1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu về nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước theo Luật ngân sách nhà nước và thực tiễn áp dụng

17 560 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 47,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, xét về phương diện pháp lý, khái niệm ngân sách nhà nước được đề cập tại Điều 1 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của N

Trang 1

MỤC LỤC:

A Giới thiệu vấn đề: 2

B Giải quyết vấn đề: 3

I NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC 3

1 Ngân sách nhà nước 3

2 Cân đối ngân sách nhà nước: 6

II NGUYÊN TẮC CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT NGÂN SÁCH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 8

1 Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước 8

2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân

sách nhà nước 14

C Kết thúc vấn đề: 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

Đề bài: Tìm hiểu về nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước theo Luật ngân sách nhà nước và thực tiễn áp dụng.

A Giới thiệu vấn đề:

Trong hoạt động của mỗi một nhà nước, ngân sách nhà nước chính là một công cụ, phương tiện quan trọng nhất cho nhà nước thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế và quản lý xã hội Muốn thực hiện tốt các nhiệm

vụ, chức năng đó, nhà nước luôn phải đảm bảo xây dựng được một hệ thống ngân sách bền vững và cân đối Bài viết sau đây đi tìm hiểu nguyên tắc cân đối trong hoạt động ngân sách nhà nước theo Luật ngân sách nhà nước và thực tiễn

áp dụng nguyên tắc trong hoạt động ngân sách nhà nước

B Giải quyết vấn đề:

I NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC.

1 Ngân sách nhà nước.

a Khái niệm ngân sách nhà nước.

Thứ nhất, về phương diện kinh tế, ngân sách nhà nước được hiểu là bảng

dự toán về các khoản thu và các khoản chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện trong một khoảng thời hạn nhất định, thường là một năm

Thứ hai, xét về phương diện pháp lý, khái niệm ngân sách nhà nước được đề

cập tại Điều 1 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 như sau: “Ngân sách nhà

nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và được thực hiện trong một năm

để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Trên phương

diện pháp lý này, ngân sách nhà nước được coi là một đạo luật đặc biệt do Quốc hội ban hành để cho phép Chính phủ thực hiện trong thời hạn xác định Sở dĩ nói

là một đạo luật đặc biệt là do ngân sách nhà nước được Quốc hội lập ra theo một trình tự, thủ tục đặc biệt, không hoàn toàn giống với trình tự lập pháp thông thường; đạo luật này cũng được xác lập hiệu lực chỉ trong một năm, không giống với các đạo luật khác thông thường là có hiệu lực vô thời hạn

Bên cạnh đó, có một số quan điểm còn xem xét ngân sách nhà nước trên phương diện xã hội Trên phương diện này, ngân sách nhà nước chính là một

Trang 3

công cụ kinh tế của Nhà nước được sử dụng cùng công cụ pháp luật để quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội

Tuy nhiên, dù xét trên phương diện nào đi chăng nữa, ngân sách nhà nước bản chất cuối cùng vẫn là các khoản thu-chi để nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ, là khoản tài trợ cho hoạt động của bộ máy nhà nước trong tất cả các lĩnh vực hoạt động

Ngân sách nhà nước là một loại hình ngân sách đặc biệt quan trọng, nên ngoài những đặc điểm chung vốn có của một loại ngân sách, nó còn thể hiện tính chất riêng của một loại hình ngân sách quốc gia như sau:

Ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính phải được Quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành: Thiết lập ngân sách nhà nước không chỉ

mang tính chất nghiệp vụ kinh tế thông qua việc phải đáp ứng yêu cầu lập được

dự toán thu chi trong một năm mà còn mang tính chất nghiệp vụ pháp lý khi ngân sách nhà nước phải qua một quá trình xem xét, biểu quyết thông qua Quốc hội như thông qua một đạo luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định cho các chủ thể tham gia vào ngân sách nhà nước Đặc trưng vừa mang tính kinh tế vừa mang tính pháp lý này đã làm nên sự khác biệt cho ngân sách nhà nước với các loại ngân sách khác Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước cũng phản ánh mối tương quan giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp trong việc xây dựng và thực hiện ngân sách thông qua trình tự cơ bản của quá trình xây dựng

và thực hiện ngân sách (Chính phủ-cơ quan hành pháp xây dựng kế hoạch ngân sách để Quốc hội-cơ quan lập pháp thông qua sau đó Chính phủ sẽ phải thực hiện theo kế hoạch đã được phê chuẩn đó)

