1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khái quát chung về quản lý thuế và và pháp luật quản lý thuế

17 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 148 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong pháp luật quản lý thuế có thể hiểu quản lý thuế theo hai nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng: QLT là hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lượ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thuế có vai trò rất quan trọng đồi với một quốc gia, đối với đời sống xã hội và sự phát triển của quốc gia đó Thuế là công cụ hiệu quả để nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho sãn xuất kinh doanh phát triển, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước và xã hội Hoạt động quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việc quản lý nèn kinh tế - tài chính của đất nước, nhận thấy được tầm quan trọng của nó, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã đưa những chính sách, biện pháp hữu hiệu nhất để có thể từng bước hoàn thiện pháp luật quản lý thuế Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, nhưng bên cạnh đó còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục Vì vậy cần có một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thích hợp để góp phần đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ cao

NỘI DUNG

I Khái quát chung về quản lý thuế và và pháp luật quản lý thuế:

1 Về pháp luật thuế:

Quản lý là một phạm trù để chỉ mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm đạt được những đạt được những mục tiêu đề ra Trong pháp luật quản lý thuế có thể hiểu quản lý thuế theo hai nghĩa như sau:

Theo nghĩa rộng: QLT là hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, là quá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luật thuế, thực hiện tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thức hiện pháp luật thuế qua đó kiểm tra, thanh tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế

Theo nghĩa hẹp: quản lý thuế là hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước về thuế thông qua việc thực hiện tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, bao gồm các hoạt động nghiệp vụ mang tính chất hành chính trong lĩnh vực thuế, là hoạt động chấp hành theo

kế hoạch và trình tự, thủ tục luật định được tiến hành bởi các cơ quan QLT

Trang 2

Luật QLT 2006 tiếp cận vấn đề QLT theo nghĩa hẹp, Luật không trực tiếp đưa ra khái niệm QLT mà chỉ nêu gián tiếp thông qua quy định tại Điều 3 Điều 3 Luật QLT quy định, nội dung QLT bao gồm:

“1 Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế

2 Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế

3 Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt

4 Quản lý thông tin về người nộp thuế.

5 Kiểm tra thuế, thanh tra thuế.

6 Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.

7 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế

8 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.”

QLT được biểu hiện dưới các đặc điểm cơ bản sau:

Một là: chủ thể trong quan hệ QLT bao gồm 2 đối tượng là: đối tượng QLT và đối tượng chịu sự QLT Đối tượng QLT rất rộng, đó là mọi tổ chức, cá nhân và Nhà nước Tuy nhiên, để đảm bảo thực thi trách nhiệm QLT, Nhà nước trao quyền hạn QLT trực tiếp cho cơ quan QLT, cụ thể là cơ quan thuế và cơ quan hải quan ( Điều 2 Luật QLT 2006) Đối tượng chịu sự QLT được xác định rất cụ thể tại khoản 1 Điều 2 Luật QLT, đó

là:“ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; Tổ

chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế”.

Hai là: QLT là hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đảm bảo lợi ích của cả hai bên chủ thể là Nhà nước và người nộp thuế Nó đòi hỏi cơ quan QLT phải có những phương thức quản lý linh hoạt, không thể tùy tiện đề ra các quy định mang tính áp đặt, độc đoán

Ba là: QLT là hoạt động quản lý bằng pháp luật với các biện pháp nghiệp vụ, biện pháp hành chính khác, trong đó, pháp luật là công cụ chủ yếu, là chuẩn mực buộc các chủ thể phải tuân theo

Bốn là: hiệu quả của công tác QLT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: ý thức chấp hành pháp luật thuế, trình độ, năng lực QLT, cơ sở vật chất của ngành thuế, hệ thống thể chế quản lý kinh tế - xã hội ( quản lý đất đai, đăng kí kinh doanh, chế độ kế toán…)

Trang 3

2 Về pháp luật quản lý thuế:

Trước năm 2006, nước ta chưa có một văn bản thống nhất về QLT nên các quy định về QLT nằm rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, gây khó khăn cho việc thực hiện Mặt khác, các quy định trùng lặp, chồng chéo nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau khiến cho việc tuân thủ pháp luật thuế chưa được đảm bảo, hơn nữa, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia QLT chưa được quy định đầy đủ, rõ rang, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện công tác QLT, công tác phòng chống, xử

lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế, chống thất thu thuế còn hạn chế

