thẩm quyền thụ lý giải quyết hay không? Và
sẽ áp dụng cơ chế pháp luật nào? Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án trước hết được xác định theo các điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên; trong trường hợp không có điều ước quốc tếđiều chỉnh thì xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Tốtụng dân sự 2004 có những quy định về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam tronggiải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A.Tìm hiểu chung về thẩm quyền của tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài.
Trong quan hệ dân sự quốc tế, tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi Với
xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ hợptác quốc tế về các lĩnh vực đầu tư, thương mại, kinh tế, dân sự, lao động… các vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài có xu hướng ngày càng tăng
Khi một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh thì tòa án của hai haynhiều nước khác nhau có liên quan đến vụ việc đều có thể có thẩm quyền giảiquyết Điều này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Do đó nếu tranh chấp liên quan đến công dân, pháp nhân mang quốc tịch nướcmình , hoặc cư trú tại nước mình, hay liên quan đến tài sản có trên lãnh thổ quốcgia mình … thì tòa án quốc gia đó có thẩm quyền giải quyết Ví dụ: Tranh chấpphát sinh từ một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa hai doanh nghiệp của
VN và Pháp, nguyên đơn có thể khởi kiện tại tòa án của VN hoặc Pháp Vì tòa áncủa cả VN (trong trường hợp này, tòa án VN có thẩm quyền theo mục g, khoản 2,Điều 410, BL TTDS 2004) và Pháp (tòa án Pháp có thẩm quyền theo Điều 14 vàĐiều 15, Bộ luật dân sự Pháp) đều có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên
Trang 5Do tòa án của các nước có liên quan đều có thể có thẩm quyền giải quyết tranhchấp dân sự có yếu tố nước ngoài nên việc nguyên đơn lựa chọn tòa án có ý nghĩaquan trong trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bởi lẽ quy tắcgiải quyết xung đột ở các nước khác nhau dẫn đến việc lựa chọn hệ thống PL để ápdụng là khác nhau.
Pháp luật của tất cả các quốc gia đều quy định cụ thể các căn cứ xác định thẩmquyền của tòa án nước mình đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Ngoàicác quy định về thẩm quyền chung, PL các nước còn quy định về các vụ việc dân
sự cụ thể thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án nước mình Bên cạnh PL quốcgia, một số điều ước quốc tế cũng được kí kết nhằm quy định các căn cứ xác địnhthẩm quyền tòa án của các nước thành viên đối với các vụ việc dân sự
Việc xác định tòa án quốc gia có thẩm quyền giải quyết một vụ việc dân sự cóyếu tố nước ngoài và việc xác định được luật áp dụng đóng một vai trò hết sứcquan trọng, là điều kiện tiên quyết để thực hiện những hành vi tố tụng tiếp theo.Việc xác định đúng thẩm quyền của tòa án trong trường hợp này không chỉ có ýnghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong việc đảm bảothi hành án và kết quả giải quyết tranh chấp mà còn bảo vệ chủ quyền quốc gia,thúc đẩy sự phát triển bền vững các quan hệ quốc tế Sau khi đã xác định được vụviệc đó thuộc thẩm quyền của tòa án nước mình thì tòa án nhận đơn kiện mới xemxét tiếp vụ việc đó có thuộc thẩm quyền của mình hay không (thẩm quyền theo vụviệc, theo cấp, theo lãnh thổ )
I Khái quát về tố tụng dân sự quốc tế:
Trang 6chương này không có quy định thì được áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.
