1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểuhai (02) vụ việc có thật có liên quan đến việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu vềmặt hình thức

17 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký xin phép thì phải tuân theo các quy định đó".Như vậ

Trang 1

MỤC LỤC

trang

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 2

Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tham gia các giao dịch dân sự của chủ thể ngày càng tăng, bởi nó làm thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người.Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biến, được áp dụng rộng rãi nhất trong giao lưu dân sự, xảy ra hàng ngày và tất cả các chủ thể tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch dân sự được Bộ luật dân sự ghi nhận là căn cứ pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Mặc dù đã có những quy định cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên thực tế đời sống dân sự là rất phức tạp, cho nên mặc dù có giao dịch đã được xác lập nhưng vân bị vô hiệu do không tuân thủ các điều kiện đã quy định, mà trong đó giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình

thức Vì vậy, để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm chúng tôi xin chọn đề tài: “Tìm hiểu

hai (02) vụ việc có thật có liên quan đến việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về mặt hình thức”.

B NỘI DUNG

I CỞ SỞ LÝ LUẬN

Điều 121, bộ luật dân sự năm 2005 quy định "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành

vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền , nghĩa vụ dân sự".

Cho dù là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương thì GDDS cũng đều nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định, đó chính là việc làm phát sinh , thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hậu quả pháp lý của giao dich dân sự là các chủ thể được pháp luật được pháp luật bảo đảm thực hiện được pháp luật bảo đảm thực hiện thì các quyền và nghĩa vụ đó được xác lập phù hợp với quy định của pháp luật Trong trường hợp các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ GDDS không phù hợp với quy định của pháp luật thì GDDS đó vô hiệu

Điều 124, BLDS 2005 quy định về hình thức GDDS:

1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói , bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản

Trang 3

2 Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký xin phép thì phải tuân theo các quy định đó".Như vậy căn cứ vào hình thức thể hiện của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự được thể hiện dưới hình thức văn bản và giao dịch dân sự thể hiện dưới hành vi

cụ thể

Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức lời nói( hình thức miệng) là giao dịch dân sự

mà pháp luật không buộc chủ thể tuân theo một hình thức khác Thông thường hình thức lời nói của giao dịch dân sự được áp dụng đối với các giao dịch dân sự mà các chủ thể có quen biết, tin cậy lẫn nhau, đối tượng của giao dịch có giá trị nhỏ hoặc với các giao dịch dân sự phát sinh hậu quả pháp lý sau khi thỏa thuận và các bên thực hiện nghĩa vụ ngay sau đó giao dịch dân sự chấm dứt Trong một số trường hợp hình thức này được pháp luật quy định điều kiện, trình tự và thủ tục thì phải tuân thủ theo quy định đó

Giao dịch dân sự được thể hiện dưới hình thức văn bản: Hình thức văn bản có thể do pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện dưới hình thức văn bản thì các chủ thể tham giao dịch dân sự phải được thể hiện dưới hình thức văn bản thì các chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải tuân thủ hình thức này Ngoài ra trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó Bên cạnh đó giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản

Giao dịch dân sự thể hiện dưới hành vi cụ thể, hình thức này cũng phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi công nghệ ngày càng phát triển với sự tác động được áp dụng từ nhiều nơi đặc biệt là các thành phố, thị xã như bán hàng qua máy tự động

Theo nguyên tắc chung thì các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của giao dịch Chỉ những giao dịch pháp luật bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, phải có chứng thực chứng nhận, đăng hôặc xin phép mà các bên không tuân thủ quy định này thì giao dịch dân sự đó vô hiệu

Trang 4

-Điều 139- Bộ luật Dân sự năm 1995.

II.PHÂN TÍCH ÁN SỐ 1

1 Phân tích cách giải quyết của cơ quan nhà nước của thẩm quyền.

*Căn cứ giải quyết dựa vào:

-Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Điều 134, Điều 137

-Nghị quyết 01/2003/NQHĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao -Bản án sơ thẩm 47/2006 DSST ngày 27/9/2006 của Tòa án nhân dân Huyện Từ Liêm

*Nội dung án tóm tắt như sau:

Nguyên đơn: Ông Hoàng Công Bảo- sinh năm 1949 Trú quán: B4, Tập thể Đại học

ngoại thương, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội

Ông Vũ Văn Đa- sinh năm 1951, Trú quán: B5, Tập thể Đại học ngoại thương, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội

Bị đơn: Ông Lê V n B - Sinh n m 1956 V v l b Nguy n Th Ngoan- sinh n măn Bạ- Sinh năm 1956 Và vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm ạ- Sinh năm 1956 Và vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm ăn Bạ- Sinh năm 1956 Và vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm à vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm ợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm à vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm à vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm ễn Thị Ngoan- sinh năm ị Ngoan- sinh năm ăn Bạ- Sinh năm 1956 Và vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm

1960, Trú quán: Thôn Tân Phong, Thu Phỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội ương, Từ Liêm, Hà Nội.ng, T Liêm, H N i.ừ Liêm, Hà Nội à vợ là bà Nguyễn Thị Ngoan- sinh năm ội

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Lan Anh- sinh năm 1979, Chị

Lê Thị Hải Yến- sinh năm 1981, Trú quán: Thôn Tân Phong, Thuỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội Anh Đỗ Thế Phú- sinh năm 1971, Trú quán: Nhà số 2, dãy B6, tập thể Đại học ngoại thương, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội Ông Phạm Quang Hán- sinh năm 1957, Trú quán: Thôn Tân Phong, Thuỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội

Gia đình ông Bạ, bà Ngoan có nhu cầu bán một miếng đất với diện tích 380m2 tại Thôn Tân Phong, xã Thuỵ Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nộ (đất giãn dân năm 1983, hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Năm 2001, qua anh Hán và anh Phú là người cùng xóm với ông Bạ, bà Ngoan, nguyên đơn là ông Đa và ông Bảo được biết gia đình ông Bạ, bà Ngoan có nhu cầu bán đất nên đã nhờ 2 anh đứng ra làm thủ tục mua bán hộ Theo thoả thuận diện tích đất mua là 380m2, giá 1.500.000đồng/m2, thành tiền là 570.000.000 đồng Thực hiện thoả

Trang 5

thuận, ngày 2/7/2001, nguyên đơn đã uỷ quyền cho anh Phú đặt cọc cho gia đình ông Bạ, bà Ngoan là 20.000.000 đồng, có giấy biên nhận ghi ngày 2/7/2011 do ông

Bạ trực tiếp viết và hẹn trong vòng 20 ngày kể từ ngày đặt cọc sẽ thanh toán nốt Nếu một trong hai bên vi phạm sẽ phải chịu phạt gấp hai lần so với số tiền đặt Ngày 18/7/2001 ông Bạ đã nhận tiếp 100.000.000 VNĐ và 30.000 USD do ông Hán là người cùng thôn giao Tổng số tiền ông Bạ xác nhận ông đã nhận từ ông Phú và ông Hán giao là: 20.000.000 đồng tiền đặt cọc, 100.000.000 đồng và 30.000 USD Quy ra tiền tại thời điểm nhận, ông Bạ, bà Ngoan xác nhận đã nhận từ ông Phú và ông Hán là 570.000.000 đồng Cùng ngày 18/7/2001 ông Đa và ông Bảo đã đưa cho ông bà 4 bản hợp đồng mua bán nhà đất đã đánh máy sẵn nội dung và yêu cầu ông bà cùng các con trên 18 tuổi ký vào Ngày 19/7/2001 hai bên đã làm thủ tục bàn giao mốc giới Việc bàn giao mốc giới có lập thành 1 biên bản do ông Đa trực tiếp viết, ông Bạ ký vào biên bản Sau khi nhận bàn giao mốc giới, nguyên đơn

đã nhờ anh Hán xây tường bao xung quanh đất

Sau khi mua bán xong, hai bên chưa đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất thủ tục mua bán Quá trình sử dụng do nguyên đơn không ở đó, bên bán đã phá tường bao do nguyên đơn xây và xây thêm trên đất một nhà cấp 4 để sử dụng

* Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán Trong trường hợp phải huỷ hợp đồng mua bán, đề nghị Toà án xác định bên bán phải chịu 100% lỗi

* Về phía bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng: Giữa ông bà và nguyên đơn không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất Còn việc mua bán đất như hợp đồng ngày 18/7/2001 ông bà không đồng ý vì chưa bàn bạc xong giá cả

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2006/DSST ngày 27/9/2006 Toà án nhân dân huyện Từ Liêm đã xử:

- Bác yêu cầu thực hiện hợp đồng mua bán của ông Hoàng Công Bảo, ông

Vũ Văn Đa đối với ông Lê Văn Bạ và bà Nguyễn Thị Ngoan

- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/7/2001 là

Trang 6

hợp đồng vô hiệu.