Luật QLT được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 22/11/2006 và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2007 đã tạo ra khung pháp lý chung để thực thi tất cả các Luật, pháp luật về thuế và các khoản thu khác khắc phục được tình trạng chia cắt, tách biệt về phương thức quản lý giữa các loại thuế Đồng thời, Luật QLT 2006 ban hành nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ rang, minh bạch, dễ thực hiện, tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Nhà nước, của xã hội trong việc thực hiện QLT

Có thể hiểu, pháp luật QLT là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động QLT của Nhà nước, đó là quan hệ quản lý trong việc thu, nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) của các cơ quan Nhà nước đối với các đối tượng nộp thuế và các đối tượng khác

có liên quan

Xét về tổng thể, pháp luật QLT tập trung chủ yếu vào các nhóm quy định sau: Một là: các quy định về điều kiện, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, trưng thu và hoàn thuế Đây là những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan Nhà nước có thâm quyền Hiện nay, quy trình này về cơ bản đã được thay đổi theo hướng giành quyền chủ động tối đa cho người nộp thuế trong việc tự đăng thuế, tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế cho Nhà nước trên cơ sở chịu sự kiểm tra, giám sát trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan QLT – với tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong hoạt động hành thu thuế

Hai là: các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý các vi phạm pháp luật thuế Đây là quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý hành chính của Nhà nước đối với xã hội nói chung và người nộp thuế nói riêng Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo cơ chế “ tiền kiểm ” – tức là trước khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Hiện nay, cùng với sự cải cách hành chính thuế đã chuyển đổi từ “tiền kiểm” sang “ hậu kiểm ”, theo đó cơ quan QLT sẽ tiến hành kiểm tra, thanh tra sau khi người nộp thuế đã thực hiện các thủ tục chính của quá trình QLT như: đăng kí thuế, hoàn thuế hay xin miến giảm thuế…

Trang 4

Căn cứ vào kết quả thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế có quyền áp dụng các chế tài

xử lý đối với đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế theo luật định

Ba là: các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế Tranh chấp về thuế là những hệ quả khó thể tránh của quá trình quản lý hành chính, đặc biệt là quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế Sở dĩ như vậy vì các quy định gần đây của Luật thuế có chiều hướng gia tăng và ngày càng trở nen phức tạp hơn, chính yêu cầu đó đã đặt ra yêu cầu cho các nhà lập pháp phải thiết lập những cơ chế giải quyết thích hợp đối với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thuế, thông quan đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ pháp luật thuế

II Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật quản lý thuế ở nước ta.

1 Thực trạng pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay

Sau gần 4 năm Luật QLT đi và thực tiễn cuộc sống, công tác QLT đã có nhiều chuyển biến tích cực Các cấp chính quyền, các tổ chức liên quan như: Kho bạc Nhà nước, Cơ quan Hải quan, các tổ chức tín dụng khác đã nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình trong việc trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ công Tác quản lý theo Luật QLT Theo đánh giá của Tổng cục Hải quan, thực hiện Luật QLT đã đề cao quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế qua việc thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nôp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nghĩa vụ thuế như đã đề cập ở trên Ngay từ khi được triển khai thực hiện trên thực tế nhìn chung ý thức của người nộp thuế trong việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tốt hơn Các cơ sở kinh doanh mới được thành lập đều làm các thủ tục đăng ký thuế kịp thời, chỉ tính riêng 4 tháng (từ tháng 7 đến tháng 10/2007) đã có 80.738 cơ sở đăng ký thuế mới 1.221 cơ sở kinh doanh xin đóng mã

số thuế, do ngừng hoạt động kinh doanh, giải thể, cũng đã được giải quyết kịp thời