2.Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.” 1
Vụ viêc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể là các vụ việc phát sinh từ quan hệpháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động có yếu
tố nước ngoài do tòa án giải quyết
Những trình tự thủ tục tố tụng trong tố tụng dân sự quốc tế luôn diễn ra trongtòa án của quốc gia và các tòa án quốc tế chỉ giải quyết các quan hệ quốc tế giữacác quốc gia Những trình tự thủ tục tố tụng trong tố tụng dân sự quốc tế được quyđịnh trước hết trong pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia và trong các điều ước quốc
tế Hoạt động tố tụng dân sự quốc tế luôn được diễn ra trong những khuôn khổpháp lý nhất định để đảm bảo không xâm hại đến lợi ích của quốc gia liên quan (làchủ thể đặc biệt được pháp luật quốc tế bảo vệ, tôn trọng chủ quyền)
2 Nguyên tắc khi tham gia tố tụng dân sự quốc tế :
Khi tham gia qua hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cần phải tôn trọng các nguyêntắc sau:
2.1 Nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng chủ quyền quốc gia:
Chủ quyền quốc gia là tuyệt đối, không thể bị xâm hại hay phân biệt nếu khônghoạt động tố tụng dân sự quốc tế đó sẽ bị xem là hành vi vi phạm pháp luật quốc
tế Không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác Tôn trọng và bìnhđẳng chủ quyền quốc gia là công việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của quốc giatrong lĩnh vực đối nội, đối ngoại như: quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp, tự chủ
tự quyết trong đường lối đối ngoại
1 Bộ luật tố tụng dân sự, số 24/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004, Điều 405, Chương34
Trang 72.2 Nguyên tắc có đi có lại:
Quy định về cách thức hành xử của quốc gia trên cơ sở tương ứng với cách thứchành xử của quốc gia khác Tố tụng dân sự quốc tế bao gồm nhiều hoạt động tốtụng: ủy thác tư pháp quốc tế, thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài v.v ảnhhưởng trực tiếp đến tính khả thi, hiệu quả của hoạt động tố tụng, khả năng đạt đượckết quả cuối cùng
2.3 Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trong quan hệ tố tụng:
Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động tố tụng dân sự, cho dùquan hệ có yếu tố nước ngoài hay không nhằm đảm bảo sự bình đẳng về địa vịpháp lý, quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự Nếu không thì nguyên tắc tôn trọngpháp chế của hoạt động tố tụng bị phá vỡ làm cho phán quyết không có giá trị pháp
lý và không được các quốc gia thừa nhận
2.4 Nguyên tắc luật tòa án:
Khi tòa án của quốc gia thụ lý giải quyết vụ việc thì hệ thống pháp luật tố tụngcủa quốc gia đó sẽ được áp dụng do trình tự thủ tục tố tụng được các cơ quan tưpháp thực hiện nhằm thực thi quyền tư pháp của quốc gia: là việc cụ thể hóa chủquyền quốc gia Nếu áp dụng thủ tục tố tụng nước ngoài sẽ có thể làm xâm hại ảnhhưởng đến chủ quyền của quốc gia
II Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế và các quy tắc xác định thẩm quyền chung:
1.Khái niệm:
- Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế (không đương nhiên liên quan đến quyền lực,
cùng với việc được nhà nước trao cho quyền lực thì cũng là trách nhiệm nghĩa vụràng buộc kèm theo không có quyền từ chối xét xử) là khả năng của pháp luật cácquốc gia qui định cho tòa án của mình có trách nhiệm và nghĩa vụ xét xử các vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài
Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế trước hết được qui định trong pháp luật tốtụng của các quốc gia Tuy nhiên mỗi quốc gia lại có những quy định riêng và có
thể có những xung đột về thẩm quyền xét xử “Xung đột thẩm quyền xét xử là hiện
Trang 8tượng có hai hay nhiều cơ quan tư pháp của các quốc gia khác nhau cùng có thẩm quyền giải quyết đối với một vụ việc dân sự cụ thể.” 2
2 Căn cứ xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc gia theo PL các nước:
Là các cách thức các quốc gia đưa ra để giải quyết hiện tượng xung đột thẩmquyền xét xử, và phải thể hiện được mối liên hệ giữa nội dung vụ việc và tòa ánquốc gia thông qua các dấu hiệu sau đây:
2.1 Dấu hiệu quốc tịch:
Cách thức xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia trong việc giải quyết các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài dựa trên dấu hiệu quốc tịch của đương sự đólà: đương sự mang quốc tịch của quốc gia nào thì tòa án của quốc gia đó có thẩmquyền giải quyết, xuất phát từ quyền tài phán đương nhiên của quốc gia đối vớicông dân của mình Cũng có thể xác định theo nguyên đơn, bị đơn hay quốc tịchchung (trong quan hệ hôn nhân gia đình) của các bên nên có thể có hai tòa án cóthẩm quyền
Một số điểm cần lưu ý: Nếu đương sự không có quốc tịch thì không áp dụngquy tắc này; Nếu đương sự có nhiều quốc tịch thì tất cả các tòa án có quốc tịch đều
có thẩm quyền xác định theo nơi đương sự khởi kiện
Việc xác định thẩm quyền theo quy tắc quốc tịch được áp dụng phổ biến trênthế giới, nhằm xác định thẩm quyền của tòa án trong các vụ việc có yếu tố nướcngoài Đây là nguyên tắc riêng đặc thù của tư pháp quốc tế, thường được áp dụngnhằm xác định thẩm quyền của tòa án trong các vụ việc liên quan đến các dấu hiệunhân thân
2.2 Dấu hiệu nơi cư trú:
Cách thức xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia trong việc giải quyết các vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài dựa trên dấu hiệu nơi cư trú của đương sự là:Đương sự cư trú ở đâu thì tòa án ở đó có thẩm quyền giải quyết Chủ yếu là xácđịnh theo nơi cư trú của bị đơn Nguyên tắc này được áp dụng phổ biến trong phápluật trong nước nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi quá trình tố
2 Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb.ĐHQGHN, Hà Nội, 2005, tr.338.
