1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

18 378 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 40,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ hoạt động của Dự án nêu trên, nhóm tư vấn độc lập đã tiến hành thực hiện đánh giá tác động của Dự án dựa trên các căn cứ sau: - Báo cáo tình hình triển khai “Luật Quản lý

Trang 1

Đánh giá tác động của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá XII) đã ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Trong quá trình xây dựng Luật này, cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Tài chính đã nhận được sự hỗ trợ rất tích cực của cơ quan Hợp tác phát triển Úc (AusAID) thông qua Dự án “Hỗ trợ xây dựng và ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước”

Trong khuôn khổ hoạt động của Dự án nêu trên, nhóm tư vấn độc lập đã tiến hành thực hiện đánh giá tác động của Dự án dựa trên các căn cứ sau:

- Báo cáo tình hình triển khai “Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước” của Bộ Tài chính;

- Báo cáo của Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2009, trình Quốc hội khoá 12 tại kỳ họp thứ tư (tháng 11/2009);

- Báo cáo đánh giá, khảo sát thực tế về tác động của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuân, Lai Châu, Lào Cai và Phú Thọ

- Kết quả các cuộc hội thảo chuyên đề về:

+ Kết quả thực hiện Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập trung (tổ chức tại Bình Thuận tháng 3/2009);

+ Đề án khu hành chính tập trung (tổ chức tại Đà Lạt tháng 7/2009)

Dưới đây, nhóm tư vấn xin báo cáo khái quát về kết quả triển khai thực hiện Luật Quản

lý, sử dụng tài sản nhà nước và tác động của Luật trong thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của Chính phủ, các Bộ, các địa phương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT

Trang 2

Hiến pháp năm 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là tài sản nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân Đây là tiền đề, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân

Điều 200 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định”

Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản nhà nước trong nền kinh tế cũng như đảm bảo điều kiện phục vụ hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, Chính phủ và các Bộ, địa phương đã quan tâm chỉ đạo công tác quản lý tài sản nhà nước; nhờ đó, đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể:

Một là, Đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, kỷ luật, công khai minh bạch và có hiệu quả, được thể hiện trên các mặt sau:

- Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, tiêu chuẩn mua sắm phương tiện đi lại và các trang thiết bị phục vụ cho các cán bộ, công chức, viên chức Đây là các căn cứ quan trọng để xây dựng và bố trí

dự toán ngân sách cho đầu tư, mua sắm và kiểm soát chi tiêu, đảm bảo công bằng, hiệu quả, công khai, minh bạch Thực tế cho thấy, sau khi các tiêu chuẩn, định mức, chế độ sử dụng tài sản nhà nước được ban hành thì việc mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức,

sử dụng tài sản nhà nước lãng phí đã giảm đáng kể, tình trạng lạm dụng tài sản nhà nước vào việc riêng cũng đã dần được khắc phục

- Về quản lý đất đai: Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001, đến năm 2003 Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai mới để thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 Theo đó, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định

Trang 3

quy định cụ thể về thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư…

- Về quản lý tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản dự trữ quốc gia và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Đây là lĩnh vực mới, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới thì vấn đề quản lý các nguồn vật chất này, kiểm soát

để khai thác có hiệu quả đang ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật Nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong những năm vừa qua, Chính phủ đã trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Luật Khoáng sản, Luật Đê điều, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Di sản văn hoá, Luật Đường sắt, Luật Doanh nghiệp, Luật Tài nguyên nước, Pháp lệnh về Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Pháp lệnh Dự trữ quốc gia… Theo đó đã xác lập được các nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ở những lĩnh vực này

Hai là, Nhà nước đã thực hiện kiểm kê nắm được tổng quan về số lượng, giá trị và cơ cấu phân bố sử dụng tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp Các Bộ và địa phương đã bước đầu kiểm soát được việc sử dụng tài sản nhà nước, hạn chế dần việc sử dụng tài sản không đúng mục đích, lãng phí, thất thoát