Theo số liệu tổng hợp 3 tháng đầu triển khai Luật Quản lý thuế, tổng số tờ khai chậm nộp của thuế GTGT và TTĐB giảm là 18% (trong khi các tháng trước khi triển khai luật có tỷ lệ trên 20%) Riêng đối với thuế GTGT đã có 25/64 Cục Thuế có tỷ lệ tờ khai chậm nộp ở mức dưới 10%; trong đó, có một số địa phương có tỷ lệ chậm nộp rất thấp như: Quảng Ninh 1%, Khánh Hoà 0,4%, TP Hồ Chí Minh 4,7% (trong các tháng trước,

tỷ lệ này đều ở mức trên 13%) Vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp tờ khai đã giảm hẳn so với trước ngày 1/7/2007 (riêng TP Hồ Chí Minh số tiền phạt vi phạm hành chính

về hành vi chậm nộp tờ khai giảm 70% so với trước)

Đối với thuế ở khâu xuất, nhập khẩu, các doanh nghiệp đã chủ động kê khai và kiểm tra việc kê khai thuế và đã khai bổ sung tăng thuế là 187 tờ khai và khai bổ sung làm giảm số thuế phải nộp là 299 tờ khai Cơ quan Hải quan đã thực hiện n định thuế đối với

Trang 5

7.027 tờ khai với số tiền thuế n định 414 tỷ đồng, đã kiểm tra phát hiện 4.345 trường hợp

vi phạm về thuế đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu

Về phía các cơ quan hành thu cũng có những bước chuyển mạnh mẽ Cơ quan Quản lý thuế (nội địa) các cấp được tổ chức lại theo mô hình quản lý thuế chủ yếu theo chức năng; với một số chức năng chủ yếu: tuyên truyền pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế; quản lý kê khai và kế toán thuế; quản lý về nợ và xử lý nợ đọng thuế; kiểm tra, thanh tra thuế Thanh tra thuế đã dựa trên cơ sở thu thập thông tin và phân tích thông tin, đánh giá mức độ tuân thủ và xác định rủi ro, phân loại doanh nghiệp để quyết định thanh tra từng trường hợp vi phạm pháp hoặc có rủi ro cao Năm 2007, tổng số doanh nghiệp toàn ngành thuế đã tiến hành thanh tra và kiểm tra tăng khoảng 25% so với năm 2006 nhưng số thuế truy thu tăng gấp 1,3 lần so với cùng kỳ năm 2006

Tổng cục Thuế đã xây dựng bộ máy quản lý nợ, từ Tổng cục đến các Cục, Chi cục Thuế; đã phân tích được nguyên nhân và tình trạng nợ trong toàn ngành Thuế Toàn ngành Thuế triển khai các biện pháp đồng bộ để xử lý dứt điểm nợ cũ, giảm thiểu nợ mới phát sinh; thống nhất trong toàn ngành việc xử lý nợ chây ỳ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế, để thu hồi nợ Tính đến hết 30/6/2007 tổng số nợ bao gồm nợ chờ xử lý, nợ được gia hạn, các khoản nợ không có khả năng thu, xin ý kiến xử lý chiếm 3,6% trên tổng số thuế, tính đến thời điểm 30/9/2007 là 3,54% và ước dự tính đến 31/12/2006 chiếm 3,2% trên tổng số thuế thu NSNN Cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan đã phối hợp với Ngân hàng, Kho bạc, tổ chức tín dụng trích các khoản tiền thuế doanh nghiệp được hoàn và trích tiền gửi của doanh nghiệp để nộp trả nợ NSNN Năm qua tổng số tiền đã trích nộp là 1.816 tỷ đồng

Đối với ngành Hải quan qua thời gian đầu thực hiện, chuyển biến rõ nhất trong nội

bộ ngành là bước đầu thay đổi nhận thức của công chức hải quan về mối quan hệ giữa thủ tục quản lý thuế với thủ tục hải quan: quản lý thuế là một khâu gắn liền, thống nhất với qui trình thực hiện thủ tục hải quan Kết quả tác động đến người nộp thuế lớn nhất là hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra thuận lợi, không gây ách tắc Quyền của người nộp thuế được đề cao, phương thức quản lý thuế của cơ quan hải quan có sự thay đổi cơ bản