Ngân sách nhà nước mang tính pháp lý cao: Ngân sách nhà nước không

chỉ là một kế hoạch tài chính thông thường mà còn là một đạo luật Xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị-xã hội của ngân sách nhà nước nên cần phải có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh để ngân sách nhà nước được thực hiện một cách thiết thực và hiệu quả nhất Cơ chế pháp

lý đó chỉ có thể được tạo ra thông qua quá trình “luật hóa” bản dự toán ngân sách nhà nước để nó có giá trị pháp lý như một đạo luật, được đảm bảo thực thi bằng quyền lực của nhà nước đối với tất cả các chủ thể liên quan; giúp cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân cả nước là Quốc hội kiểm soát quá trình thực hiện thu chi của Chính phủ, bảo vệ lợi ích cho toàn thể nhân dân-đối tượng đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước phục vụ lợi ích chung của toàn thể quốc gia, không phân biệt đối tượng thụ hưởng các lợi ích đó Ngân sách nhà nước không chỉ

Trang 4

phục vụ cho các nhiệm vụ chi mang lại lợi ích kinh tế đơn thuần mà vì sự phát triển của nền kinh tế của đất nước, vì lợi ích của các chủ thể trong xã hội thụ hưởng ngân sách mà phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ chi không mang lại lợi ích cụ thể Điều này làm nổi bật sự khác biệt giữa ngân sách nhà nước và ngân sách các

tổ chức kinh tế-cá nhân khác, bởi đối với một tổ chức kinh tế hay cá nhân, ngân sách của họ sẽ không đáp ứng những nhiệm vụ chi không mang lại lợi ích kinh tế

b Vai trò của ngân sách nhà nước.

Với bất kì một quốc gia nào, ngân sách nhà nước đều giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội:

- Ngân sách nhà nước là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để điều chỉnh thu nhập của toàn xã hội, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề của xã hội như trợ cấp thất nghiệp, chính sách trợ giúp cho những người có thu nhập thấp, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai…Để thực hiện được các hoạt động đó, Nhà nước cần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác, trong đó công cụ thuế được sử dụng hiệu quả

và là công cụ chính Nhà nước sử dụng ngân sách để điều tiết hoạt động kinh tế của quốc gia, đảm bảo kinh tế phát triển ổn định và tạo thế cân bằng giữa các ngành nghề, địa phương của đất nước Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển của đất nước ta có nhiều biến động, lạm phát, giá cả gia tăng thì vai trò điều tiết của ngân sách nhà nước, bình

ổn thị trường càng được thể hiện một cách rõ ràng hơn bao giờ hết

- Ngân sách nhà nước đóng vai trò là công cụ hướng dẫn tiêu dùng của xã hội bằng cách ngân sách nhà nước hàng năm đều có những khoản dự toán để định hướng việc chi tiêu cho xã hội, khoản chi nào là phù hợp, cần thiết để cân đối với các khoản thu trong năm, tránh tình trạng chi tiêu lãng phí tràn lan, thâm hụt ngân sách nhà nước

Nói tóm lại, ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế

xã hội, được biểu hiện trên ba khía cạnh: Kích thích sự tăng trưởng kinh tế (vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế), chống độc quyền; giải quyết các vấn đề xã hội (điều tiết trong lĩnh vực xã hội); góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường)

Ngân sách nhà nước được xây dựng và thực hiện trên tinh thần các nguyên tắc cơ bản như sau:

Trang 5

Nguyên tắc ngân sách nhất niên: Nguyên tắc hàm chứa hai nội dung cơ

bản: Mỗi năm, Quốc hội sẽ biểu quyết ngân sách một lần theo kì hạn do luật định và bản dự toán ngân sách nhà nước này chỉ có hiệu lực thi hành trong một năm, Chính phủ là người chịu trách nhiệm thi hành bản dự toán này Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Luật Ngân sách nhà nước, nhằm mục đích giúp Nhà nước kiểm soát kịp thời các khoản thu-chi của quốc gia, tránh sự lãng phí, tồn đọng thu-chi qua các năm, đảm bảo dân chủ cho người dân bằng việc tham gia quản trị nguồn tài chính của đất nước thông qua người đại diện là Quốc hội

