Theo đó doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.1 Theo điều 3, luật phá sản năm 200
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh, chọn lọc và đào thải được
ví như một vòng đấu khốc liệt, trong đó các doanh nghiệp, chủ thể chính của các quan
hệ kinh tế chính là các đối thủ không cân sức, kẻ mạnh thắng thế sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, còn những kẻ yếu hơn nếu không muốn bị đào thải phải chủ động tìm kiếm phương án cơ cấu, tổ chức lại nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ liên tiếp, rơi vào tình trạng bế tắc Thậm chí đã có những doanh nghiệp chấm dứt hoàn toàn mọi hoạt động
lẽ ra phải được Tòa án tuyên bố phá sản nhưng lại chọn các phương án khác như sáp
nhập, hợp nhất, giải thể doanh nghiệp Vì vậy đề tài nhóm em xin lựa chọn là: Tư vấn cho một doanh nghiệp (đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh) những nội dung pháp lý cơ bản liên quan đến thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp.
NỘI DUNG I/ Những vấn đề cơ bản về phá sản:
1 Khái niệm, dấu hiệu phá sản doanh nghiệp:
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu
quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại
cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó Theo đó doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.1
Theo điều 3, luật phá sản năm 2004 thì một doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản khi: Điều 3: Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.
1 http://khanhanlaw.com/public/chitiettintuc.aspx?idnew=11S3JD129T&idcateNew=1S3JD&titles=Ph
Trang 2Và theo hướng dẫn tại mục 2 Phần I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một
số quy định của Luật Phá sản, thì doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có các khoản nợ đến hạn: Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm); đã rõ ràng; được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp;
- Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn, nhưng doanh nghiệp, hợp tác
xã không có khả năng thanh toán Chủ nợ yêu cầu phải có căn cứ chứng minh là chủ
nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã…) Do vậy, đối với chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi:
+ Có khoản nợ đến hạn;
+ Chủ nợ đã yêu cầu;
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ không có khả năng thanh toán
Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nêu trên, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết như sau đã khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn như :
Các phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm
Có biện pháp xử lý hàng hoá tồn kho, vật tư tồn đọng
Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng
Thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm nợ, xoá nợ
Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay mới để trang trải nợ cũ và đầu tư đổi mới công nghệ
Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nêu trên mà vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải được xử lý phá sản theo quy định của pháp luật
Trang 3Như vậy, dấu hiệu pháp lý căn bản của tình trạng phá sản là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, phá sản là bước cuối cùng sau khi doanh nghiệp đã tìm các biện pháp
để cứu vãn tình hình nhưng không thành công
2 Phân loại phá sản:
Căn cứ vào tính chất của sự phá sản thì phá sản gồm: Phá sản trung thực: Là sự phá sản do nhựng nguyên nhân có thực gây ra Và phá sản gian trá : Là sự phá sản do người kinh doanh sắp đặt trước bằng những thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ nợ
Căn cứ vào đối tượng đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản gồm; Phá sản tự nguyện: Là do phía doanh nghiệp tự đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản khi thấy mình mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và không còn cách nào để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn đó Và phá sản bắt buộc: Là do chủ nợ đệ đơn yêu cầu toà án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ, bản thân doanh nghiệp không muốn bị tuyên bố phá sản
3 Phá sản theo quy định của Luật phá sản năm 2004
3.1 Phạm vi áp dụng
Theo Điều 2, khoản 1 luật phá sản năm 2004 thì phạm vi áp dụng với các đối
tượng cụ thể như sau: Điều 2 đối tượng áp dụng
1 Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại mục 1,Phần II Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số
quy định của Luật Phá sản thì đối tượng cụ thể là: Công ty nhà nước; Công ty trách nhiệm hữu hạn ; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội; Hợp tác xã; Doanh nghiệp liên doanh…
Như vậy phạm vi áp dụng của luật phá sản là rất rộng, bao gồm tất cả các loại
hình kinh doanh được đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam.