Số liệu tính từ 16/6/2007 đến hết 15/9/2007 cho thấy: Đã tiến hành phúc tập 84%

số tờ khai hải quan; số tiền đã ra quyết định truy thu 17,9 tỷ đồng; số tiền đã thu được là 12,16 tỷ đồng Các Cục Hải quan đã tổ chức phúc tập đạt tỷ lệ cao, tính bình quân đạt 84% so với số hồ sơ phải phúc tập Tổng số cuộc kiểm tra sau thông quan là 188 cuộc, trong đó: kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan 175 cuộc; tại trụ sở doanh nghiệp 13 cuộc Tổng số đã phát hiện được 67 doanh nghiệp vi phạm với số tiền phải truy thu khoảng 24,8

tỷ đồng; số tiền đã truy thu khoảng 24,5 tỷ đồng; số liệu của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, chỉ có 1.041 tờ khai Hải quan có vi phạm về thủ tục thuế ( chiếm tỉ lệ 0,06%)

Trang 6

Những kết quả trên cho thấy, Luật QLT đã tạo hành lang pháp rõ rang góp phần nâng cao ý thức của người dân về việc chấp hàn nghĩa vụ thuế Với nội bộ ngành thuế, việc áp dụng Luật Quản lý thuế đã tạo điều kiện để cơ quan quản lý thuế các cấp được tổ chức lại theo mô hình quản lý theo chức năng; Cán bộ công chức thuế được bố trí, sắp xếp lại, được đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên sâu trong từng lĩnh vực Theo đó, về thanh tra thuế, đã dựa trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin, đánh giá mức độ tuân thủ và xác định rủi ro phân loại doanh nghiệp để quyết định việc thanh tra thuế đối với từng trường hợp có vi phạm pháp luật thuế hoặc có rủi ro về thuế Việc thực hiện thanh tra theo quy định của Luật QLT vừa tập trung được nguồn lực để thực hiện công tác thanh tra đúng đối tượng theo sự phân loại tốt, chưa tốt, dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật, nhằm chống thất thu về thuế có hiệu quả hơn, và đặc biệt không làm phiền những trường hợp đã thực hiện tốt pháp luật thuế Kết quả này thể hiện rõ qua con số: năm 2007, tổng số doanh nghiệp toàn ngành đã tiến hành thanh tra và kiểm tra tăng khoảng 25% so với năm 2006 nhưng số thuế truy thu tăng gấp 1,3 lần so với cùng kì năm

2006 Đối với chức năng quản lý nợ, trên cơ sở những điều chỉnh của Luật QLT, ngành thuế đã xây dựng bộ máy quản lý nợ từ trung ương đến địa phương đã phân tích được nguyên nhân nợ và tình trạng nợ trong toàn ngành, từ đó triển khai các biện pháp đồng bộ

để xử lý dứt điểm nợ cũ, giảm thiểu nợ mới phát sinh, áp dụng các biện pháp cưỡng chế

để thu hồi nợ

Trong thời gian đầu triển khai thực hiện Luật QLT, sự phối kết hợp giữa cơ quan thuế với các tổ chức, cá nhân có liên quan bước đầu đã đạt kết quả nhất định trong việc cung cấp thông tin và quản lý thuế Theo đó, Tổng cục Thuế và Tổng cục Cảnh sát nhân dân đã sửa đổi bổ sung để có quy chế phối hợp mới phù hợp với quy định của Luật QLT;

Bộ Tài nguyên Môi trường đã phối hợp xây dựng Thông tư liên tịch về liên thông một cửa trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà ở; Bộ Tài chính - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao phối hợp xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn việc thông báo, gửi, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến người phạm tội, cá nhân và tổ chức vi phạm, nhằm đảm bảo phục vụ cho công tác phòng, chống, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong các lĩnh vực xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh và quản lý thuế Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan phối hợp với ngân hàng xây dựng Thông tư liên tịch về việc cung cấp trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế với ngân hàng và tổ chức tín dụng, nhằm phát hiện nhanh các trường hợp tổ chức có dấu hiệu mất khả năng thanh toán để ngăn ngừa các hành vi trốn thuế, ngược lại, khi phát hiện kinh doanh có dấu hiệu phá sản, giải thể, cơ quan thuế chủ động để ngân hàng kịp thời thu hồi nợ đã cho vay

Như vậy, có thể khẳng định rằng, Luật QLT từ khi có hiệu lực cho đến nay, với sự

nỗ lực của toàn ngành tài chính và ngành thuế, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan,