Cơ chế quản lý tài sản nhà nước đang từng bước được hình thành theo tinh thần đổi mới, gắn với thị trường Theo đó, các hoạt động mua, bán tài sản nhà nước, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất dần theo sát giá thị trường, cơ chế này cho phép huy động được một bộ phận quan trọng nguồn lực tiềm năng cho đầu tư phát triển; đồng thời góp phần ngăn chặn tiêu cực, chống thất thoát lãng phí Bên cạnh đó còn từng bước thực hiện công khai hoá việc sử dụng tài sản nhà nước, tạo lập cơ sở, môi trường pháp lý căn bản cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản Đây là những nội dung rất

cơ bản để Nhà nước thực hiện quản lý đầu tư, xây dựng mới, cải tạo, mua sắm, điều chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi hình thức sở hữu và thanh xử lý tài sản nhà nước

Ba là, Xuất phát từ thực tế sử dụng tài sản nhà nước trong những năm qua, đặc biệt là nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước còn nhiều lãng phí, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện sắp xếp lại nhà, đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đúc rút kinh nghiệm để triển khai ra áp dụng trên phạm vi cả nước Theo chính sách này, toàn bộ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh được bố trí, sắp xếp lại theo nguyên tắc:

Di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường ra các khu công nghiệp, khu kinh tế Cơ quan, đơn vị được chủ động sắp xếp lại nhà, đất được giao theo đúng

Trang 4

chức năng, nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương; số nhà, đất dôi dư được phép bán, chuyển nhượng hoặc chuyển mục đích sử dụng, từ đó đã tạo ra nguồn tài chính mới để đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc hoặc được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mới, đầu tư chiều sâu, tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh; giành quỹ đất có lợi thế thương mại cho hoạt động kinh doanh, thương mại, dịch vụ, du lịch; đồng thời giành quỹ đất để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện và các công trình phúc lợi quan trọng khác của địa phương… góp phần chỉnh trang quy hoạch lại đô thị theo hướng hiện đại Kết quả ban đầu cho thấy chính sách này mang lại kết quả quan trọng cả về kinh tế và xã hội

Bốn là, Quản lý tài sản nhà nước từ chỗ thụ động với công tác lập và chấp hành ngân sách nhà nước thì nay đã chủ động gắn với công tác lập và chấp hành ngân sách nhà nước, việc xây dựng dự toán ngân sách nhà nước được căn cứ trên cơ sở nhu cầu đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị Đồng thời, tài sản nhà nước bước đầu đã gắn giá trị với hiện vật, đảm bảo phù hợp với quá trình đầu tư xây dựng mới, mua sắm và sử dụng tài sản

Năm là,Thực hiện phân cấp rõ ràng nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với tài sản nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp; giữa các cơ quan có chức năng quản

lý Nhà nước về tài sản và các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; đồng thời xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp trong quản lý, trách nhiệm của từng đơn vị trong sử dụng tài sản đảm bảo cho việc sử dụng tài sản nhà nước đi dần vào nề nếp, kỷ cương và minh bạch

Bên cạnh kết quả đã đạt được nêu trên, công tác quản lý tài sản nhà nước cũng còn một

số tồn tại, yếu kém, thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:

Một là, Pháp luật về quản lý đối với một số lĩnh vực tài sản còn chưa đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về tài sản trong kinh tế thị trường, tính pháp lý chưa cao như tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước…, dẫn đến thiếu môi trường pháp lý minh bạch, đầy đủ để quản

lý tài sản nhà nước một cách có hiệu quả, tiết kiệm; ở một số nơi còn xảy ra tình trạng sử dụng lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước, gây bức xúc trong công luận và dư luận

Hai là, Mặc dù đã có nhiều tiến bộ song việc nhìn nhận tài sản nhà nước (nhất là đất đai) như một nguồn lực tài chính thực thụ vẫn chưa được thừa nhận ở một số ngành, địa phương, đơn vị hoặc nếu có được nhận thức đúng thì cơ chế phát huy nguồn lực này vẫn

Trang 5

còn hạn chế và thiếu đồng bộ.