3.2 Đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Trang 4Luật phá sản của nước ta quy định chỉ các chủ thể sau đây mới có quyền hay nghĩa vụ làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản DN, HTX:
3.2.1 Chủ nợ (Điều 13)
Pháp luật về phá sản được đặt ra trước hết là nhằm bảo vệ các chủ nợ Do vậy, đối tượng đầu tiên được pháp luật qui định có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
là chủ nợ Tuy nhiên, chủ nợ có bảo đảm không được quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Vì vậy, Điều 13 Luật phá sản 2004 qui định chỉ có các chủ nợ sau đây mới có
quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã:
- Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba
- Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của
doanh nghiệp, HTX hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó
Điều kiện để các chủ nợ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là sau thời gian 30 ngày kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được thanh toán Các chủ nợ khi làm đơn phải nộp lệ phí
3.2.2 Người lao động (Điều 14)
Luật phá sản đã cho phép người lao động có quyền được làm đơn yêu cầu Tòa
án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã nơi họ đang làm việc với điều kiện: doanh nghiệp, hợp tác xã không trả lương, các khoản khác khi đến tháng và người lao động nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Như vậy, điều kiện để người lao động được làm đơn:
- Tính chất là nợ lương, các khoản khác lương;
- Không tính đến thời hạn nợ lương là bao lâu;
- Có văn bản thể hiện ý chí chung của tập thể người lao động về việc đưa doanh nghiệp, hợp tác xã ra Tòa án để giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản (Ví dụ: Nghị quyết của Công đoàn)
3.2.3 Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản (Điều 15)
Theo Khoản 1 Điều 15 Luật phá sản 2004 thì sau khi phát hiện mình đã lâm
vào tình trạng mất khả năng thanh toán và mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết
Trang 5mà vẫn không thoát khỏi tình trạng đó thì chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản, nếu không thì phải chịu trách nhiệm theo qui định của pháp luật
Như vậy, so với các chủ nợ thì làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền Vì vậy, tại
Khoản 5 Điều 15 Luật phá sản 2004 có quy định: “Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi
nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.”
Như vậy bản thân doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản có thể đứng trước nguy
cơ bị chủ nợ hay người lao động của doanh nghiệp đó nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản lên cơ quan Tòa án có thẩm quyền
3.3 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản thuộc về tòa án Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó
Trong trường hợp cần thiết Toà án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện Tòa
án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được quy định cụ thể trong điều 7, luật phá sản năm 2004
II/ Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp
1 Nộp đơn, thụ lý đơn và điều tra về khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp
Các đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp gửi đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp Nếu là chủ nợ: kèm theo đơn phải có bản sao giấy
Trang 6đòi nợ, các tài liệu liên quan đến việc giải quyết tranh chấp các khoản nợ, các tài liệu chứng minh tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Nếu là doanh nghiệp mắc nợ: kèm theo đơn là các tài liệu như danh sách chủ nợ, báo cáo tình hình kinh doanh
06 tháng trước khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; báo cáo quyết toán và thuyết trình chi tiết tình hình tài chính 02 năm cuối; báo cáo về các biện pháp tài chính cần thiết đã áp dụng để khắc phục Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải
chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật, theo quy định tại khoản 5, điều 15 luật
phá sản năm 2004.
Toà án thụ lý đơn phải vào sổ và cấp cho người nộp đơn giấy báo đã nhận được đơn Trong 7 ngày kể từ ngày thụ lý, toà án phải thông báo cho doanh nghiệp mắc nợ biết kèm theo bản sao đơn và các tài liệu khác có liên quan Theo quy định của pháp
luật tại khoản 1 Điều 7 Luật phá sản năm 2004, doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu
cầu giải quyết phá sản đến tòa án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp
2 Mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp
Điều kiện mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp :
Doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn do hai lý
do là gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp phải chứng minh được các khoản thua lỗ là đúng, là hợp pháp, không có dấu hiệu của phá sản gian trá
Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Nếu là doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và dịch vụ công cộng quan trọng phải có ý kiến bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ hoặc của thủ trưởng cơ quan nhà nước đã ra quyết định thành lập doanh nghiệp về việc không
áp dụng các biện pháp cần thiết phục hồi khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp
Trang 7Có hồ sơ yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp hợp lệ, bao gồm đơn, bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
Có chứng từ chứng minh người nộp đơn đã nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật
Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, chánh toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh phải xem xét và ra một trong 2 quyết định:
Quyết định không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, nếu xét thấy không đủ căn cứ
Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản trong đó ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ của doanh nghiệp, chỉ định thẩm phán và tổ chức quản lý tài sản để giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Trong quyết định này phải nêu rõ lý do mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ của doanh nghiệp; họ tên của Thẩm phán phụ trách và các nhân viên Tổ quản lý tài sản được chỉ định
Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản được quy định cụ thể trong điều 28 luật phá sản năm 2004