Trang 9tụng cũng như khả năng thi hành của bản án Tuy nhiên trong một số trường hợp cábiệt, có thể áp dụng dấu hiệu nơi cư trú của nguyên đơn khi bảo vệ khẩn cấp quyềnlợi của nguyên đơn Với điều kiện đó phải là nơi cư trú ổn định, hợp pháp và cóđầy đủ cơ sở để xác minh Nếu đương sự không có nơi cư trú thì không thể ápdụng được Nếu có nhiều nơi cư trú thì xác định theo nơi nguyên đơn khởi kiện.Đối với các vụ việc phát sinh từ quan hệ thương mại quốc tế, quy tắc này thườngđược áp dụng.
2.3.Dấu hiệu nơi hiện diện của bị đơn hay nơi có tài sản của bị đơn:
Cách thức xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia trong việc giải quyết các vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài dựa trên dựa trên dấu hiệu nơi tài sản đang tranhchấp tồn tại (thường là bất động sản) Áp dụng cho các vụ việc liên quan đến tàisản: tranh chấp về tài sản trong thừa kế, trong hôn nhân, trong ly hôn Tại một sốnước như Đức và các nước thuộc hệ thống Common Law, đây là căn cứ cơ bảnđược áp dụng để xác định thẩm quyền của tòa án Căn cứ này cho phép nguyênđơn có quyền yêu cầu tòa án của bất kì quốc gia nào thụ lý vụ việc, nếu bị đơn cótài sản ở nước đó
Cách thức xác định thẩm quyền xét xử của tòa án theo nơi hiện diện của bị đơntại thời điểm phát sinh quan hệ tố tụng giúp các cơ quan có thẩm quyền thực hiệncác biện pháp tài phán nhanh chóng kịp thời và ngăn ngừa trường hợp bị đơn trốnkhỏi nơi vi phạm Dấu hiện nơi hiện diện của bị đơn thường không trùng với dấuhiệu nơi cư trú Cách thức xác định thẩm quyền xét xử của tòa án theo nơi bị đơn
có toàn bộ hay phần lớn tài sản đảm bảo cho việc thực hiện quá trình tố tụng vàviệc thi hành án Cần lưu ý rằng, tài sản ở đây không đương nhiên là tài sản đang
bị tranh chấp Tài sản đó phải đạt được mức độ giá trị nào đó so với nội dung tranhchấp thì mới đủ cơ sở để xác lập thẩm quyền xét xử thường là bất động sản
2.4 Dấu hiệu về mối liên hệ của vụ việc đối với lãnh thổ của quốc gia có tòa án: Cách thức xác định thẩm quyền xét xử của tòa án theo mối liên hệ mật thiếtgiữa các bên đương sự với quốc gia có tòa án giải quyết hay giữa nội dung vụ việcvới quốc gia có tòa án giải quyết Mối liên hệ này rất phong phú đa dạng Ví dụ,Mối liên hệ trong quan hệ hợp đồng là nơi ký hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng,nơi đặt trụ sở của nguyên đơn, bị đơn… Dấu hiệu này có thể được sử dụng một
Trang 10cách độc lập để xác định thẩm quyền xét xử của tòa án, nhưng cũng có thể sử dụngnhư là dấu hiệu bổ sung cho các dấu hiệu khác Các quốc gia có thể sử dụng kếthợp các dấu hiệu trong những trường hợp cần thiết.