Ủy ban nhân dân các cấp, công tác QLT đã có những chuyển biến tích cực và mang lại hiệu quả quản lý cao

Trang 7

Tuy nhiên, bên cạnh nhứng thành tựu đã đạt được thì việc quy định cũng như thực thi pháp luật QLT vãn còn nhiều tồn tại, bất cập, tạo thành những “ hạt sạn ” trong pháp luật QLT:

1.1: Những tồn tại, bất cập trong pháp luật QLT:

Thứ nhất, về nguyên tắc thiết kế của Luật QLT, những người thiết kế đã sử dụng kết hợp đan xen nhiều nguyên tắc nhưng chủ yếu theo nguyên tắc trình tự thời gian, trong khi đó bộ máy quản lý thuế được thiết kế theo mô hình chức năng Điều này sẽ dẫn đến những điểm chưa thực sự tương thích giữa Luật QLT với thực tiễn vận hành của bộ máy quản lý thuế trong việc tổ chức thực hiện các luật thuế, đặc biệt, khi áp dụng cơ chế quản

lý thuế theo mô hình “một cửa” Thực tế cho thấy, việc tổ chức bộ máy ngành thuế theo chức năng dẫn đến bất kỳ bộ phận nào cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp trực tiếp làm việc, giải trình khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Song khi cần hướng dẫn để được giải quyết các nghiệp vụ cụ thể phát sinh, doanh nghiệp không biết liên hệ đến bộ phận nào và thuộc thẩm quyền trách nhiệm của ai Vì vậy, doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật thuế theo luật Chẳng hạn, việc lập và nộp hồ sơ khai thuế, các bộ phận có liên quan đều có chức năng kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp Cụ thể, hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp được thực hiện kiểm tra từ bộ phận một cửa; sau đó chuyển cho bộ phận kê khai và kế toán thuế; sau đó lại tiếp tục chuyển đến các bộ phận khác có liên quan như bộ phận kiểm tra, thanh tra, ấn chỉ mỗi bộ phận đều có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải trình, vì vậy một doanh nghiệp trong một kỳ kê khai có thể nhận được 4-5 thông báo giải trình của cơ quan thuế nhưng không biết liên hệ đến những bộ phận nào để giải quyết Hoặc về công tác thu nộp thuế, Phòng kiểm tra thuế có chức năng thực hiện kế hoạch thu thuế được giao, vì vậy có trách nhiệm đôn đốc thu thuế Tuy nhiên, Luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định rõ Phòng kiểm tra thực hiện đôn đốc thu từ ngày nào đến ngày nào, Phòng thu nợ và cưỡng chế thuế thực hiện từ khâu nào v.v

Thứ hai, Luật QLT hiện nay không chỉ quy định những vấn đề chung về tổ chức thực hiện các luật thuế, mà còn quy định cả những nội dung tổ chức thực hiện riêng của từng luật thuế (những vấn đề quản lý có tính chất đặc thù của từng sắc thuế) và điều đáng nói là số lượng của các điều luật quy định các nội dung quản lý đặc thù chiếm tỷ lệ khá nhiều, đặc biệt là các quy định quản lý về thuế xuất khẩu, nhập khẩu Vì vậy giả sử rằng, khi các luật về chính sách thuế được tiếp tục ban hành và đó là xu thế tất yếu thì đương nhiên kéo theo sự thay đổi, bổ sung của Luật QLT và theo đó, vô hình chung, đã phá vỡ tính ổn định của Luật QLT

Thứ ba, Luật QLT còn có các nội dung “lấn sân” phạm vi điều chỉnh của luật về chính sách thuế Chẳng hạn khoản 3, khoản 4, Điều 42 của Luật QLT quy định thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và điều kiện để được áp dụng thời hạn nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu:

Trang 8

“3.a) Đối với hàng hoá xuất khẩu là ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;

b) Đối với hàng hoá nhập khẩu là hàng tiêu dùng phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng; trường hợp có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp thuế không quá

ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; c) Đối với hàng hóa nhập khẩu là vật

tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu là hai trăm bảy lăm ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan; trường hợp đặc biệt thì thời hạn nộp thuế có thể dài hơn hai trăm bảy lăm ngày phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ; d) Đối với hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập là mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập; đ) Đối với hàng hoá khác là ba mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan;