- Buộc ông Đa, ông Bảo phải trả lại diện tích đất 380m2 tại thôn Tân Phong, Thuỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội cho ông bạ và bà Ngoan

- ông Bạ, bà Ngoan được sở hữu 01 nhà cấp 4, tường xây bao quanh và 1 phần tường do ông Đa và ông Bảo xây dựng có giá trị 1.967.328 đồng

- Buộc ông Bạ, bà Ngoan thanh toán trả ông Đa, ông Bảo số tiền 2.366.987.328 đồng

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đa, ông Bảo để chung số tiền thanh toán và

tự giải quyết

*Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

đã được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe kết quả tranh luận công khai tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án xét thấy bản án sơ thẩm tòa án đã quyết định:

-Giữ nguyên bản án sơ thẩm

-Xác định hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông Lê Văn Bạ, bà Nguyễn Thị Ngoan và ông Hoàng Công Bảo, ông Vũ Văn Đa là hợp đồng vô hiệu toàn bộ

-Xác định Ông Bạ và bà Ngoan phải chịu 80%lỗi do hợp đồng vô hiệu=1.824.000.000đồng

-Xác định ông Bảo và ông Đa phải chịu 20% lỗi do hợp đồng vô hiệu = 456.000.000 đồng

-Ông Bạ và bà Ngoan được tiếp rục sử dụng 380m2 đất và các công trình trên đất

-Buộc ông Bạ và bà Ngoan phải thanh toán số tiền = 2.395.967.328 đồng cho ông Bảo và ông Đa

-Quy định về án phí

*Việc giải quyết của tòa án thành phố hà nôi ở trong vụ việc này là tòa vẫn giữ nguyên bản án Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2006/DSST ngày 27/9/2006 Toà án nhân dân huyện Từ Liêm đã xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 275 bộ luật tố tụng

Trang 7

dân sự, tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn

2 Ý kiến của nhóm về cách giải quyết của tòa án về vụ án trên:

Việc giải quyết của tòa án hai cấp trong vụ việc này là tương đối giống nhau Tuy nhiên, dựa trên những tình tiết của vụ việc và căn cứ giải quyết của Tòa án, nhóm chúng tôi đồng tình với cách giải quyết của bản án phúc thẩm số 78/2007/DS-PT ngày 3/4/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hơn bản án sơ thẩm số 47/2006/DSST ngày 27/9/2006 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm Vì các quyết định của tòa án phúc thẩm là đầy đủ và giải quyết được việc tranh chấp theo hướng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng và những người có lợi ích liên quan Cụ thể

là bản án của hai cấp đều tuyên bố hợp đồng mua bán nhà đất tại thôn Tân Phong, xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội lập ngày 18/07/2001 giữa ông Lê Văn Bạ, bà Nguyễn Thị Ngoan và ông Hoàng Công Bảo, Vũ Văn Đa là hợp đồng vô hiệu nhưng trong bản án ở cấp phúc thẩm xác định cụ thể hơn bản án ở cấp sơ thẩm ở chỗ tuyên bố

“hợp đồng vô hiệu toàn bộ” và việc tuyên bố này là hoàn toàn có căn cứ Bởi lẽ, sau khi giao dịch mua bán đất, ông Bảo và ông Đa có nhờ người làm chứng hộ tuy nhiên, sự làm chứng này không mang tính chất pháp lí, không có sự công chứng, chứng thực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong khi việc chuyển nhượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sự dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được làm thủ tục và đăng kí tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai theo Điều 707 BLDS Đồng thời, việc xác định lỗi và bồi thường thiệt hại của các bên ở bản án này là rõ ràng và cụ thể hơn Bên cạnh đó nhóm chúng

em còn thấy trong việc xét xử này quý tòa nên đưa thêm những người có lợi ích có liên quan (như Lê Thị Hải Yến và Lê Thị Lan Anh- các con của ông Bạ, bà Ngoan) vào việc

tố tụng để lấy lời khai từ đó có nhận định khách quan hơn về lời khai của nguyên đơn

và bị đơn

Tuy nhiên khi nghiên cứu về cách giải quyết của tòa án, nhóm chúng tôi phát hiện có điểm mâu thuẫn?? ở chỗ giao dịch giữa ông Bạ, bà Ngoan và ông Bảo, ông Đa được xác lập năm 2001, ở thời điểm đó bộ luật dân sự 1995 đang có hiệu lực, nhưng khi

có tranh chấp về giao dịch trên vào năm 2006, khi giải quyết tòa lại áp dụng Bộ luật dân

Trang 8

sự năm 2005 Theo quan điểm của nhóm tôi thì việc áp dụng luật của tòa án là chưa chính xác Vì theo Nghị quyết của quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, ngày 14 tháng 6 năm 2005 có quy định “ Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức khác với quy định của Bộ luật dân sự hoặc giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà có tranh chấp xảy ra thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và các văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết” Dựa vào căn cứ này thì theo quan điểm của nhóm chúng tôi, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội khi tiến hành xét xử phải dựa vào những quy định của Bộ Luật Dân sự năm 1995 và các văn bản hướng dẫn có liên quan năm 1995, chứ không phải dựa vào Bộ luật năm 2005 để giải quyết

3 Đánh giá được các quy định có liên quan đã được áp dụng để giải quyết vụ việc.