2.5 Dấu hiệu về khả năng thực tế trao cho bị đơn lệnh gọi ra tòa án (writ):
Căn cứ này được sử dụng rộng rãi ở các nước theo hệ thống Common Law.Theo đó, lệnh gọi ra tòa án có thể được trao cho bị đơn khi bị đơn có mặt tại lãnhthổ quốc gia có tòa án thì tòa án quốc gia đó có thẩm quyền cho dù bị đơn chỉ lưutrú ngắn ngày tại nước đó và tranh chấp không liên quan với nước có tòa án
2.6 Dấu hiệu theo sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng:
Căn cứ này được thừa nhận và sử dụng trong quan hệ thương mại quốc tế Ví
dụ, ở Anh tòa án tư pháp có thẩm quyền đối với những vụ việc dân sự nếu các bênđương sự thỏa thuận đưa ra tòa án Anh để giải quyết, dù không hề tồn tại bất kìmột mối liên hệ nào giữa vụ việc với bản thân nước Anh
2.7 Dấu hiệu theo nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại
Đây là căn cứ được áp dụng phổ biến cho các vụ kiện về bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng
Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật các nước đều đưa ra những căn cứ để xácđịnh thẩm quyền tòa án của quốc gia đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài Khi đưa ra những căn cứ này, PL các nước đều cố gắng mở rộng khả năng
để tòa án nước mình có thẩm quyền giải quyết nếu các vụ việc đó có một yếu tốnào đó có quan hệ đến quốc gia mình
Trang 11- Tòa án Việt Nam nên giải quyết những vụ việc có liên quan đến hoạt động ởViệt Nam của chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam của cơ quan, tổ chứcnước ngoài; còn những trường hợp khác, Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền.Chỉ có trong quá trình hoạt động, các quyền và nghĩa vụ liên quan đến chức năngcủa cơ quan, tổ chức mới phát sinh và cũng chỉ khi tiến hành các hoạt động tại ViệtNam hoặc có liên quan đến Việt Nam thì mới có cơ sở và điều kiện để Tòa án ViệtNam giải quyết các tranh chấp có liên quan.
- Trong điều kiện toàn cầu hóa như hiện nay, bất kỳ quốc gia nào khi xây dựng hệthống pháp luật của quốc gia đều phải xem xét đến các chuẩn mực pháp lý chungcủa thế giới hoặc các điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết hoặc tham gia
Một phần quan trọng các quy phạm pháp luật của tư pháp quốc tế chứa đựngtrong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương được ký kết giữa cácquốc gia Nếu có sự khác biệt giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia thì quyđịnh của điều ước quốc tế luôn được ưu tiên áp dụng Chính vì vậy, việc ban hànhcác quy định pháp luật quốc gia tương thích, phù hợp với nội dung của các điềuước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc tham gia là một yêu cầu quan trọng trongquá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam khi
hệ thống pháp luật cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạnhình thành và phát triển Từ đó, góp phần hạn chế sự khác biệt giữa hệ thống phápluật Việt Nam với các cam kết quốc tế của Việt Nam thể hiện trong các điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam được hiểu và áp dụng chínhxác, thống nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án trong việc lựa chọn pháp luật
áp dụng Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theohướng sau: “Vụ việc dân sự về quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi,chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài, nhưngcác đương sự đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam và nguyên đơn hoặc bịđơn là cơ quan, tổ chức Việt Nam có trụ sở chính tại Việt Nam, công dân ViệtNam có nơi cư trú tại Việt Nam” thì tòa án VN có thẩm quyền giải quyết.(Điểm đ,khoản 2, Điều 410, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004)
- Cũng có trường hợp pháp luật tố tụng dân sự của các quốc gia có đưa ra các tiêuchí khác nhau khi xác định thẩm quyền của tòa án nước mình đối với một vụ việc.Chẳng hạn, với một tranh chấp về ly hôn có yếu tố nước ngoài mà pháp luật quốcgia A lấy tiêu chí quốc tịch các bên còn quốc gia B thì lấy tiêu chí nơi thường trúchung của vợ chồng để xác định thẩm quyền xét xử Khi đó, một vụ việc ly hôn có
sự tham gia của công dân nước A nhưng cả hai vợ chồng lại thường trú chung ởnước B hoàn toàn có thể được xét xử ở cả quốc gia A và quốc gia B, cũng có nghĩa
là có thể có hai bản án của tòa án hai nước về cùng một vụ ly hôn