Ba là, Vẫn còn tình trạng sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, lãng phí, thể hiện tập trung ở:

- Một bộ phận đất đai, trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, nhất

là tại các đô thị còn bị sử dụng sai mục đích như: bỏ trống, cho thuê, sử dụng để kinh doanh, dịch vụ… Một số trường hợp thực hiện mua sắm, điều chuyển, thanh lý… tài sản nhà nước sai thẩm quyền, sai tiêu chuẩn, chế độ dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước

- Trong đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản: Tình trạng đầu tư, mua sắm vượt tiêu chuẩn định mức, vượt mức giá cho phép vẫn còn tồn tại mặc dù đã hạn chế đáng kể Tình trạng sử dụng tài sản nhà nước lãng phí, sai mục đích còn lớn

Bốn là, Kỷ cương phép nước chưa thật nghiêm minh, chế tài xử lý những sai phạm về quản lý, sử dụng trụ sở làm việc; mua sắm sử dụng xe ô tô công, trang thiết bị… còn chưa kịp thời, có trường hợp còn dùng quỹ công để bồi thường thiệt hại do việc mua sắm,

sử dụng tài sản sai dẫn đến tác dụng răn đe bị hạn chế

Năm là, Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản nhà nước còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, bị động Quy trình nghiệp vụ quản lý chưa khoa học và lạc hậu Tổ chức bộ máy cơ quan thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản nhà nước chưa được chú trọng kiện toàn

Phần thứ hai

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT

1 Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Xuất phát từ mong muốn phát huy nguồn lực tiềm năng từ đất đai, tài sản nhà nước cho công cuộc phát triển đất nước Được sự đồng thuận cao của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Quốc hội cũng giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật này Thực hiện nhiệm vụ đã được Quốc hội giao, ngày 03/6/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

52/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật, theo đó Nghị định đã

Trang 6

quy định đầy đủ và chi tiết về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ khâu đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê tài sản đến chế

độ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản và thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý tài sản; chế độ báo cáo, công khai, kiểm tra tài sản nhà nước; sắp xếp lại, xử lý tài sản nhà nước tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước khi Luật được thông qua đến nay vẫn còn hiệu lực thi hành, cùng với Nghị định số 52/2009/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về mua sắm, quản

lý và sử dụng tài sản nhà nước khá đầy đủ và đồng bộ

Đến hết năm 2009, Chính phủ, các Bộ, các địa phương đã xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sau đây:

Các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:

- Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

- Nghị định số 106/2009/NĐ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại lực lượng vũ trang nhân dân;

- Quyết định số 115/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định về công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn

vị sự nghiệp công lập và tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

- Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg ngày 21/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước

Các văn bản của Bộ Tài chính:

- Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 52/2009/NĐ-CP;

- Thông tư số 07/2009/TT-BTC ngày 15/01/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn mẫu biểu thực hiện công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và báo cáo số liệu tình hình quản

lý, sử dụng tài sản nhà nước;

Trang 7

- Thông tư số 175/2009/TT-BTC ngày 9/9/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg

Các văn bản của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phân cấp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn (60/63 tỉnh);

- Quy chế công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn

Các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước:

- Quy chế về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị;

- Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đặc thù tại đơn vị

Các văn bản đang trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:

- Nghị định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài;

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện vận tải của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài;

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện đi lại tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các công ty Nhà nước (sửa đổi);

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp (sửa đổi)

Nhận xét

1 Mặc dù Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước mới được ban hành trong thời gian ngắn, với khối lượng văn bản chính sách khá đồ sộ, bao quát hết các vấn đề về quản lý,

sử dụng tài sản nhà nước đã cho thấy quyết tâm của Chính phủ và các Bộ trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cần thiết cho việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo đúng