Nguyên tắc ngân sách đơn nhất: được hiểu thông thường là mọi khoản thu

và chi tiền tệ của quốc gia trong năm đều được trình bày trong một văn kiện duy nhất là bản dự toán ngân sách được Chính phủ trình Quốc hội quyết định để thực hiện Tuy chưa có ghi nhận nào cụ thể về nguyên tắc này trong các quy định pháp luật nhưng Luật ngân sách cũng đã có quy định “Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được quyền quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước các cấp trong trường hợp cần thiết”, đây chính là một cách vận dụng linh hoạt nguyên tắc này Nguyên tắc được đặt ra nhằm mục tiêu đảm bảo tính khả thi cho

dự toán ngân sách nhà nước trong quá trình thực hiện, giúp cho cơ quan quyền lực dễ dàng kiểm soát thống nhất và tập trung hoạt động của ngân sách nhà nước Trên cơ sở kế hoạch tập trung của ngân sách nhà nước sẽ có thể phát huy những điểm mạnh, hạn chế những yếu kém trong dự toán ngân sách năm sau

Nguyên tắc ngân sách toàn diện: nguyên tắc được hiểu là mọi khoản thu

chi đều phải được ghi cụ thể, rõ ràng trong bảng dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định; các khoản thu và chi không được phép

bù trừ cho nhau mà mọi khoản thu phải bù trừ cho mọi khoản chi (tức là tổng các khoản thu sẽ được phục vụ cho tổng các khoản chi) Nguyên tắc này đảm bảo bản dự toán ngân sách nhà nước được thể hiện rõ ràng, đầy đủ và minh bạch, tránh bị thất thoát, thâm hụt do gian lận hoặc tính toán sai Nguyên tắc cũng đã được ghi nhận trong các quy định của Luật ngân sách nhà nước năm

2002 (Điều 3, Điều 6)

Nguyên tắc ngân sách thăng bằng: Lúc đầu các nhà tài chính học cho rằng,

sự thăng bằng ngân sách nhà nước là một ý niệm kế toán nhiều hơn là ý nghĩa về phương diện kinh tế hay pháp lý Theo đó, sự thăng bằng của ngân sách nhà nước được hiểu là tổng số thu phải cân bằng với tổng số chi trong năm ngân sách Còn các nhà tài chính học đương đại đưa ra nguyên tắc cân bằng ngân sách dựa trên nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên, trường hợp còn bội chi thì số dư bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu

tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách

Trang 6

Quan điểm này đã được các nhà làm luật Việt Nam thừa nhận và vận, dụng, quy định cụ thể trong luật ngân sách nhà nước, đó chính là nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước đang đi tìm hiểu sau đây

2 Cân đối ngân sách nhà nước:

a Định nghĩa cân đối ngân sách nhà nước.

Cân đối ngân sách nhà nước là một vấn đề mà bất cứ quốc gia nào cũng cần phải quan tâm và hướng đến Mỗi một quốc gia với các điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội khác nhau lại có mục tiêu nhiệm vụ khác nhau trong vấn đề cân đối ngân sách Vậy, xét về các góc độ khác nhau, cân đối ngân sách nhà nước thực

sự là gì?

Xét về bản chất, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu

mà Nhà nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong một năm

và sự phân phối, sử dụng nguồn thu đó thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm đó

Xét về góc độ tổng thể, cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối tương quan giữa thu và chi trong một tài khóa Nó không chỉ là sự tương quan giữa tổng thu và tổng chi mà còn thể hiện sự phân bổ hợp lý giữa cơ cấu các khoản thu và cơ cấu các khoản chi của ngân sách nhà nước

Xét về phương diện phân cấp quản lý nhà nước, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn thu giữa các cấp ngân sách nhà nước, giữa trung ương và địa phương và giữa các địa phương với nhau để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được giao

Cân đối ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là sự cân bằng về số lượng biểu hiện qua các con số giữa tổng thu và tổng chi, mà nó còn biểu hiện qua các khía cạnh khác nhau

Nói tóm lại, có thể hiểu cân đối ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan hệ tương tác giữa thu và chi ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội

mà Nhà nước đã đề ra trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể

b Đặc điểm của cân đối ngân sách nhà nước.