4 Để được áp dụng thời hạn nộp thuế theo quy định tại các điểm c, d, và đ khoản 3 Điều này, người nộp thuế phải đáp ứng một trong hai điều kiện sau đây:

a) Có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian ít nhất là ba trăm sáu lăm ngày tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan mà không có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, không nợ tiền thuế quá hạn, tiền phạt, chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật;

b) Được tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

Trường hợp không đáp ứng một trong hai điều kiện trên thì người nộp thuế phải nộp thuế trước khi nhận hàng”.

Những quy định này thực chất thể hiện chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam và đáng lẽ ra phải được “giữ lại” ở Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005

Thứ tư, Luật QLT chưa xác định rõ cơ chế bảo đảm thực hiện, vì vậy phần nào đã hạn chế tính khả thi của các quy định trong Luật QLT và chính điều này chưa thực sự khuyến khích tính tuân thủ pháp luật của chủ thể có nghĩa vụ thuế Chẳng hạn, tại Điều

53, Luật QLT quy định trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất

cảnh “Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở

nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm dừng việc xuất cảnh của cá nhân trong trường hợp chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo thông báo của cơ quan quản lý thuế” Với quy định này, nếu không xác định rõ cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan

quản lý thuế và cơ quan công an thì chắc chắn điều luật này sẽ không có tính khả thi, bởi thực tế hiện nay, Cục thuế địa phương không thể biết đối tượng nào nợ thuế đang chuẩn

bị xuất cảnh để thông báo cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và ngược lại

Trang 9

Thứ năm, Luật QLT đã quy định trách nhiệm việc cung cấp các thông tin, tài liệu của các bên có liên quan cho cơ quan thuế và ngược lại Tuy nhiên, chỉ cung cấp khi cơ quan thuế có yêu cầu, vì vậy có rất nhiều thông tin cần thiết nhưng cơ quan thuế không biết được đầu mối để cung cấp thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin Chẳng hạn, thông tin về tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp, thường các doanh nghiệp mở rất nhiều tài khoản ở các ngân hàng thuộc các địa phương khác nhau nhưng cơ quan thuế không biết doanh nghiệp mở tài khoản ở ngân hàng nào để yêu cầu cung cấp Vì vậy, cần có quy định cụ thể trách nhiệm của ngân hàng phải thông báo tài khoản của doanh nghiệp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý khi đăng ký tài khoản

Bên cạnh đó, chế độ quy định về thanh toán tiền qua ngân hàng chưa được cụ thể

và chặt chẽ, do vậy sẽ khó khăn cho cơ quan thuế khi thực hiện thu nộp thuế qua tài khoản vì tài khoản không còn số dư tiền gửi

Thứ sáu, kỹ thuật lập pháp, lập quy trong Luật QLT chưa đảm bảo tính nhất quán,

có điều luật quy định ở dạng nguyên tắc, có điều luật quy định quá chi tiết, cụ thể mà đáng lẽ ra những nội dung đó thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản dưới luật; mặt khác còn khá nhiều quy định trong Luật QLT được chuyển dịch mang tính chất cơ học từ các luật thuế, Luật Hải quan, vì vậy ít nhiều không tránh khỏi tính chất khiên cưỡng Chẳng hạn, điểm a, điểm b, điểm c, khoản 4, Điều 32, Luật QLT quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:

“4 Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế là thời hạn nộp tờ khai hải quan:

a) Đối với hàng hoá nhập khẩu thì hồ sơ khai thuế được nộp trước ngày hàng hoá đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hàng hoá đến cửa khẩu Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký; b) Đối với hàng hoá xuất khẩu thì hồ sơ khai thuế được nộp chậm nhất là tám giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký;

c) Đối với hành lý mang theo của người nhập cảnh, xuất cảnh, thuộc diện chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, tờ khai hải quan được nộp ngay khi phương tiện vận tải đến cửa khẩu nhập hoặc trước khi tổ chức vận tải chấm dứt việc làm thủ tục nhận hành khách lên phương tiện vận tải xuất cảnh Hành lý gửi trước hoặc sau chuyến đi của người nhập cảnh được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này”.

