Trên phương diện pháp lí, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là một quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước là bên thu thuế với tổ chức, cá nhân người nộp thuế về việc tạo lập và thực
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục 0
A.Lời mở đầu 1
B.Nội dung 2
I Lí luận chung 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm và vai trò của thuế nhập khẩu 3
II Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua 4
1 Nội dung của thuế nhập khẩu 4
1.1 Chủ thể nộp thuế nhập khẩu 4
1.2 Đối tượng chịu thuế nhập khẩu 4
1.3 Thuế suất thuế nhập khẩu 5
2 Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua .5
2.1 Tổng quan về thuế nhập khẩu ở việt nam trong thời gian qua 6
2.1.1 Số lượng hàng nhập khẩu 6
2.1.2 Cơ cấu hàng nhập khẩu 6
2.1.3 Xác định trị giá tính thuế nhập khẩu 6
2.1.4 Cơ cấu thị trường nhập khẩu 6
2.1.5 Quyền kinh doanh nhập khẩu của các doanh nghiệp 7
2.1.6 Biểu thuế nhập khẩu 7
2.2 Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua 7
III Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt nam hiện nay 8
1 Yếu tố kinh tế, chính trị trong nước, quốc tế và các chính sách thương mại của quốc gia 8
1.1 Kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế 8
1.2 Chính sách thương mại quốc gia 8
2 Yếu tố áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu 9
3 Yếu tố ý thức của người nộp thuế nhập khẩu 10
4 Yếu tố chính sách ưu đãi và miễn giảm thuế 10
5 Yếu tố thuộc khâu quản lí và khai báo thu thuế 12
6 Yếu tố thuế suất thuế nhập khẩu 13
IV Một số kiến nghị và giải pháp cho những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt nam hiện nay 13
1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế nhập khẩu hiện hành 13
2 Các kiến nghị và giải pháp khác 14
C Kết luận 15
Trang 2D.Danh mục tài liệu tham khảo 16
Trang 3A.LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật còn yếu kém cùng với hệ thống pháp luật còn chưa hoàn chỉnh, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới là rất thấp Vì vậy, trong quá trình hội nhập, nhà nước phải áp dụng các chính sách bảo hộ đối với nền kinh tế để giúp các ngành kinh
tế có thể đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt của xu hướng toàn cầu hóa Vấn
đề đặt ra ở đây là bảo hộ với những ngành kinh tế nào, bảo hộ ở mức độ nào mới là hợp lý? Pháp luật thuế nhập khẩu phản ánh rõ nhất mức độ hội nhập và sự bảo hộ của nhà nước đối nới nền kinh tế Vì vậy cần thiết phải xây dựng, hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu như thế nào để vừa có thể bảo hộ đúng mức, hợp lý dựa trên năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ và các cam kết của mình với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc
tế Hay nói cách khác pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam cần phải được xây dựng
và hoàn thiện như thế nào để đảm bảo cho việc hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay đạt hiệu quả cao nhất Vì những lý do đã nêu trên nên em
đã chọn đề tài: “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật
thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các ý kiến pháp lý nhằm thực thi thuế nhập khẩu” Trên đây là những tìm hiểu của em về vấn đề nêu trên, do kiến
thức trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em mong nhận được những ý kiến đánh giá của quý thầy cô để bài viết của em được đầy đủ và hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4B.NỘI DUNG I.Lí luận chung
1 Khái niệm
Với mục đích để làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay Trước khi đi tìm hiểu vấn đề cụ thể thì ta cần phải hiểu sơ lược vấn đề về: thế nào là thuế, thuế nhập khẩu, pháp luật thuế nhập khẩu
Thứ nhất, thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân,