Xem xét phân tích các khía cạnh cho thấy, cân đối ngân sách có những đặc điểm như sau:

Trang 7

Cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong dự toán đã được đặt ra, thể hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội của quốc gia

Cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa tổng thu và tổng chi và có tính chất tương đối

Cân đối ngân sách nhà nước mang tính định lượng và tiên liệu, phải dự đoán được các khoản thu-chi một cách cụ thể và tương đối chính xác nhằm xác định các mục tiêu kinh tế xã hội

c Vai trò, ý nghĩa của cân đối ngân sách nhà nước.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, cân đối ngân sách không chỉ đóng vai trò góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách thuế, chính sách chi tiêu ; góp phần phân bổ sử dụng nguồn lực tài chính của quốc gia có hiệu quả mà bên cạnh đó, cân đối ngân sách nhà nước còn đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, tạo tiền đề cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý xã hội về mọi mặt

Cân đối ngân sách nhà nước là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng với bất cứ một nhà nước nào, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà nước khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong đời sống kinh tế xã hội Để thực hiện cân đối ngân sách nhà nước cần có những nguyên tắc, phương pháp, yếu tố cụ thể Một trong những nguyên tắc được áp dụng đó chính là nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước

II NGUYÊN TẮC CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO QUY

ĐỊNH CỦA LUẬT NGÂN SÁCH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG.

1 Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước.

Trên quan điểm phân tích ở trên, cân đối ngân sách nhà nước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết giúp Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình Nó có vai trò quyết định đến vấn đề ổn định và phát triển của một quốc gia, luôn được các quốc gia chú trọng và quan tâm thể hiện qua các quy định của pháp luật về cân đối ngân sách Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển theo hướng hội nhập với cộng đồng kinh tế quốc tế, vấn đề cân đối ngân sách lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Nhằm thực hiện có hiệu quả cân đối ngân sách

Trang 8

nhà nước, vấn đề cân đối ngân sách nhà nước đã được xây dựng thành nguyên tắc ghi nhận trong Luật ngân sách nhà nước-đạo luật quy định chung nhất về các vấn đề liên quan đến ngân sách

Hoạt động ngân sách nhà nước, về bản chất chính là các hoạt động quản

lý trong quá trình thu chi ngân sách nhà nước Dưới góc độ nghiên cứu của các

nhà khoa học kinh tế xã hội thì “nguyên tắc cân đối thu chi trong hoạt động

ngân sách nhà nước được hiểu là tư tưởng chủ đạo để cân đối các khoản thu, chi trong quá trình xây dựng và thực hiện dự toán ngân sách nhà nước Việc xây dựng và thực hiện chỉ tiêu chi ngân sách nhà nước phải phù hợp với khả năng thu của ngân sách nhà nước đồng thời việc xác định và thực hiện các khoản chi phải phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và có tích lũy” (Theo cuốn “Từ điển giải thích từ ngữ luật học” (chuyên ngành luật kinh tế, luật môi trường, luật tài

chính ngân hàng năm 1999)

Dưới góc độ luật thực định, nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước được quy định cụ thể trong Luật ngân sách nhà nước năm 2002 như sau:

“Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế,

phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.

Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vốn vay trong nước

và nước ngoài Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả nợ đến hạn (Điều 8 Luật Ngân sách

nhà nước năm 2002)

Nội dung chính của nguyên tắc

Thứ nhất, nguyên tắc đặt ra mối quan hệ qua lại giữa các khoản thu và

các khoản chi trong mọi hoạt động của ngân sách nhà nước Theo đó, yêu cầu

Trang 9

đòi hỏi các khoản thu từ thuế phí và lệ phí phải lớn hơn số chi thường xuyên trong năm ngân sách, tránh tình trạng các khoản chi thường xuyên vượt quá giới hạn đáp ứng của các khoản thu thường xuyên, gây ra thâm hụt ngân sách Bên cạnh đó, nguyên tắc cũng yêu cầu các khoản thu thường xuyên và ổn định của ngân sách (thu từ thuế, phí và lệ phí) phải được sử dụng cho các khoản chi thường xuyên, trong đó các khoản chi đầu tư phát triển phải được ưu tiên và chú trọng hơn các khoản chi khác nhằm thực hiện các chiến lược xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, làm tiền đề thúc đẩy kinh tế phát triển nhưng vẫn đảm bảo được sự cân đối giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Đây chính là mục tiêu hàng đầu, là đích đến lý tưởng khi thực hiện cân đối ngân sách nhà nước của bất kì nhà nước nào Tuy nhiên, xét trong trường hợp còn bội chi thì yêu cầu số bội chi đó phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển để tiến tới cân bằng thu-chi ngân sách