Trong trường hợp này, quy định “Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục về thuế trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký” không chỉ rõ làm thủ tục về thuế là thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế hay quyết toán thuế?

Trang 10

Thứ bảy, một số quy định của pháp luật QLT còn nhiều thiếu sót, hạn chế, gây khó khăn trong quá trình thực hiện Chẳng hạn, trong việc nộp thuế, Luật QLT quy định nhiều thời hạn nộp thuế khác nhau theo các tiêu chí khác nhau, tùy theo mục đích nhập khẩu hành hóa để sản xuất, xuất khẩu hay tiêu dùng, hay tạm nhâp tái xuất Quy định này tuy một mặt đáp ứng được yêu cầu của tình hình thực tế trong điều kiện các doanh nghiệp còn thiếu vốn nhưng nó quá phức tạp, cơ quan Hải quan phải phân bổ nguồn lực rất lớn cho công tác đôn đốc, cưỡng chế thu nợ thuê, nợ phạt

Ngoài ra còn một số quy định trong Luật QLT chưa đảm bảo tính thích ứng với các luật, thủ tục khác trong một số lĩnh vực hành chính, kinh tế, dân sự, thương mại

1.2: Những tồn tại, bất cập trong thi hành pháp luật QLT:

Thứ nhất, theo đánh giá của các chuyên gia đầu ngành, cán bộ thuế ở các chi cục phần lớn chưa được đào tạo lại hoặc chưa nắm bắt kịp về kiến thức quản lý thuế mới nên còn bỡ ngỡ trong thời gian đầu triển khai thực hiện luật Theo quy định của Luật QLT, việc thanh tra thuế phải có thanh tra viên thuế, chuyên viên chính, kiểm soát viên chính của cơ quan quản lý thuế được thực hiện thanh tra thuế Tuy nhiên hiện nay các địa phương số lượng chuyên viên chính, kiểm soát viên chính quá ít nên chưa đủ lực lượng

để tổ chức các đoàn thanh tra thuế

Thứ hai, đối với người nộp thuế, đặc biệt là các hộ kinh doanh do kiến thức hạn chế, lại phân tán rộng trên địa bàn khác nhau nên việc tiếp cận theo phương thức quản lý thuế mới bước đầu còn nhiều khó khăn Theo các chuyên gia, vướng mắc lớn nhất hiện nay của cả người nộp thuế và cơ quan thuế là chưa có đủ cơ sở hạ tầng phục vụ việc khai thuế "điện tử" nên người nộp thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế (bản giấy) cho cơ quan thuế Tâm lý người nộp thuế nói chung là đợi đến khi gần hết hạn mới nộp hồ sơ do đó có tình trạng chen chúc tại cơ quan thuế để nộp hồ sơ khai thuế khi sắp đến hạn trong khi đó

bộ phận nhận hồ sơ khai thuế tuy đã được tăng cường nhưng ở một số cơ quan thuế chưa thể đáp ứng yêu cầu được phục vụ chu đáo của người nộp thuế, có ngày ở những đô thị lớn phải tiếp nhận đến hàng trăm ngàn bộ hồ sơ khai thuế

Thứ ba, phương thức thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến, thậm chí ngay cả các doanh nghiệp khi tiến hành thanh toán với nhau họ cũng sử dụng hình thức thanh toán bằng tiền mặt Thói quen này đã dẫn đến hoạt động quản lý Nhà nước về tiền tệ rất khó khăn Cụ thể, ngân hàng Nhà nước thì khó kiểm soát được khối lượng tiền trong lưu thông, do vậy, việc đề ra các biện pháp để ổn định giá trị đồng tiền chưa được kịp thời Hơn nữa, khi nền kinh tế chủ yếu sử dụng bằng tiền mặt sẽ dẫn đến chi phí in tiền cao, đồng thời Nhà nước rất khó kiểm soát các quan hệ mua bán hàng hóa diễn ra trên thị trường Chính sự bất cập này đã dẫn đến các đối tượng nộp thuế càng có điều kiện để trốn thuế nhất là hoạt động bán hàng hóa cho người tiêu dùng vì đây là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp

Ngày đăng: 30/01/2016, 03:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w