Trang 8

quy định của Luật; Đồng thời cũng cho thấy sự đồng thuận cao của chính quyền các địa phương trong việc triển khai thi hành Luật

2 Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (mặc dù ban hành chậm hơn

so với dự kiến như sẽ nêu ở phần dưới) nhưng khá chi tiết và đồng bộ Chúng tôi xin nhấn mạnh điểm này vì quản lý, sử dụng tài sản nhà nước rất phức tạp do nhiều yếu tố như tài sản được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn ngân sách nhà nước chỉ là một nguồn; Có loại tài sản xác định được giá trị, song cũng có nhiều loại tài sản chưa hoặc rất khó xác định được giá trị; Đồng tiền Việt Nam không ổn định nên kể cả trường hợp xác định được giá trị của tài sản song vẫn chênh lệch rất lớn với giá thị

trường

3 Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước lần đầu tiên được Quốc hội ban hành Do tính chất phức tạp và phạm vi điều chỉnh rộng nên mặc dù khi thiết kế cũng như khi ban hành, Ban soạn thảo và các đại biểu Quốc hội đều mong muốn “quy định chi tiết” ngay trong Luật để các quy phạm có tính pháp lý cao và tránh gây áp lực cho Chính phủ khi hướng dẫn thi hành song vẫn còn quá nhiều điểm phải quy định chi tiết mới thực hiện được Vì vậy, mặc dù Chính phủ, các Bộ và địa phương có nhiều cố gắng song vẫn không tránh khỏi các hệ quả không mong muốn sau đây:

Một là, Tiến độ ban hành các văn bản chậm hơn so với yêu cầu, thậm chí chậm hơn thời hạn Luật có hiệu lực thi hành; kể cả Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật (chậm 06 tháng) và Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định này (chậm 01 năm) Đến hết năm 2009, vẫn còn hai văn bản cấp Chính phủ vẫn chưa được ban hành, đó là: Nghị định của Chính phủ về quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước Việt Nam tại nước ngoài và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô tại các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài

Chúng tôi được biết rằng sở dĩ có sự chậm trễ như trên là vào tháng 6/2009, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Cơ quan đại diện trong đó có một số nội dung có liên quan đến tài sản của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài Vì vậy, để tránh mâu thuẫn giữa các văn bản của Chính phủ, việc ban hành Nghị định của Chính phủ về quản lý, sử dụng tài sản Việt Nam tại nước ngoài phải chậm lại, song điều đó cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ

và tích cực của các cơ quan được giao soạn thảo cũng như trong hoạt động của các cơ quan giúp Quốc hội thẩm định và giám sát thi hành hai Luật này

Hai là, Sự chậm trễ của các cơ quan được giao hướng dẫn thi hành Luật phần nào ảnh

Trang 9

hưởng đến việc thực thi Luật Như trên đã nêu, mặc dù đã có sự cải cách khi xây dựng Luật nhằm tránh cho Chính phủ phải hướng dẫn thi hành toàn bộ Luật mà chỉ hướng dẫn một số điều của Luật Tuy nhiên, số điều cần hướng dẫn không phải là số ít mà bao gồm tới 16 nội dung Vì vậy, không thể tránh khỏi sự lúng túng của các cấp thừa hành khi chưa có văn bản hướng dẫn

Ba là, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã đưa ra 6 nguyên tắc về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, đó là: (1) Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; (2) Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; (3) Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm công bằng, hiệu quả, tiết kiệm; (4) Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chếthị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (5) Tài sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định và (6) Việc quản

lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai,minh bạch; mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật

Trong các nguyên tắc trên, nguyên tắc (4) và nguyên tắc (6) được coi là các nguyên tắc tiên tiến, thể hiện rõ phương thức mới về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong nền kinh tế thị trường Song khi hướng dẫn vẫn còn chưa rõ ràng, thậm chí vẫn còn chưa dứt khoát Ví dụ như các văn bản của Chính phủ và của Bộ Tài chính hướng dẫn về bán tài sản nhà nước vẫn còn cho phép “bán chỉ định”, điều này vừa có thể dẫn đến thiệt hại cho Nhà nước (thông thường bán đấu giá sẽ cho kết quả cao hơn bán chỉ định) vừa không tạo

ra sự công khai, minh bạch cần thiết cho lĩnh vực hết sức nhạy cảm này

2 Phổ biến và tuyên truyền Luật

Chính phủ đã giao Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp thực hiện phổ biến và tuyên truyền về nội dung của Luật này tới các cấp chính quyền, các đơn vị cơ sở

Theo hệ thống hành chính, các Bộ, các địa phương đã thực hiện tập huấn Luật đến các đơn vị cơ sở, theo đó Bộ Tài chính tổ chức tập huấn cho các cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Tiếp đó, các Bộ, các tỉnh, thành phố tổ chức tập

Trang 10

huấn theo ngành hoặc tới các huyện, xã trực thuộc.

Cụ thể, Bộ Tài chính đã tổ chức 4 cuộc tập huấn để phổ biến, tuyên truyền Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành cho 559 đại biểu đến từ các Bộ, tổ chức Trung ương, Sở Tài chính và Hội đồng nhân dân các tỉnh tại Huế (24 – 25/6/2009 cho các tỉnh miền Trung), tại thành phố Hồ Chí Minh (2 – 3/7/2009 cho các tỉnh phía Nam), tại Sơn La (9 –

10/7/2009 cho các tỉnh phía Bắc) và tại Hà Nội (16/7/2009) cho các Bộ, cơ quan Trung ương Ngoài ra, Bộ Tài chính còn hỗ trợ cho các tỉnh tập huấn đến từng cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn địa phương

Tuy nhiên, quá trình nêu trên chỉ thực hiện trôi chảy ở phần nhiệm vụ của Bộ Tài chính, còn đối với các địa phương thì hầu hết mới chỉ thực hiện được ở các tỉnh lớn hoặc các tỉnh có sự hỗ trợ về giảng viên của Bộ Tài chính Đối với các Bộ thì chỉ có khoảng 1/4 số đơn vị thực hiện tập huấn Luật này

Đối với công tác tuyên truyền, tương tự như các Luật khác, có thể nói là công tác tuyên truyền nội dung của Luật tới các tầng lớp nhân dân kể cả cán bộ, công chức còn rất hạn chế Đa số người dân chỉ khi có các vấn đề liên quan mới quan tâm đến Luật này Để tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân quan tâm có đầy đủ thông tin khi thực hiện các vấn đề có liên quan đến tài sản nhà nước cũng như thực hiện quyền giám sát của mình, Bộ Tài chính mở trang WEB về cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước

và trang thông tin điện tử về tài sản nhà nước Trang WEB này cho phép cập nhật kịp thời và chính xác sự hình thành và biến động tài sản nhà nước trên phạm vi quốc gia, đồng thời có khả năng kết nối vào hệ thống TABMIS đang được Bộ triển khai trên diện rộng

Phần thứ ba

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT ĐỐI VỚI QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG VÀ QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI NÓI CHUNG

Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Đây là một trong những Luật đầu tiên được xây dựng theo nguyên tắc áp dụng được ngay mà không cần chờ các văn bản hướng dẫn thi hành dưới Luật Do đó, ngay từ ngày 01/01/2009, các Bộ, địa phương đã triển khai thi hành Luật Báo cáo của Chính phủ và kết quả khảo sát, đánh giá cho thấy các quy phạm của Luật đã đi ngay vào thực tiễn, góp phần đưa công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà

Ngày đăng: 30/01/2016, 03:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w