3 Hội nghị chủ nợ và khôi phục lại doanh nghiệp:
3.1 Hội nghị chủ nợ.
Hội nghị chủ nợ đóng vai trò quan trọng, là điều kiện tiên quyết để có thể tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Hay nói cách khác, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh chỉ được áp dụng nếu thẩm phán triệu tập được hội nghị chủ nợ để thông
qua nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh (Điều 68
Luật phá sản) Hội nghị chủ nợ do thẩm phán triệu tập để giải quyết các nội dung quy
định tại Điều 64 Luật phá sản
3.2 Phục hồi hoạt động kinh doanh
Phục hồi kinh doah là một thủ tục độc lập mà thẩm phán có thể quyết định áp dụng hay không áp dụng sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Trang 8Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi
hoạt động kinh doanh được quy định tại Điều 68 Luật phá sản Theo Luật phá sản, để
áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật phá sản, cần phải có điều kiện:
- Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất được tổ chức thành công
- Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Khi Hội nghị chủ nợ thông qua Nghị quyết, thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết, doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình và nộp cho Tòa án Nếu doanh nghiệp cần phải có thời gian dài hơn thì phải
có văn bản đề nghị thẩm phán gia hạn (thời gian gia hạn không quá 30 ngày) Trong thời hạn nói trên, bất kỳ chủ nợ hoặc người nào nhận nghĩa vụ phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều có quyền xây dựng dự thảo phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp và nộp cho Toà án
Nội dung phương án phục hồi hoạt động doanh nghiệp Theo điều 69 Luật phá
sản, trong phương án phục hồi hoạt động, doanh nghiệp cần phải nêu rõ các biện pháp
cần thiết để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ Các biện pháp cần thiết để phục hồi hoạt động kinh doanh gồm có: huy động vốn mới; thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; đổi mới công nghệ sản xuất; tổ chức lại bộ máy quản lý; sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất; bán lại cổ phần cho chủ nợ; bán hoặc cho thuê tài sản không cần thiết và các biện pháp khác không trái pháp luật Ngoài ra, phương án phục hồi phải ghi rõ các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ
Xem xét, thông qua phương án phục hồi Thẩm phán xem xét phương án phục hồi trong thời hạn 15 ngày Sau đó đưa ra quyết định đưa phương án ra Hội nghị chủ
nợ hay sửa đổi bổ sung phương án trong trường hợp phương án chưa đảm bảo nội
dung (Điều 70 Luật phá sản).
Trang 9Nếu nội dung phương án phù hợp thì Thẩm phán triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét, thông qua
Công nhận nghị quyết về phương án phục hồi và giám sát thực hiện phương án phục hồi Sau khi hội nghị chủ nợ thông qua phương án, thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi doanh nghiệp và quyết
định này có hiệu lực với tất cả các bên có liên quan (điều 72 Luật phá sản)
Phương án phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có cơ chế giám sát quy định tại
điều 73 Luật phá sản Ở giai đoạn doanh nghiệp thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh, tổ quản lý, thanh lý tài sản bị giải thể (khoản 1) Sáu tháng một lần, doanh nghiệp phải gửi cho Tòa án báo cáo tình hình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn chịu sự giám sát của chủ nợ trong việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
Thời hạn thực hiện phương án phục hồi “Thời hạn tối đa để thực hiện phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là ba năm, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Toà án công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, hợp tác xã.” (điều 74 Luật phá sản).
Trong quá trình thực hiện phương án phục hồi, các chủ nợ và doanh nghiệp có thể thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
4 Tuyên bố phá sản và phân chia tài sản của doanh nghiệp:
4.1 Quyết định tuyên bố phá sản
Thẩm phán Toà kinh tế cấp tỉnh có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong các trường hợp:
Doanh nghiệp mắc nợ không có phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh khi có đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp của chủ nợ và toà án đã có quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không có mặt ở hội nghị chủ nợ để trình bày phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh
Trang 10 Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án hoà giải và giải pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hết thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp vẫn kinh doanh không có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Trong thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng những thoả thuận tại hội nghị chủ nợ và chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản
Trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ trốn hoặc bị chết và người thừa kế từ chối thừa kế hoặc không có người thừa kế
Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp được gửi đến chủ nợ, doanh nghiệp bị phá sản và Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp
Quyết định tuyên bố phá sản có thể bị khiếu nại (đối với các chủ nợ và doanh nghiệp
bị tuyên bố phá sản) và kháng nghị (đối với Viện kiểm sát) Thời hạn khiếu nại và kháng nghị là 30 ngày kể từ ngày có quyết định
Quyết định này phải được đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp Thời hạn đăng báo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực
4.2 Phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
Việc phân chia tài sản của doanh nghiệp được tiến hành sau khi đã xác định rõ tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp gồm:
- Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có trong doanh nghiệp
- Tiền hoặc tài sản góp vốn liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp hoặc
tổ chức khác
- Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt
- Tài sản đang cho thuê hoặc cho mượn
- Các quyền về tài sản