Thông qua việc giải quyết vụ việc của bản án số 78/2007/DS-PT ngày 3/4/2007 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đât của Tòa án nhân dânThành phố

Hà Nội, ta thấy:

Việc giải quyết tranh chấp giữa ông Hoàng Công Bảo, Vũ Văn Đa bên nguyên đơn và ông Lê Văn Bạ, bà Nguyễn Thị Ngoan bên bị đơn là hoàn toàn hợp lí Bởi lẽ, việc mua bán đất của hai bên nguyên đơn và bị đơn không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều

707 Các quy định pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự “hoạt động chuyển nhượng

quyền sử dụng đất phải được xác lập thành văn bản, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được là thủ tục và đăng ký tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai” Tuy nhiên,

việc áp dụng các điều 134, 137 BLDS, Nghị quyết 01/2003/NQHĐTP của Hội đông Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cũng như căn cứ tại Khoản Điều 275 BLTTDS để giải quyết vụ việc này của Tòa án nhân dân Tối cao là vẫn chưa đủ dẫn chứng để xác định lỗi của các bên nguyên đơn và bị đơn trong vụ việc, vì thế cần phải làm rõ hơn các dẫn chứng đã đưa ra.Theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai 2003, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành hợp đồng; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng

Trang 9

chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Dân sự 2005, trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì đó mới được coi là giao dịch vô hiệu

Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, hình thức giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó

Căn cứ các quy định của các pháp luật nêu trên, do giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn Bạ, bà Nguyễn Thị Ngoan với ông Hoàng Công Bảo, Vũ Văn

Đa là không có sự chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND

xã, phường, thị trấn nơi có đất, nên là giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức Trong vụ việc này, việc khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp, Toà án sẽ quyết định buộc các bên phải cùng làm lại các thủ tục theo đúng quy định về hình thức của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất; nếu một trong hai bên cố tình không làm lại các thủ tục đó thì tòa án mới tuyên bố giao dịch này vô hiệu và bên cố tình không làm lại các thủ tục đó là bên có lỗi

Căn cứ quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005, hậu quả pháp lý của giao dịch dân

sự vô hiệu là: không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền… Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật Vì vậy, việc tòa đã áp dụng các điều luật trên để giả quyết vụ việc này là hoàn toàn chuẩn xác và có căn cứ pháp luật Và để ngày càng hoàn thiện hơn nữa về vấn đề này, nhóm tôi cũng xin đề xuất một vài ý kiến để giải quyết vấn đề này; hướng

Trang 10

giải quyết ở đây là hình thức của một hoặc một số giao dịch dân sự mà pháp luật yêu cầu phải lập thành văn bản, có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên quy định tại Điều 133 của Bộ luật quy định về hình thức giao dịch dân sự Cụ thể là:

- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể

- Riêng các giao dịch dân sự về A, B, C (là những loại giao dịch gì mà nhà làm luật thấy cần thiết), phải được thể hiện bằng văn bản

Nếu tách bạch được vấn đề theo cách nêu trên, một mặt chúng ta vừa thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo đối với việc sửa đổi luật, đồng thời mặt khác cũng tháo gỡ được không ít bất cập, vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay Và như vậy thì, quy định phải lập thành văn bản trong trường hợp như trên, chỉ là một trong những cơ

sở pháp lý quan trọng và cần thiết để cơ quan Toà án vận dụng, xem xét và đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án, góp phần làm rõ đúng sai, sự thật của vấn đề khi giải quyết một tranh chất về giao dịch dân sự, chứ không phải là cơ sở pháp lý để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu khi mà các điều kiện về nội dung (thực chất) của một giao dịch dân sự có hiệu lực đều đã được các bên đương sự tôn trọng, thực hiện đầy đủ và điều đó cũng giúp cho được Hội đồng xét xử có căn cứ xác đáng làm sáng tỏ trước Toà

III Phân tích án số 2

1 Phân tích cách giải quyết của cơ quan nhà nước của thẩm quyền.

*Căn cứ giải quyết dựa vào:

- Điều 131, 136, 139, 401, 691, 693, 707, 708 Bộ luật dân sự năm 1995

- Khoản 1 Điều 136 Luật đất đai năm 2003

- Điều 25, 131, 132, 200, 201, khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự

- Điểm 2.4 Mục I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16.4.2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

- Điểm 2.3 Mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10.8.2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Ngày đăng: 30/01/2016, 03:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w