doanh nghiệp cho Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thứ hai, thuế nhập khẩu có nhiều cách hiểu khác nhau và tuỳ từng góc độ tiếp
cận Đầu tiên, xét về phương diện kinh tế thì thuế nhập khẩu được hiểu là khoản tiền đóng góp của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật khi họ có hành vi nhập khẩu hang hoá, dịch vụ qua biên giới của một nước Trên phương diện pháp lí, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là một quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước là bên thu thuế với tổ chức, cá nhân người nộp thuế về việc tạo lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lí cho các bên trong quá trình tiến hành thu thuế nhập khẩu Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lí là đạo luật thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lí chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho nhà nước và nghĩa vụ đóng góp thuế cho các tổ chức, cá nhân là người nộp thuế
Thứ ba, thì theo giáo trình luật thuế Việt Nam của trường Đại Học Luật Hà Nội thì pháp luật thuế nhập khẩu là danh từ pháp lí dùng để chỉ tập hợp các quy phạm
pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế…Cũng xét về mặt hình thức, pháp luật thuế nhập khẩu bao gồm các văn bản pháp luật như văn bản luật, nghị quyết, nghị định, chỉ thị, thông tư,…Ngoài ra còn xét về mặt nội dung thì pháp luật thuế nhập khẩu bao hàm các vấn đề chủ yếu như: phạm vi áp dụng, căn cứ tính thuế, trình tự, thủ tục…
Cuối cùng, Thuế NK được tính theo công thức:
Thuế NK = (Số lượng hàng NK x Giá tính thuế đơn vị) x Thuế suất
Giá tính thuế đơn vị là giá nhập tại cửa khẩu Nếu vận chuyển bằng đường biển là
giá FOB, giá CIF Giá nhập bao gồm cả chi phí vận tải và bảo hiểm tới cửa khẩu
Thuế suất là số tiền thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng tính thuế Sau khi xác
định đối tượng tính thuế là gì ta có thể xác định nội dung, cách quy định mức thuế suất
2 Đặc điểm và vai trò của thuế nhập khẩu
Thứ nhất, thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là những hàng hoá được phép
vận chuyển qua biên giới Hàng hoá ở đây là các tư liệu sản xuất tiêu dung cho con người và tư liệu tiêu dùng do con người sản xuất ra tại nước ngoài và lưu thông trên thị trường Việt nam bằng cách chuyển qua biên giới nước ta Hiện tại thì nhà nước ta không đánh thuế nhập khẩu dịch vụ nhưng khi xã hội ngày càng phát triển sẽ kéo
Trang 5theo nhiều loại hàng hoá vô hình được chuyển vào qua biên giới nước ta Những tài sản này được hình thành bằng những con đường khác nhau, và nó cũng không có phương thức kiểm soát hữu hiệu cho loại hàng hoá này
Thứ hai, pháp luật thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế
gián thu Điều này được thể hiện khi một nhà nhập khẩu nộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng bằng hàng hoá nhập khẩu đó chứ không phân phối ra ngoài thị trường thì khi đó khoản thuế nhập khẩu đã nộp có tính chất là thuế trực thu, vì người nhập khẩu
là người nộp thuế và cũng là người chịu thuế Ngược lại khi nhà nhập khẩu nộp xong thuế nhập khẩu và bán hàng hoá đó ra ngoài thị trường thì số tiền thuế nhập khẩu đã nộp có xu hướng chuyển sang cho người mua hàng chịu và do đó, khoản thuế nhập khẩu này lại có tính chất là thuế gián thu, bởi lẽ người nộp thuế và người chịu thuế không phải là một
Thứ ba, thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ nền sản xuất trong
nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu, tạo nguồn thu cho ngân sách, giảm bớt tình trạng thất nghiệp và đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế Với một số loại hàng hoá nhập khẩu tiêu dùng trong nước do bị đánh thuế nhập khẩu nên nhìn chung về mặt lí thuyết thì loại hàng hoá này trên thị trường sẽ tăng lên Trong khi đó cũng chính mặt hàng này được sản xuất trong nước do không phải chịu thuế nhập khẩu nên xu hướng rẻ hơn của hàng hoá đó là điều tất yếu, do đó nó mới có sức mạnh cạnh tranh với mặt hàng nhập khẩu Từ đó ta có thể thấy việc đánh thuế nhập khẩu thực chất là một biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước khi mà cơ quan quản lí cũng như doanh nghiệp cảm thấy không đủ mạnh hoặc có những bất lợi về chính nền doanh nghiệp và sự cạnh tranh không cân sức của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài
Thứ tư, cũng có một số quan điển cho rằng việc đánh thuế nhập khẩu quá cao
đối với một số mặt hàng nhất định là do các doanh nghiệp của ta không đủ mạnh hoặc chính phủ mô hình chung đã quá bảo hộ với các doanh nghiệp trong nước Theo tôi thì quan điểm trên là sai lầm xét về mặt lí luận cũng như thực tiễn Bởi, một quốc gia muốn phát triển thật sự bền vững và độc lập thì quốc gia đấy phải có nền kinh tế đủ mạnh để tự cung, tự cấp cho nên khi cảm thấy khi không đủ mạnh để cạnh tranh và muốn bảo hộ một cách hữu hiệu cho thị trường tiêu thụ trong nước thì quốc gia đó phải đánh thuế nhập khẩu nói chung, và với các mặt hàng đánh thuế nhập khẩu cao nói riêng Ngoài ra, xét về góc độ thương mại việc đánh thuế nhập khẩu nhằm chống lại hành vi tấn công thương mại của một số quốc gia, tổ chức khi có ý
đồ không tốt và cũng chính từ việc đánh thuế nhập khẩu sẽ phát triển ngành sản xuất trong nước và kích thích nền kinh tế phát triển
Cuối cùng, với vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, và là loại thuế dễ
thu đối với các cá nhân, tổ chức trong nước, nhằm giảm bớt được tình trạng thất nghiệp khi đánh thuế nhập khẩu cao Bởi khi đánh thuế cao một số loại hàng hoá thì chính hàng hoá đó sẽ giảm và nhà nước phải mở rộng đầu tư để phục vụ cho nhu cầu trong nước thì phải phát triển sản xuất nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động
Trang 6II Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua
1 Nội dung của thuế nhập khẩu
1.1 Chủ thể nộp thuế nhập khẩu
Được quy định tại Điều 4 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 3 Nghị định 87/2010/NĐ – CP của chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 Theo đó các đối tượng
nộp thuế bao gồm: “chủ hàng hoá nhập khẩu, tổ chức nhận uỷ thác nhập khẩu, cá
nhân có hàng hoá nhập khẩu khi nhập cảnh, nhận hàng qua cửa khẩu, biên giới Việt nam hoặc tổ chức uỷ quyền, bảo lãnh và nộp thay thế”.
1.2 Đối tượng chịu thuế nhập khẩu
Được quy định Điều 2 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 1 Nghị định 87/2010/NĐ – CP của chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 Theo đó các đối tượng
chịu thuế nhập khẩu là những đối tượng: “1 Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua
cửa khẩu, biên giới Việt Nam bao gồm: hàng hoá nhập khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu bằng đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2 Hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước”.
Và theo quy định tại Điều 3 của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005 và được hướng dẫn tại Điều 2 Nghị định 87/2010/NĐ – CP của chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 thì những đối tượng
không chịu thuế nhập khẩu gồm: “1 Hàng hoá vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển
khẩu qua cửa khẩu Việt nam theo quy định của pháp luật.
2 Hàng hoá viện trợ nhân đạo, hàng hoá viện trợ không hoàn lại …hậu quả, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh.
3 Hàng hoá từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài, hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ được sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá đưa từ khu phi thuế quan này hoặc sang khu phi thuế quan khác.