Thứ hai, trong quá trình hoạt động ngân sách nhà nước của một quốc gia,

do nhiều yếu tố, việc bội chi ngân sách nhà nước (chi ngân sách nhiều hơn thu)

là việc khó tránh khỏi Trong trường hợp này, nguyên tắc đưa ra yêu cầu phần bội chi ngân sách bù đắp bởi nguồn vay trong nước hoặc nước ngoài thì phải đảm bảo được sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển chứ không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng Tức là các khoản vay ngân sách nhà nước nhằm bù khoản thu thiếu hụt không được sử dụng cho mục đích tiêu dùng không có tính chất thu hồi vốn, mà phải dùng đầu tư phát triển tạo cơ sở vật chất hạ tầng kĩ thuật cho nền kinh tế phát triển Các khoản đầu tư đó sẽ đáp ứng yêu cầu thu hồi vốn để phục vụ trả nợ khi đến hạn

Cơ sở của nguyên tắc

Muốn lí giải được cơ sở để các nhà làm luật đưa ra nguyên tắc cân đối ngân sách như một nguyên tắc căn bản trong hoạt động ngân sách nhà nước, cần phải có được cái nhìn tổng quan về các khoản thu và khoản chi được đề cập trong nguyên tắc

Thứ nhất, thuế, phí và lệ phí là một khoản thu nằm trong cơ cấu các khoản

thu của ngân sách nhà nước, ổn định, thường xuyên và chiếm tỉ trọng lớn trong

Trang 10

tổng thu ngân sách nhà nước Trong đó thuế là nguồn thu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách nhà nước (khoảng 90%), mang tính pháp lý cao, được quy định bằng các văn bản luật Phí và lệ phí là các khoản thu mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp khi tổ chức, cá nhân sử dụng các dịch vụ mà Nhà nước đã sử dụng ngân sách để cung cấp, đầu tư Ví dụ như viện phí là một khoản thu mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp khi cá nhân sử dụng dịch

vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, bệnh viện thuộc quyền quản lý, đầu tư từ ngân sách của nhà nước

Thứ hai, chi thường xuyên là các khoản chi mang tính định kì, lặp đi lặp

lại: chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục, thể thao, khoa học và công nghệ, chi cho hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, chi quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội Các khoản chi thường xuyên là các khoản chi nhằm đáp ứng thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước nên mang tính ổn định cao, không trực tiếp tạo ra các giá trị thu hồi vốn về cho Nhà nước

Thứ ba, chi đầu tư phát triển là các khoản chi mang tính tạo lập xây dựng

cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và phát triển sản xuất và để dự trữ hàng hóa, tạo ra các điều kiện vật chất để tăng trưởng kinh tế, tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các khoản chi đầu tư phát triển điển hình có thể kể đến như các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi cho quỹ dự trữ tài chính, chi hình thành bổ sung vốn cho doanh nghiệp nhà nước…Là một khoản chi quan trọng, chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu các khoản chi của ngân sách nhà nước, tạo ra nguồn tài sản cố định

và năng lực thúc đẩy kinh tế phát triển nhưng chi đầu tư phát triển lại mang tính chất không ổn định và dễ dẫn đến tình trạng thất thoát lãng phí ngân sách trong quá trình thực hiện chi ngân sách

Có thể dễ dàng thấy được chi thường xuyên là khoản chi cần thiết cho mọi hoạt động của nhà nước, có thể ví như là một khoản chi “cứng” mà dự toán ngân sách hàng năm đều phải có nhưng không mang lại hiệu quả thu hồi vốn trực tiếp cho ngân sách nhà nước Bản thân chi thường xuyên là một khoản chi có tính

Ngày đăng: 30/01/2016, 03:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w