4 Hàng hoá là phần dầu khí thuộc khu thuế tài nguyên của nhà nước khi nhập khẩu”.
1.3 Thuế suất thuế nhập khẩu
Thuế suất là một trong các căn cứ để xác định nghĩa vụ thuế nhập khẩu đối với người nộp thuế và được quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 và được hướng dẫn chi tiết tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 87/2010/NĐ –
CP của chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005 Theo đó thuế suất thuế nhập khẩu được chia làm ba nhóm
Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng, gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường:
- Thuế suất ưu đãi: thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ
từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ
Trang 7thương mại với Việt Nam Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi;
- Thuế suất ưu đãi đặc biệt: thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự
do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác;
Điều kiện áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt:
Thứ nhất, phải là những mặt hàng được quy định cụ thể trong thỏa thuận đã ký
giữa Việt Nam với nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế và phải đáp ứng đủ các điều kiện đã ghi trong thỏa thuận;
Thứ hai, phải là hàng hóa có xuất xứ tại nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ
mà Việt Nam tham gia thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế
- Thuế suất thông thường: thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
2 Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua
Trong những năm qua và nhất là từ khi thực hiện cải cách thuế bước 2, từ năm
1999 đến nay thì cùng với việc sửa đổi bổ sung, ban hành, áp dụng mới các sắc thuế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, pháp luật thuế nhập khẩu nói riêng pháp luật thuế nói chung đã từng bước xây dựng và hoàn thiện Cụ thể:
2.1 Tổng quan về thuế nhập khẩu ở việt nam trong thời gian qua
2.1.1 Số lượng hàng nhập khẩu
Nhà nước áp dụng các chính sách hạn chế định lượng XNK đối với mặt hàng ô
tô, các mặt hàng điện tử, điện lạnh, phân bón, thuốc lá, thực phẩm và các mặt hàng khác; cấm nhập khẩu một số mặt hàng như xe đạp, xe hai bánh, ba bánh gắn máy cũ, các vật tư, phương tiện đã qua sử dụng Hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, quần
áo, đồ điện tử, điện lạnh, điện gia dụng, hàng trang trí nội thất, thiết bị y tế, đồ gia dụng, các sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cũng nằm trong danh mục hàng cấm nhập Nhà nước còn quy định hạn ngạch XNK đối với mặt hàng thuốc lá nguyên liệu, bông, sữa nguyên liệu cô đặc, sữa nguyên liệu chưa cô đặc, muối, ngô hạt và trứng gia cầm, Số lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ được điều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân đối giữa nhu cầu và năng lực sản xuất trong nước Ngoài ra còn có những quy định về việc cấp phép nhập khẩu tùy ý đối với một số mặt hàng
2.1.2 Cơ cấu hàng nhập khẩu
Theo cơ cấu nhóm hàng, cơ cấu nhập khẩu trong thời gian qua có những biến động giữa hai nhóm hàng là tư liệu sản xuất và vật liệu tiêu dùng Nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng giảm nhanh Trước năm 1995 tỷ trọng nhóm hàng nhập khẩu tiêu dùng giao động khoảng 13% đến 15% Từ năm 1996 đến nay thì tỷ lệ này đã
Trang 8giảm xuống một mức đáng kể và ổn định ở mức 7% đến 8 % Từ năm 2000 đến năm
2006 thì tỷ trọng hàng nhập khẩu bình quân từ 7% đến 11% Nó thể hiện sự đúng đắn của nhà nước theo định hướng giảm tỷ trọn hàng nhập khẩu phục vụ tiêu dùng, tăng tỷ trọng hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu cho sản xuất, đồng thời cũng phản ánh xu hướng, nhập khẩu góp phần phát triển và thúc đẩy sản xuất trong nước theo hướng thay thế hàng nhập khẩu tiêu dùng
2.1.3 Xác định trị giá tính thuế nhập khẩu
Nhà nước chủ trương áp dụng bảng giá tối thiểu và giá tham khảo để tính thuế nhập khẩu với một số mặt hàng: rượu vang, rượu mạnh, gạch lát, v.v…
2.1.4 Cơ cấu thị trường nhập khẩu
Thị trường nhập khẩu Việt nam đã được mở rộng trên 170 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó Châu á là thị trường có kim ngạch nhập khẩu cao nhất với 35,84 tỉ USD Châu âu là thị trường thứ hai với kim ngạch xuất nhập khẩu 5,44 tỉ USD Châu mỹ là thị trường có kim ngạch xuất nhập khẩu đứng thứ ba với 1,9 tỉ USD Còn lại là châu phi với 322 triệu USD (Số liệu trên được tính đến hết năm 2006)
2.1.5 Quyền kinh doanh nhập khẩu của các doanh nghiệp
Nhà nước quy định rõ doanh nghiệp FDI chỉ được nhập khẩu những mặt hàng quy định trong giấy phép đầu tư nhằm phục vụ mục đích sản xuất của mình Cùng với việc thực hiện cam kết của Việt nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới WTO thì tốc độ tăng của nhập khẩu cao gấp đôi tốc độ tăng của xuất khẩu
2.1.6 Biểu thuế nhập khẩu
Nhà nước ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng
2.2 Tình hình thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam trong thời gian qua
Được sửa đổi bổ sung nhiều lần xuất phát từ thực tiễn nhập khẩu hàng hóa cũng như những cam kết trong phạm vi toàn cầu, pháp luật thuế nhập khẩu đã có những đóng góp quan trọng trong trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam với các quốc gia khác Nhìn chung, luật thuế nhập khẩu đã phù hợp với các nguyên tắc và nền tảng pháp lí chung của các chế định kinh tế quốc tế, góp phần hình thành nền tảng pháp lí quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam Luật thuế nhập khẩu đã tạo nguồn thu quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước, tác động tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước
Những chính sách được đề cập ở phần tổng quan thuế nhập khẩu đã có tác động không nhỏ tới nền kinh tế đất nước Thực tế cho thấy những chính sách này được đặt
ra có rất nhiều mặt phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thời kì hội nhập
Thứ nhất, các chính sách trên giúp hạn chế những mặt hàng chỉ phục vụ cho một
số lượng người nhất định trong phạm vi toàn quốc Nếu chính phủ cho phép nhập khẩu những mặt hàng đó một cách tràn lan, không đánh thuế suất cao thì tài sản đất nước (bao gồm cả tài sản của toàn dân, của các hãng, và của nhà nước) sẽ không thể
Trang 9tập trung vào phát triển nền sản xuất Trong khi đất nước còn kém phát triển điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, Nhà nước có những qui định khắt khe về các mặt hàng như rượu, thuốc
lá, xì gà, vì đây là những mặt hàng thực tế nếu nhập nhiều sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người
Thứ ba, Nhà nước có những chính sách hạn chế nhập với những mặt hàng dệt
may, ô tô, đã góp phần làm giảm cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước Khi các doanh nghiệp trong nước chưa tạo được chỗ đứng cho mình mà nhà nước cho phép các mặt hàng này được phép nhập với thuế xuất thấp, không có hạn ngạch thì chắc chắn sản phẩm nhập sẽ tràn lan trên thị trường, các doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi và tất yếu đi và sẽ dẫn đến phá sản của một bộ phận doanh nghiệp
Thứ tư, có thể thấy rõ các chính sách như trên không chỉ đem lại nguồn thu ngân
sách cho nhà nước mà còn bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, phục vụ một số vấn
đề vĩ mô của đất nước Tuy nhiên, những chính sách này còn quá nhiều những hạn chế về việc thực thi nó trong thời gian qua
Tóm lại các chính sách như trên không kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp chuyên kinh doanh XNK, hạn chế sự phát triển một số mặt hàng, làm tăng giá cả trên thị trường, giảm tính cạnh tranh của thị trường
III Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt nam hiện nay
1 Yếu tố kinh tế, chính trị trong nước, quốc tế và các chính sách thương mại của quốc gia
1.1 Kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế
Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu
tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn đó Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chỉ
là tấm gương phản chiếu thực trạng tình hình kinh tế và xã hội trong nước và quốc tế
1.2 Chính sách thương mại quốc gia
Việt Nam đã đạt được những bước cắt giảm thuế quan rất quan trọng kể từ năm
1996 khi tiến hành gia nhập AFTA Trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực, Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế quan đối với 5.505 sản phẩm, trong đó có 80% sản phẩm cắt giảm ở mức thuế 0-5% và 20% sản phẩm ở mức thuế trên 5% Khi hiệp định thương mại Việt - Mỹ chính thức có hiệu lực, Việt Nam đã cam kết giảm thuế nhập khẩu đối với 244 mặt hàng trong vòng 3 - 6 năm với mức thuế giảm bình quân
từ 35% xuống còn 26% (trong đó có 80% là sản phẩm nông nghiệp) Cũng theo cam kết này, Việt Nam đang tiến hành bãi bỏ ưu đãi về thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá và dần dần tháo bỏ việc áp dụng chế độ thu phí và lệ phí liên quan đến hàng hoá nhập khẩu
Trang 10Chính phủ đã sử dụng một loạt các biện pháp phi thuế quan để kiểm soát và điều tiết nhập khẩu Hệ thống cấp giấy phép nhập khẩu và côta thực sự được nới lỏng khi
hệ thống danh mục hàng nhập khẩu chịu thuế được đưa vào áp dụng năm 1992 theo nghị định 114 - HĐBT Theo Nghị định này, số lượng mặt hàng nhập khẩu phải chịu quản lý bằng hạn ngạch đã giảm đáng kể, và mọi hàng hoá đều được tự do xuất nhập khẩu và chịu điều tiết bằng thuế xuất nhập, trừ danh mục hàng cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, danh mục hàng xuất nhập được quản lý bằng hạn ngạch Hiện tại, Việt Nam đang cố gắng loại bỏ hạn ngạch, côta theo đúng tiến trình thực hiện hiệp định thương mại Việt - Mỹ, hạn chế các khoản phụ phí nhập khẩu, ban hành những quy định mới về giá trị tính thuế hải quan, và mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập đối với các hình thức doanh nghiệp khác ngoài thành phần kinh tế Nhà nước
Nhưng trong thực tế, mô hình thương mại của Việt Nam trong thời gian qua có
xu hướng nghiêng về thay thế nhập khẩu Nhà nước đã khuyến khích đầu tư phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu và đa số các dự án FDI được phê duyệt là giành để sản xuất các sản phẩm phục vụ thị trường nội địa Trong xu thế giá
cả thế giới ngày càng giảm sút, xuất khẩu hàng hoá của Việt nam có nguy cơ càng sản xuất nhiều càng thua lỗ nặng Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước còn chiếm tỷ lệ khá lớn cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến mô hình thương mại của Việt nam trong thời gian qua Xu hướng bảo hộ mậu dịch đi ngược với định hướng chiến lược trong thời gian qua có nguy cơ đẩy Việt Nam đi vào thua thiệt khi tiến hành tự do hoá thương mại theo quy định của WTO
2.Yếu tố áp dụng pháp luật thuế nhập khẩu
Trong những năm gần đây, bằng quyết tâm và nỗ lực của mình, Việt nam đã tiến hành ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương với một số nước, vùng lãnh thổ và đã tham gia vào một số điều ước quốc tế có liên quan đến vấn đề tự do hoá thương mại quốc tế Hiện nay Việt nam đã ký kết hiệp 80 hiệp ước thương mại song phương và điều ước đa phương với các nước Trong đó thì có ba hiệp ước quan
trọng như là: Cam kết của Việt nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định
thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT); Cam kết của Việt nam về thuế nhập khẩu trong khuôn khổ hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Cam kết của Việt nam về thuế nhập khẩu WTO Và những thay đổi này đều được thể chế hóa thành
các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn Nhưng khi áp dụng thì không phải bất kỳ chủ thể là người thu thuế hay nộp thuế cũng áp dụng đúng theo những quy định của pháp luật hiện hành
Bởi đã nhiều năm kể từ khi cải cách thuế Việt Nam được tiến hành, bên cạnh những thành tựu đạt được thì các hạn chế vẫn còn tồn tại khá nhiều Đối với hệ thống thuế nói chung và nói riêng với thuế nhập khẩu, một điều đáng chú ý là hệ thống cơ quan hành thu còn quá cồng kềnh, số lượng cán bộ thuế nhiều mà tỷ lệ thanh tra thuế lại không đáng kể….Các khâu hành thu còn phức tạp, một số trường hợp còn xảy ra hiện tượng chồng chéo Khi áp dụng cơ chế hành thu tự khai, tự nộp do các điều